Mặt trời độ lượng- Lê Văn Truyền

alt

Chân núi

mặt trời độ lượng

một dãy mồ

Taneda Santoka (1882-1940)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Trong cuộc sống bận rộn hàng ngày, liệu có lúc nào ta để tâm đến một câu hỏi: Trái Đất này, ngôi nhà chung của chúng ta, sẽ như thế nào nếu không có Mặt Trời? Ánh sáng mặt trời - nguồn năng lượng mặt trời - là yếu tố xúc tác cho mọi phản ứng hóa học và quá trình vật lý tạo nên sự sống của vạn vật, của muôn loài và các nền văn minh trên Trái Đất. Không có ánh sáng Mặt Trời, Trái Đất không có sinh vật, không có con người - loài động vật thông minh (Homo sapiens) chúng ta. Khi đó, Trái Đất đẹp đẽ sẽ là một tinh cầu chết, lạnh lẽo, lụi tàn trong bóng tối triền miên, trong một Hố Đen vô biên, vô tận.

Mặt Trời tuy có quyền lực siêu nhiên, quyết định sự sống chết của muôn loài, nhưng sự khác biệt của quyền lực Mặt Trời so với các thứ quyền lực tinh thần và vật chất khác do con người tạo ra dưới ánh Mặt Trời chính là ở chỗ: mặt trời rất công tâm. Từ các bậc vua chúa đến kẻ cùng mạt trong xã hội, sinh ra dưới ánh mặt Trời, đều được hưởng những ân phúc như nhau do mặt trời độ lượng ban phát. Nói theo ngôn ngữ thương mại quốc tế hiện đại, Mặt Trời cấp cho hơn 6 tỷ sinh linh trên Trái Đất cùng một mức “hạn ngạch (quota) ân sủng” như nhau. Anh hùng hay tiểu nhân, vua chúa hay kẻ cùng đinh, người giàu có nứt đố đổ vách sống trong cung điện bằng vàng nguy nga, tráng lệ hay kẻ nghèo hèn cùng cực sống trong túp lều tranh dột nát … chẳng qua là do nhân thế tạo ra chứ không phải do Mặt Trời thiên vị.

Rồi cho đến khi chúng ta từ giã cõi trần, Mặt Trời vẫn mỉm cười công tâm, độ lượng hàng ngày vẫn ấm áp chiếu dọi cho những nấm mồ của mỗi chúng ta nằm cạnh nhau trong bãi nghĩa địa dưới chân núi, dù ta đã từng là người anh hùng vĩ đại hay một kẻ khốn cùng, đã từng là tỷ phú được Forbes xếp hạng là 1 trong 100 người giầu nhất thế giới hay là một kẻ làm thuê thất nghiệp, đã từng là quan tòa thượng thẩm hay là tên tù khổ sai …

Câu nói “dưới ánh mặt trời ai cũng có một chỗ đứng” thật đúng khi ta còn sống và vẫn đúng cả khi ta đã chết. Taneda Santoka đã chuyển hóa ý tưởng minh triết trên đây của dân gian thành một khúc haiku nhẹ nhàng nhưng thật sâu sắc và có phần … dí dỏm. Kính thưa quý vị, chết là … hết chuyện. Vậy nên, xin quý vị đừng tị hiềm nhau sau khi đã chết bằng những thứ hư ảo. Xin hãy đừng nhìn sang bên cạnh mà buồn phiền tại sao nấm mồ của hắn, tấm bia của hắn to hơn của mình. Xin hãy bình tâm, an lạc tận hưởng gió mát, trăng thanh, nắng vàng rực rỡ, tiếng chim lảnh lót mỗi buổi sớm mai, tiếng dế nỉ non trong đêm tối … mà Mặt Trời độ lượng và công bằng đã ban phát cho nấm mồ của ta mỗi ngày.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Hoa bên bàn tiệc- Lê Văn Truyền

alt

Tiệc tan

sót lại trên bàn

bông hoa rũ cánh

Vân Đình

Trong giới quý tộc ngày xưa và trong xã hội phát triển ngày nay, ăn uống không còn đơn thuần là nhu cầu cơ bản để bảo đảm sự sinh tồn, là một trong “tứ khoái” bản năng của con người, mà đã được nâng lên thành nghệ thuật: nghệ thuật ẩm thực. Người ta không chỉ ăn, uống mà nhu cầu tiêu hóa phải đi kèm với nhu cầu nghe (nhạc), nhìn (ngắm hoa) và thưởng thức mùi (khứu giác), vị (vị giác). Nhân danh nghệ thuật, các nhà kinh doanh ẩm thực đã nghĩ ra không biết bao nhiêu tuyệt chiêu để lôi kéo các “thượng đế” đến với nhà hàng của mình không chỉ đơn giản để ăn, uống mà còn để thỏa mãn tất cả các giác quan trời ban cho con người.

Bàn tiệc đương nhiên phải có hoa để thõa mãn thị giác và kích thích vị giác. Các nghệ nhân ẩm thực sắp xếp, trang trí món ăn như những đóa hoa, thậm chí trên đĩa thức ăn còn điểm xuyết những bông hoa thật. Và ở một vài nước Phương Đông, người ta còn nghĩ ra một độc chiêu vô tiền khoáng hậu: bầy biện thức ăn không phải trên bàn tiệc đầy hoa mà trên cả một “tòa thiên nhiên” nõn nà với những bông hoa đặt trên các bộ phận nhậy cảm nhất. Việt Nam ta cũng tỏ ra không kém cạnh, thậm chí còn nổi trội hơn người trong thời đại “hiện đại hóa” và “hội nhập” này. Trong các nhà hàng ở nước ta hiện nay, bên cạnh trang trí các bình hoa, các ông chủ còn tuyển dụng các “bông hoa di động” để phục vụ đám thực khách trọc phú mới nổi nhiều tiền, lắm của.

Rõ ràng, dù chi trả bao nhiêu tiền, dù hoa đẹp đến đâu, thực khách cũng không bao giờ ăn những đóa hoa. Vì vậy, khi tiệc tàn, những bông hoa héo rũ bên những đĩa thức ăn ê hề, vương vãi còn lại. Và, những “bông hoa di động” đáng thương của chúng ta cũng héo rũ không kém sau những trò rững mỡ điên khùng của đám thực khách đã chi bạo cho những cuộc truy hoan. Thông qua hình ảnh những “bông hoa rũ cánh” còn sót lại trên bàn tiệc, khúc haiku của Vân Đình thể hiện một cái nhìn đầy cảm thán đối với bao nhiêu số phận “em gái nhà hàng”, những “bông hoa di động” đáng thương trong xã hội ngày nay của chúng ta.

Lê Văn Truyền

Lòng từ bi- Lê Văn Truyền

alt

"Này bông sen trắng, ta sẽ hái đây

sư ông băn khoăn

nhìn kìa, điệu bộ

Buson Tanaguchi – Yosa (1716 – 1783)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Lòng từ bi, vị tha, yêu thương và quý trọng sự sống là tinh thần cao đẹp nhất mà hầu hết các tôn giáo thường đề cập trong giáo lý của mình. Tinh thần vị tha theo đạo Phật không dừng lại ở mức độ yêu thương con người mà còn mở rộng ra tất cả muôn loài. Đạo Phật thường được gọi là “Đạo từ bi”, bởi lẽ giáo lý và hành động thiết thực của Phật giáo nhắm mang đến sự an lạc, bình yên cho hết thảy chúng sinh. Theo nhà Phật, chúng sinh được phân chia làm hai loại: chúng sinh hữu tình là tất cả động vật có sinh mạng, bao gồm cả con người, và chúng sinh vô tình là những loài không thuộc các loài chúng sinh hữu tình, ví như cây cỏ. Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học trong mấy chục năm gần đây cho thấy hình như giới thực vật cũng có tri giác, tình cảm dù ở những hình thức rất sơ khai. Ingo Swann, môt nhà sinh học trong quyển sách ‘’The Real Story” (Chuyện Có Thật) xuất bản năm 1998 đã viết rằng: “Những nghiên cứu của Backster bắt đầu vào năm 1996 đã gần như tình cờ khám phá rằng thực vật có khả năng tri giác và đáp ứng tự nhiên những cảm xúc của con người ... Những cây cỏ bạn trồng và chăm sóc có thể biết là bạn đang nghĩ gì”.

Thế nên nhà sư trong khúc haiku trên đây đang đứng trước thế lưỡng nan. Thấy bông hoa sen trắng tinh khiết trong hồ sen, sư ông muốn hái để dâng lên cúng dường Đức Phật. Nhưng nghĩ đến đạo từ bi, nhà sư lại băn khoăn không muốn làm đau hoa và sợ phạm giới “sát sinh”, mặc dù trước đó đã hùng hồn cảnh báo đóa sen trắng “ta sẽ hái đây”. Điệu bộ do dự, băn khoăn, mâu thuẫn giữa lời nói và hành động của nhà sư lúc ấy chắc trông rất buồn cười và khoảnh khắc đáng yêu đã được Buson “ghi hình” trong khúc haiku dễ thương trên đây. Tôi thì cứ nghĩ, nếu Đức Phật thần thông được chứng giám “kịch bản” này chắc hẳn Ngài cũng rất vui lòng khuyên nhà sư hãy để đóa sen trắng được khoe sắc tự nhiên trong hồ sen mà đừng ngắt bông hoa để trưng bày trong đại điện. Đức Phật đã từng dạy rằng sự tôn kính sâu sắc, thành kính nhất là tại tâm chứ không phải bằng sự cúng dường.

Bỗng nhớ lại một sự kiện cách đây vài năm trước ở nước ta. Trong một ngày đẹp trời, quan đầu tỉnh của thành phố nọ hơn 1.000 năm tuổi, vốn được tự hào công bố trước bàn dân thiên hạ là “thành phố hòa bình”, “thành phố xanh”, đã không ngần ngại ra lệnh chặt hạ gần chục ngàn cây xanh, nhiều cây có tuổi đời gần 100 năm, để thực hiện một hợp đồng khủng trồng cây thay thế. Cương quyết đốn hạ gần vạn cây để đổi mới mầu xanh cho thành phố, quan đầu tỉnh được giới “facebooker” cả nước yêu mến tặng cho một “nickname” thật dễ thương “Quan Thay Cây” lưu truyền cho hậu thế.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt - Hà Nội

Như tiếng thở buồn- Hồ An Thạch

alt

"cuối thu gặp lại

sắc vàng tê tái

trận càn heo may"

(Nguyễn Thánh Ngã)

Trong cuộc rong chơi bất tận, Nguyễn Thánh Ngã là nhà thơ bụi bặm nhất. Anh thường làm thơ bằng bất cứ loại giấy gì khi có được, và mau chóng quên đi. Tôi là kẻ "giữ chùa" những bài thơ được ném ra khỏi cuộc chơi, trong đó có nhiều bài thơ hay của kẻ giang hồ thi sĩ họ Nguyễn kia.

Đời người, hưng vượng nhất là mùa xuân. Bao nhiệt huyết đổ dồn vào tuổi xuân, để làm nên sự nghiệp. Khi đến mùa thu của cuộc đời, người ta thường ngồi nhìn lại. Tuy nhiên, dòng chảy cuộc đời mỗi người có khác. Đối với Nguyễn Thánh Ngã thì dòng đời chảy xiết, phải vượt qua bao thác ghềnh, con thuyền không bến lênh đênh. Cho đến cuối thu, do cơ trời đưa đẩy, "người muôn năm cũ" mới bất chợt được gặp lại...

Vâng, "cuối thu gặp lại"...

Thơ haiku chỉ mang tính gợi, nhưng trong lời thơ kín đáo ấy, thầm chứa những tâm sự khó bề sẻ chia.

Định mệnh gì mà cay nghiệt thế?

Ở cái tuổi thu phai, mọi thứ dường như đã an bài, kỷ niệm đã ngủ yên trong tiềm thức. Vậy mà lúc này, bếp tàn tro lạnh lại được khơi dậy! Nói theo Nguyễn Du:"Tu là cội phúc, tình là dây oan", thì chúng ta đã ngầm hiểu rằng, đây là cuộc gặp mà cả hai đều không mong muốn. Vậy mà vẫn xảy ra. Ấy mới là Tạo hóa chơi "khăm" con người!

Không ai khác, người tình xưa đã chôn vùi trong ký ức, bất chợt sống lại bằng xương, bằng thịt giữa "mùa gió heo may đã về". Thật là ảm đạm, thê lương!

Hai mái đầu, ngày xưa là thế, đấng trượng phu "vai năm tấc rộng", "phận gái thuyền quyên "mặt hoa da phấn". Thì nay: "sắc vàng tê tái"!

Một tiếng thở buồn, như cơn gió lắt lay qua cành khô, mà chiếc lá đời người còn dai dẳng, thiết tha đeo bám...

Đã vậy, mà ngọn gió ấy vẫn chưa buông tha lữ khách, " trận càn heo may" một lần nữa, bổ trợ cho cái "tê tái", lại càng "tê tái" thêm, giữa lá cành hoang phế.

Đúng là quy luật "sinh lão bệnh tử" không chừa một ai, và luôn cợt đùa những thân phận nhỏ bé giữa trần ai chua chát này. Nguyễn Thánh Ngã khi làm thơ không nói riêng mình, anh đã nói giùm cho tất cả chúng ta.

Tôi đọc mà rùng mình, bởi cái già đang xồng xộc kéo đến...

Mùa An cư 2018

H.A.T

Ý kiến tại hội ngộ đầu tiên của đại diện các CLB Haiku Việt ở Nha Trang

alt

Cao Ngọc Thắng

CLB Haiku Việt- Hà Nội

BTC phân công tôi trình bày về “Haiku thiếu nhi thế giới” – một đề tài quá sức của tôi và, có lẽ, phạm vi chủ đề chưa mấy phù hợp với cuộc hội ngộ này, một cuộc hội ngộ đầu tiên đại diện những người sáng tác và nghiên cứu haiku ở một số tỉnh thành, tổ chức tại thành phố biển Nha Trang xinh đẹp và mến khách.

Cuộc hội ngộ hôm nay thực sự rất cần thiết và chắc chắn sẽ đọng lại nhiều dấu ấn sâu đậm sau một chặng đường, tuy chưa dài lắm nhưng vừa âm thầm vừa sôi nổi trong các nhóm, các CLB thơ haiku, nhằm cùng nhau thực hiện cuộc tiếp biến thơ thứ ba (thứ nhất là cuộc tiếp biến thơ chữ Hán, đặc biệt là thơ Đường luật, trải dài cả nghìn năm; thứ hai là cuộc tiếp biến thơ phương Tây, nhất là thơ Pháp, từ khi diễn ra sự tiếp xúc văn hóa Đông-Tây, mở ra phong trào Thơ Mới), để đồng thời thỏa mãn cả hai nhu cầu: tiếp thu những tinh hoa của các nền thơ (cũng tức là tiếp thu những tinh hoa của các nền văn hóa) trên thế giới, và không ngừng làm phong phú và đẹp hơn nền thơ của dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống lâu đời.

Thể thơ haiku truyền thống của đất nước Phù Tang được người Việt biết và vận dụng đơn lẻ từ những năm đầu thế kỷ 20. Phải đến đầu thế kỷ 21, việc nghiên cứu, sáng tác, dịch thuật thơ haiku ở Việt Nam mới thực sự được chú ý và lan tỏa nhanh chóng, trở thành trào lưu, đồng thời cũng nhanh chóng hội nhập với sự mở rộng thể thơ haiku ở nhiều nước trên thế giới. Năm nay, CLB Thơ Haiku Việt TP Hồ Chí Minh kỷ niệm 10 năm thành lập. Trong 10 năm vừa qua, CLB thơ haiku đầu tiên này đã có nhiều thành tựu trong sáng tác, đặc biệt là việc đưa thơ haiku vào chương trình giảng dạy ở trường phổ thông và phát triển mạnh phong trào thể hiện thơ haiku bằng thư pháp chữ Việt. Tại cuộc hội ngộ này, chúng ta tưởng nhớ một trong những người có công thúc đẩy trào lưu sáng tác, giảng dạy và sáng lập CLB Thơ Haiku Việt tại TP mang tên Bác Hồ Kính yêu – đó là GS Lưu Đức Trung, một haijin có nhiều bài thơ haiku Việt mẫu mực. Sau đó 2 năm, ở Thủ đô Hà Nội, từ CLB Thơ Hải Thượng, một nhóm nhà thơ, đứng đầu là bác sỹ Đinh Nhật Hạnh, đã nhóm họp thành CLB Thơ Haiku Việt Hà Nội. Mặt mạnh của CLB này, ngoài sáng tác, đã hội tụ đông đảo những người nghiên cứu sâu thể thơ cực ngắn, cụ thể đã tổ chức hai cuộc tọa đàm có tính chuyên nghiệp và đạt kết quả nhất định, có tác dụng thu hút sự quan tâm của đông đảo người yêu thích thơ haiku, trong đó có sự hội tụ của nhóm thơ haiku Khánh Hòa, tiếp đến là nhóm haiku Đất Cảng Hải Phòng, cùng nhiều thành viên khác trong cả nước. Điểm nhấn trong hoạt động của hai CLB Thơ Haiku Việt ở TP Hồ Chí Minh và Hà Nội là việc hằng năm xuất bản Nội san, các tuyển tập sáng tác, các kỷ yếu. Việc làm này không dễ gì có ở hàng trăm CLB Thơ hiện có. Chính đó là động lực để trang web. Haikuviet.com ra đời (từ đầu năm 2017), với số lượng truy cập lớn, tính đến ngày 15-5-2018 lên tới 164.168 lượt người với nhiều mục khác nhau, đặc biệt là sự thu hút hàng trăm tác giả gửi thơ haiku dự thi đợt đầu tiên năm 2017 và tiếp tục cho đợt thi năm 2018. Sự ra đời trang web. haikuviet.com là công lao của nhóm Thơ Haiku Đất Cảng có sự phối hợp, hỗ trợ của CLB Thơ Haiku Việt Hà Nội. Tuy còn khá nhiều điều cần bổ khuyết, song trang web. haikuviet.com, nhất là cuộc thi thơ Haiku Việt lần thứ nhất, cho thấy lượng người quan tâm và yêu thơ haikuviet không ngừng tăng, chứng tỏ lực lượng sáng tác thơ haikuviet là khá lớn, có ý nghĩa không nhỏ trong cuộc tiếp biến thơ thứ ba đang diễn ra sôi nổi. CLB Thơ Haikuviet Khánh Hòa, ngoài một số tuyển tập chung, hầu như các thành viên đã xuất bản những tập thơ haiku cá nhân; về tỷ lệ đây là CLB có tác phẩm riêng cao nhất.

Khái quát tình hình hoạt động của các CLB Thơ Haiku Việt, có thể khẳng định: việc tiếp thu và vận dụng thể thơ cực ngắn từ xứ sở hoa anh đào, những người làm thơ ở Việt Nam rất chủ động, vừa tiếp nhận vừa sáng tạo, đưa tinh thần và hồn Việt vào thơ haiku một cách nhuần nhuyễn, đậm đà, có sắc thái, có nhịp điệu, mang tính cách riêng khi “đứng cạnh” thơ haiku của cộng đồng haijin quốc tế.

Qua đây cũng thấy một thực tế hiển nhiên rằng, trong quá trình tiếp nhận và biến thái, kể cả sáng tác và lý luận-phê bình, một số câu hỏi luôn luôn thường trực: thế nào là một phiến khúc haiku thực thụ?, tiêu chuẩn nào để đánh giá một phiến khúc haiku là hay? Những câu hỏi loại này hiện vẫn đang trên đường ngẫm suy, giống như bất kể thể thơ nào nói riêng và toàn thể nền thơ nói chung. Không dễ gì có câu trả lời tức thì, mà có chăng nữa thì cũng không bao giờ là bất biến. Cái đẹp rất mỏng manh trước sức sáng tạo và thưởng thức

Song, cho dù thế nào chăng nữa, đến thời điểm này, haiku được xác nhận là một thể thơ độc lập ở cấu trúc ngắn (chứ không phải là ở âm tiết), thể hiện ở “tính khoảnh khắc” của sự cảm nhận và biểu hiện, mà ngôn ngữ chỉ là phương tiện cho sự liên tưởng đến cái sâu xa và rộng mở. Cái “khoảnh khắc” của haiku vừa là sự mở đầu vừa là sự kết thúc, để làm nên một phiến khúc hoàn mỹ. Sẽ có ý kiến phản biện, rằng thơ nào mà không có “khoảnh khắc”. Đúng. Nhưng, cái khoảnh khắc ở các thể thơ khác đóng vai trò “khởi đầu” để người thơ triển khai “mạch” thơ cho đến tận cùng cái ý tưởng cần biểu đạt. Cái khác biệt căn bản so với các thể thơ khác là, thơ haiku, (chỉ ba câu hay ba dòng hay ba ý hay ba hình ảnh), rất kiệm lời, tưởng như rất dễ làm, nhưng lại vô cùng khó, càng khó hơn đối với người thưởng lãm nó. Một phiến khúc haiku hiện lên trang giấy, dù chỉ trong chốc lát nhưng thực ra nó đã được nhào luyện không chỉ bằng lao động thực tại mà bằng cả lao động quá khứ, không phải chỉ là kinh nghiệm mà bằng sự thăng hoa của sự “tức thời”. Đọc thơ haiku, kể cả của các nhà thơ truyền thống Nhật Bản cũng như của các nhà thơ hiện đại ngoài Nhật Bản, thấy độ mở của thể thơ haiku là rất lớn. “Độ mở” ấy nằm trên nền “sự tĩnh”, tĩnh từ trong tâm người sáng tạo, đòi hỏi người đọc cũng phải tĩnh. Song, tĩnh mà không tĩnh. Nó nằm ở câu mở đầu và gây bất ngờ ở câu kết, khi “nối” hai câu với nhau. Có được sự logic ấy là do vai trò của câu thứ hai. Ý và hình ảnh của ba câu, nếu tách bạch rất khác nhau, có khi chẳng liên quan gì tới nhau, nhưng đưa chúng vào một cấu trúc nhất định, do tư duy thơ của người thơ, chúng tạo nên một trường cảm nhận hoàn toàn mới mẻ. Cũng biểu tả hạt sương, ở nhiều khoảnh khắc cảm nhận khác nhau, mỗi tác giả lại đem đến cho người đọc “độ rộng” vô cùng tận của vũ trụ không giống nhau. Vì vậy, cũng là những sự vật và hiện tượng, song ở từng thời điểm xác định, ở từng góc nhìn nhất định, ở từng tâm trạng ổn định, ngay cả với một haijin, những sự vật và hiện tượng ấy được biểu cảm hoàn toàn không như chúng vốn có, vì vậy có nhiều phiến khúc haiku liên hoàn trong chuỗi chủ đề, mùa chẳng hạn. Không tuân thủ “tính khoảnh khắc”, người làm thơ haiku rất dễ rơi vào tình thế cạn nguồn sáng tạo.

Người đã từng làm thơ, trải nghiệm nhiều thể thơ khác nhau, thêm một lần thể nghiệm thơ haiku là điều dễ hiểu. Dễ hiểu nhưng không dễ làm. Lại càng không dễ khi làm thơ cho hoặc về con trẻ. Càng khó hơn đối với trẻ em làm thơ haiku. Tôi khâm phục những haijin người lớn làm thơ haiku cho trẻ em, số này chưa nhiều, như anh Lê Đình Công, anh Vũ Tam Huề. Tôi càng khâm phục hơn khi đọc thơ haiku của thiếu nhi, trong nước cũng như quốc tế. Bác Đinh Nhật Hạnh chuyển ngữ rất nhiều thơ của các haijin quốc tế, trong đó không ít thơ haiku của thiếu nhi các nước. Thơ của các em toát ra sự hồn nhiên hết sức trong trẻo, ngây thơ đấy mà không hề đơn giản. Cũng từ đó, chính các em đã phần nào trả lời những câu hỏi: thế nào là một phiến khúc haiku đích thực?, thế nào là một phiến khúc haiku hay? Xuất phát từ tâm hồn trong trẻo và tính chân thực, các em biết chọn thời điểm, góc nhìn thích hợp, tự phát hay tự giác, để thể hiện tâm trạng trong cái “khoảnh khắc” đúng lúc, khiến người đọc phải soi vào đó cho rõ sự vật hay hiện tượng tưởng như đã từng quá biết. Thơ haiku của các em không thấy dấu vết của sự câu nệ bất cứ nguyên tắc nào, cái mà người lớn vẫn thường tranh luận dài dài. Động cơ bên trong của các em duy nhất có một điều – bộc lộ cảm nghĩ của sự quan sát tức thời. Cái tức thời ấy, có thể các em không chuẩn bị cho người đọc sự liên tưởng, nhưng sự tưởng tượng của các em lại dẫn người đọc đến những liên tưởng không ngờ. Nhìn chung là như vậy. Khác với thơ haiku thiếu nhi quốc tế, thơ haiku của thiếu nhi Việt Nam có phần dung dị, chất phác hơn; điều đó nói rằng, tâm hồn của các em rất đằm thắm, rất Việt Nam, bởi các em được “tắm” trong nền thơ truyền thống đậm chất trữ tình của ca dao, của nhịp điệu lục bát, âm-thanh uyển chuyển. Sự hiện diện của thiếu nhi trong trào lưu sáng tác thơ haiku hiện nay ở nước ta là dấu hiệu đáng mừng khi nghĩ tới lực lượng bổ sung sau này trong tiến trình tiếp biến thứ ba của nền thơ đang và sẽ tiếp tục.

Tuy nhiên, không có bất kỳ một thể thơ nào duy nhất độc tôn. Bởi, mỗi thể thơ ra đời (hoặc nhập nội), phát triển đều có vị trí và vai trò độc lập của nó. Vận dụng thể thơ nào là tùy thuộc vào hoàn cảnh sáng tạo, vào trạng thái tâm lý cụ thể, và nhất là sự triển khai ý-tứ để tạo mạch thơ của mỗi tác giả. Thơ haiku không trực tiếp tải  những ý tưởng lớn, những vấn đề phức tạp. Nếu có sự đúc kết thì thơ haiku cũng chỉ dừng ở chỗ tức thời, thiên về tính chiêm nghiệm, lấy cái tĩnh mà khiến cái động lộ ra (chứ không trực tiếp nói về cái động). Sáng tác hay đọc thơ haiku khó chính là ở điểm này. Cho nên, cảm nhận cái hay của thơ haiku tùy thuộc vào hoàn cảnh, tâm trạng tiếp nhận của từng người thưởng thức cụ thể.

Có một thực tế, thơ Việt Nam, trong đó có cả thơ haiku Việt (mặc dù có thuận lợi hơn về mặt ngôn ngữ), rất khó khăn trong việc chuyển ngữ sang tiếng nước ngoài. Có lẽ do thơ Việt tính ẩn dụ cao, chữ nhiều nghĩa, nhip-điệu-vần khá phức tạp? Đây là vấn đề cần được người làm thơ haiku Việt chú ý khắc phục. Cho dù đã rất kiệm lời, song không phải không còn sự thừa chữ, hay sử dụng liên từ, giới từ, tính từ chưa thực sự chọn lọc. Những hạt sạn đó thực ra rất dễ khắc phục. Điểm nổi bật trong khoảng mười năm qua là ở sự lớn mạnh nhanh chóng số lượng người quan tâm đến thơ haiku Việt mở rộng ra nhiều địa phương trong cả nước, số lượng thơ haiku Việt sáng tác ngày càng phong phú, đa dạng và có chiều sâu; việc chuyển ngữ, nghiên cứu góp phần không nhỏ cho sự phổ biến thơ haiku rộng rãi.

Ở cuộc hội ngộ đầu tiên này, chúng ta có nhiều hy vọng vào sự phát triển của thơ haiku Việt trong thời gian tới, bởi hướng đi của các CLB rất rõ ràng, nhất quán. Ở Nội san của các CLB, trong các tuyển tập hoặc tập thơ, trong kỷ yếu các tọa đàm về thơ haiku Việt xuất bản những năm qua, đã thể hiện sâu sắc tinh thần đó, cho nên trong trao đổi này tôi không viện dẫn bất cứ một bài thơ, một ý kiến nào để làm minh họa, vì điều đó không cần thiết, mà chỉ bày tỏ mấy ý kiến tản mạn.

Trân trọng cám ơn vì có cuộc hội ngộ này mà tôi có dịp trao đổi. Và, rất mong tiếp tục được hội ngộ ở những địa điểm khác.

Kính chúc các haijin dồi dào sức khỏe !

CNT

Sắc sắc không không- Lê Văn Truyền

alt

yado no haru / nani mo naki koso / nani mo are

Yamaguchi Sodo

in my hut this Spring

there is nothing

there is every thing

mùa xuân này trong lều tôi

không có gì

không thiếu gì

Đinh Nhật Hạnh dịch

Nhà Phật có một khái niệm triết lý sâu sắc là “sắc sắc không không”, nghĩa là “có có không không”. Một cách đơn giản, ý nghĩa của cụm từ “có có không không” diễn tả mối quan hệ biện chứng giữa “không” và “”: có mà không, không mà có. Trong cuộc sống hàng ngày, dưới ánh nắng Mặt Trời, không ai là có tất cả cũng như không ai là không có gì cả. Có hay không chỉ là tương đối. Nhiều khi không có gì tức là có tất cả, và có tất cả lại là không có gì cả. Có hay không và suy rộng ra giàu hay nghèo, sang hay hèn, hạnh phúc hay bất hạnh … phụ thuộc vào cách suy nghĩ của mỗi chúng ta trước cuộc sống.

Nhà triết học Hi Lạp cổ đại Socrate có câu nói nổi tiếng: "Tôi chỉ biết một điều, là tôi không biết gì cả". Người uyên bác chính là người tự nhận mình là người không biết gì cả, để học hỏi, để trau dồi... Khi tự nhận mình là người “không biết gì”, Socrate là người “biết” rất nhiều. Và cả nhân loại cho đến ngày nay không ai dám bảo Socrate là “người không biết gì”. Đó cũng là một phần của ý nghĩa “sắc sắc không không” trong giáo lý nhà Phật.

Khúc haiku của Yamaguchi Sodo là một ví dụ tuyệt vời về cách nhìn nhận nghịch lý (paradox) đời thường và cách giải quyết nghịch lý một cách minh triết theo quan niệm “sắc, không” của nhà Phật. Yamaguchi Sodo không hề buồn phiền về cái nghèo cùng cực trong túp lều của ông, một túp lều tranh nhỏ bé, đơn sơ, ẩm mốc, dột nát … trong đó hoàn toàn “không có gì”. Niềm vui của nhà thơ khi được đón chào mùa xuân của vạn vật, của đất trời làm ông cảm thấy mình là con người quá giàu có. Ông có tất cả và “không thiếu gì” trong túp lều của ông! Khúc haiku của bậc thầy Yamaguchi Sodo há chẳng cho mỗi chúng ta một bài học thế nào là “tri túc” (biết thế nào là đủ) trong xã hội ngày nay, cái xã hội mà rất nhiều người đang “không thiếu gì”: tiền bạc đếmkhông xuể, của cải đầy nhà, quyền lực và danh vọng ngút trời, vợ đẹp, con khôn, đệ tử và thủ túc hầu hạ cúc cung tận tụy… Những người chỉ ở dưới vài người nhưng ngồi trên đầu cả triệu triệu người. Nhưng rồi … chỉ trong một nháy mắt sa cơ lỡ vận, họ bỗng trở thành người tay trắng: “không có gì”, không còn gì.

LVT

Nhìn và thấy- Lê Văn Truyền

alt

Hai người yêu nhau

ngắm nhìn đắm say

mà sao không thấy?

Những người đang yêu nhau thường có chung một ước nguyện cháy bỏng: mong được luôn luôn gần gũi bên nhau để có thể say đắm nhìn thấy người mình yêu. Nhưng nhìn thấy là một hay là hai? Nhìn thấy hay nhìn và thấy? Muốn thấy nhau chắc gì cần phải nhìn nhau và nhiều khi nhìn nhau rồi chắc gì đã thật sự thấy nhau?

Không phải ngẫu nhiên mà người ta thường nói "nhìn" và "thấy" là hai khái niệm đa nghĩa, gần gũi mà xa xôi. Đấy không chỉ là vấn đề triết lý cao xa mà còn là vấn đề nhân sinh gắn bó mật thiết với đời sống và cuộc sống hàng ngày của con người. Có người nhìn và thấy. Có người nhìn mà không thấy. Đôi mắt chúng ta nhìn thế giới bên ngoài, quan sát và biểu đạt nhận thức của chúng ta về mọi sự vật và sự việc nhưng không phải lúc nào ta cũng thấy được hết bản chất của sự vật và sự việc.

Tagore viết về cái nhìn của một cô gái đối với người mình yêu:

Đôi mắt em lo âu

muốn nhìn tâm tưởng anh sâu thẳm

như ánh trăng rọi tìm nơi đáy biển

Trái tim anh bên em

như anh luôn ở bên cuộc đời em

nhưng chẳng bao giờ em hiểu hết nó đâu

Cô gái trong bài thơ của Tagore nhìn rất kỹ, rất sâu vào người mình yêu nhưng tiếc thay cô không thể thấy hết và thấu cảm trọn vẹn tình yêu của anh, trái tim của anh dành cho cô. Có người nói, để nhìn rõ sự vật và sự việc, cạnh bên đôi mắt, chúng ta cần có thêm một “con mắt thứ ba”, con mắt có thể nhìn rõ những gì là phi vật thể bên trong sự vật và sự việc với một tâm thái rộng mở, đón nhận, đầy cảm thông, đầy thương yêu và sự quan tâm đối với đối tượng ta muốn nhìn thấy. Và như vậy, ta không chỉ nhìn, thấy mà còn thấu cảm với sự vật và sự việc chung quanh ta trong cuộc sống thường nhật.

Vì vậy, người ơi! Xin hãy đừng nhìn đời và nhìn mọi người chỉ bằng đôi mắt. Hãy nhìn bằng tất cả tâm hồn, bằng trái tim, bằng sự độ lượng, lòng vị tha. Khi đó ta sẽ nhìn thấy rõ mọi điều.

LVT

Hòa thuận với thiên nhiên- Lê Văn Truyền

alt

Ngày cha tôi mất

cây cối vườn nhà

trắng giải khăn tang

Hồi còn nhỏ mỗi lần Tết sắp đến, vào ngày cúng ông Công ông Táo 23 tháng chạp, tôi sung sướng được bà ngoại sai cầm bát hồ líu tíu theo bà đi dán vàng mã ở thành giếng và cây cối ngoài vườn. Tôi thắc mắc không hiểu bà làm như vậy để làm gì. Bà tôi dạy phải dán giấy vàng cho cây để năm mới cây cối trong vườn tốt tươi, những cây cau cho buồng sai quả, gốc mít nặng trĩu trái từ gốc đến thân, cây bưởi, cây chanh lúc lỉu quả … Cái giếng cổ luôn luôn cho đầy nước ngọt, trong mát ngay cả trong những ngày nắng hạn đủ để nhà dùng và cho láng giềng sang xin mấy gánh nước uống mỗi ngày. Trong suy nghĩ của bà tôi, cây cối cũng như giếng nước trong vườn đều có “cuộc sống” riêng. Chúng biết lặng lẽ quan sát, cảm nhận cách đối xử của chủ nhà với chúng và sẽ không phụ lòng trả ơn nếu ta tử tế với chúng. Thật đúng vậy, thu nhập của bà tôi để trang trải cuộc sống hàng ngày cũng chỉ trông chờ vào sản vật của mảnh vườn bé tẹo. Buổi sáng, bà ra vườn hái mấy xếp trầu, mấy bó lá chè, quả mít, mớ chanh, thi thoảng được một buồng cau … bỏ vào rổ đem bán ở chợ đầu làng để có tiền mua vài con cá, mớ tép, đôi khi một gói “kẹo cau” bọc trong lá chuối khô để làm quà cho mấy đứa cháu … Và như vậy, rõ ràng giữa bà tôi và cây cối trong vườn tự nhiên đã hình thành một mối quan hệ bạn bè, tương hỗ, cộng sinh trong suốt cuộc đời.

Ngày cha tôi mất, sau lễ phát tang, ông anh con bác trưởng cắt những mảnh vải tang còn sót lại thành những giải khăn trắng, sai bọn trẻ mang ra vườn buộc vào cây cối, những cây cau, gốc mít, cây khế, những bụi chuối, bụi tre … Anh tôi bảo cây cối trong vườn là bạn của người quá cố, suốt bao nhiêu năm được người chăm sóc, vun trồng hàng ngày. Giữa con người và cây cối, đặc biệt là những cây lưu niên đôi khi tuổi đời còn dài hơn tuổi của người trong nhà, đã nẩy sinh một mối thâm tình. Vì vậy, phải buộc giải tang cho cây để cây được tỏ lòng biết ơn và tiếc thương người quá cố. Nếu ta quên, cây cối có thể buồn phiền và … tàn tạ theo người đã khuất.

Thiết nghĩ, ông cha ta, dân tộc ta từ hàng ngàn năm đã biết suy nghĩ và sống một cách minh triết, nhân văn, thuận thảo với thiên nhiên mà không phải đợi các nhà khoa học phương Tây mãi đến cuối thế kỷ XX mới rầm rộ cảnh báo loài người về sự tàn phá thiên nhiên và các thảm họa môi trường. Nhưng đau đớn thay, trong thời đại này chúng ta đang chứng kiến thế lực của đồng tiền đang tàn phá, hủy hoại không thương tiếc những gì ông cha ta đã chắt chiu vun đắp, gầy dựng từ thế hệ này qua thế hệ khác trong suốt chiều dài lịch sử sinh tồn của dân tộc.

LVT

Thi pháp Haiku hiện đại- thể thơ thế giới

Toshio Kimura

World Haiku số 13 – WHA, 2017

Một điểm nhìn mới về Haiku hiện đại

Haiku, ở một mức độ nào đó, tiếp nhận các đặc tính truyền thống của thơ “haikai” thời Edo (1603–1868) và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc Cách tân Haiku của Masaoka Shiki (1867–1902) vào cuối thế kỷ 19. Tuy nhiên, haiku hiện đại như là một thể thơ đương đại thì chỉ tính từ thế kỷ 20 đến thế kỷ 21, và có những đặc thù hiện đại của riêng nó. Ở đây, haiku hiện đại sẽ được xem xét trong so sánh với haiku truyền thống.

alt

Cuộc Cách tân Haiku dưới ánh sáng thời nay

Khác biệt lớn nhất giữa haiku đầu thế kỷ 21 và haiku thời trước nằm ở chỗ, ngày nay haiku không còn là thể thơ riêng của nước Nhật. Haiku trong thế kỷ này đã trở thành một thể thơ thế giới, được thưởng thức ở hàng chục quốc gia: tức là, haiku được đọc và sáng tác bằng nhiều ngôn ngữ. Từ giữa thế kỷ 20, nhiều loại hình nghệ thuật đã được toàn cầu hóa và tiến trình đó càng được đẩy nhanh với mạng internet. Theo cùng cách ấy, haiku cũng trở nên quốc tế hóa. Dẫu vậy, do thể luật của haiku mang đậm tính Nhật nên một số nhà thơ haiku Nhật theo khuynh hướng bảo thủ cảm thấy những vần thơ của Basho và các thi hào khác khi dịch sang một ngôn ngữ khác thì không còn giống với nguyên tác. Thế nhưng, họ hãy nhớ rằng chính nước Nhật cũng đã tiếp nhận nhiều loại hình văn chương, được dịch sang tiếng Nhật, từ Ấn Độ và Trung Quốc thời xưa, và từ châu Âu những năm gần đây hơn.

Lại cần nói thêm rằng, kỷ nguyên hiện đại của chúng ta không phải thời điểm gặp gỡ đầu tiên giữa haiku và thế giới. Haiku đã được giới thiệu tới châu Âu gần như cùng lúc với thời gian của cuộc Cách tân Haiku do Shiki chủ xướng. Shiki là người khởi dựng cho thể thơ haiku ngày nay. Trong thập niên 1880, ông đã cải cách haikai, thể thơ liên ca hợp tác truyền thống và là tiền thân của haiku, thành thể thơ một dòng hiện đại chỉ do một người soạn tác, và gọi nó là haiku. Shiki cải cách haiku như vậy là bởi ông cho rằng thơ haikai cũ đã trở nên sáo mòn. Tuy nhiên, nếu chỉ thuần túy vì lý do đó, ông có lẽ chỉ cần tái thiết lại haikai về đề tài, chất liệu và kỹ thuật. Nhưng sự cách tân không dừng lại ở đó; ông đã thực hiện một cuộc đại phẫu thay đổi ngay chính hình thức thơ. Dường như lý do thực sự cho việc cách tân về thể thơ nằm ở chỗ thời đại của Shiki chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ cuộc hiện đại hóa theo phương Tây. Chứng kiến xã hội Nhật đang trong đà hiện đại hóa/Tây hóa, có thể ông cảm thấy rằng nếu haikai cứ tiếp tục lối cũ thì sẽ chẳng ai còn hứng thú với nó nữa. Kết quả từ công cuộc cách tân ấy của Shiki, haiku đã nở rộ trên đất Nhật và ngày nay lan tỏa khắp toàn cầu.

Sau khi haiku được giới thiệu ra châu Âu, cho đến giữa thế kỷ 20, chỉ một số ít nhà thơ ở các nước phương Tây, có thể kể đến Ezra Pound (1885–1972), quan tâm tới thể thơ này. Phải đến nửa sau thế kỷ 20, haiku mới bắt đầu mê hoặc nhiều thi sỹ hơn nữa trên thế giới. Giờ đây, haiku đã phổ biến trên toàn cầu, và dễ thấy rằng haiku như một thể “thơ thế giới” sẽ tác động trở lại haiku Nhật gốc trong tương lai, vì mọi thứ đều trở nên toàn cầu hóa ở kỷ nguyên này. Sau tất cả, tình huống toàn cầu hóa của haiku ngày nay gần như đồng cấu với tình huống của thời Shiki; cả hai đều chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố từ bên ngoài nước Nhật. Tuy nhiên, do quá trình phát triển của haiku ôm vào nó nhiều nhân tố nội, ngoại khác nhau, không nên coi sự tiến hóa đó chỉ mang tính thụ động. Ngoài cuộc cách tân của Shiki, trong thời gian chiến tranh, haiku còn chịu tác động do cuộc đàn áp “Phong trào Shinko-Haiku (Tân hưng Haiku)” phản chiến từ phía cảnh sát, và sau Thế chiến, chịu thêm búa rìu từ bài “Luận về Haiku như một Nghệ thuật thứ cấp” của nhà nghiên cứu và phê bình văn học Kuwabara Takeo. Đây là những áp lực đến từ bên ngoài thế giới haiku, nhưng haiku đã vượt qua những phép thử đó và phát triển càng mạnh mẽ hơn.


Tính ngắn gọn

Đặc điểm của haiku là ngắn gọn. Nó là thể thơ ngắn nhất ở Nhật. Tính ngắn gọn này thường được xem có nguồn gốc từ xa xưa, nhưng trên thực tế, vào thế kỷ 17 – thời của Basho, thể haiku còn chưa tồn tại; “Haikai-no-renga” (bài hài liên ca), tiền thân của haiku, thì dài hơn rất nhiều. Haiku mà chúng ta biết, như đã nói ở trên, xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, khoảng hơn 100 năm trước, có nghĩa rằng nó ra đời như một thể thơ hiện đại. Đây là lý do vì sao haiku thường có vẻ rất hiện đại. Basho thực chất không phải một nhà thơ haiku mà là một bậc thầy haikai, ông coi trọng “hokku” (phát cú – cú 17 âm đầu của một bài haikai) cũng như người soạn ra nó, và Basho đã nâng hokku lên tầm nghệ thuật.

Trong lịch sử thơ ca cổ điển thế giới, từ Homer đến thời Trung Cổ, rồi thời kỳ đầu hiện đại, châu Âu có truyền thống sáng tác các sử thi dài, ở đó, nhà thơ nỗ lực miêu tả trạng huống của sự vật một cách kỹ lưỡng sao cho người đọc hiểu được rõ ràng. Haiku ngược lại, nằm ở thái cực kia của bức phổ. Nguyên do haiku quá đỗi ngắn có thể là vì dưới thời chính quyền Kyoto và sau đó là Mạc Phủ Edo ở Nhật, quyền lực chính trị và cùng với đó các kiểu văn hóa được hợp nhất ở kinh đô. Hệ quả là, thị dân đủ học vấn để thưởng thức haikai có thể gợi lên một hình ảnh tương đồng từ quý ngữ trong một bài thơ. Những hình ảnh này được đặt cùng nhau vào “saijiki” (Tuế Thời Ký – từ điển các từ chỉ mùa).

Trong lịch sử văn chương thế giới, thơ ca có xu hướng thay đổi từ dài thành ngắn: từ sử thi đến thơ trữ tình và gần đây là haiku. Trong thời đại của chúng ta, nhờ vào các lực hợp nhất của việc toàn cầu hóa và mạng internet, thi sỹ trên khắp thế giới có thể có chung những ý tưởng tương đồng từ một sự vật, và do đó, haiku có thể là thứ thơ ca thế giới cho nhiều kiểu người khác nhau.

Ở bất cứ ngôn ngữ nào, haiku đều rất ngắn, ít diễn tả, đối lập với truyền thống thơ ca phương Tây. Bản chất ít diễn tả của nó dẫn đến việc quan hệ giữa các từ trong một bài haiku trở nên kém rõ ràng. Người đọc phải lấp vào những khoảng trống ấy bằng trí tưởng tượng của họ. Như thế, với haiku hiện đại, việc đọc là tối quan trọng: người đọc phải tham gia vào mỗi bài haiku mà hoàn thiện nó. Nghịch lý của sự thiếu miêu tả có lẽ là một đặc điểm hấp dẫn giúp cho haiku lan tỏa rộng rãi trên thế giới.


Thể thơ

Thể chính yếu của haiku trong tiếng Nhật là 5-7-5-on (âm). Như vậy, haiku Nhật là loại thơ có thể thức cố định với nhịp điệu từ bên ngoài. Tuy nhiên, haiku trong các ngôn ngữ khác chủ yếu là thơ tự do ba dòng. Cho dù một số nhà thơ bên ngoài nước Nhật thử làm với kiểu 17 âm tiết, nhưng đó chỉ là thiểu số. Và nữa, có những người thử làm với kiểu thơ một dòng theo dạng haiku Nhật gốc, hay số khác thử với thể hai dòng hoặc hơn ba dòng, tất cả những kiểu như thế chỉ là ngoại lệ. Ta có thể nói rằng, về haiku bên ngoài nước Nhật, kiểu thơ nguyên gốc 17-on với ngoại nhịp đã chuyển hóa thành thể thơ ba dòng với nội nhịp. Thể thơ ba dòng này rất dễ nhận biết và dường như là một nhân tố khác cho việc truyền bá rộng rãi của haiku trên thế giới.

I found my / cat – one / Silent star[1]

Tôi tìm thấy

con mèo của mình

tĩnh lặng một vì sao

(Jack Kerouac)

Khi xem xét định nghĩa thế nào là haiku ở các phần lãnh thổ khác của thế giới ngoài nước Nhật, chúng ta phải thừa nhận một điều rằng nó không phụ thuộc vào kiểu thức cố định 17-on. Trên thực tế, kiểu thức của haiku thế giới khác về căn bản so với haiku Nhật gốc. Thế thì đâu là điểm chung của haiku giữa Nhật và thế giới? Có một gợi ý cho vấn đề này khi ta nhìn vào lịch sử haiku Nhật. “Haiku Tự Do” (Jiyuritsu Haiku), khoảng năm 1910, là một phong trào cách tân khác nhằm mục đích giải phóng haiku khỏi niêm luật 17-on cố định và quý ngữ.

片つ方の耳にないしよ話しに来る

Katatsukata no mimi ni naishi yo hanashi ni kuru

To one of my ears, she comes to tell a secret[2]

Nàng đến thì thầm vào một bên tai tôi điều bí mật

(Hosai Ozaki)

Haiku Tự Do đã thành công và vẫn được đọc rộng rãi trong thế kỷ 21. Điều đó cho thấy haiku không nhất thiết phải có thể cách cố định hay quý ngữ ngay cả trong tiếng Nhật. Từ sự thật lịch sử này, ta có thể rút ra một đặc điểm khác của haiku: thể thơ haiku chứa đựng một thi tính với khả năng đổi mới, thậm chí là xa rời chuẩn mẫu. Mặc dù đa số các nhà thơ haiku Nhật ngày nay vẫn sáng tác với thể cố định, dưới đây là một ví dụ về haiku tự do hiện đại viết bởi một thi sỹ cũng làm cả haiku 17-on.

Watch again / Jesus’s despair / made of rocks[3]

Nhìn lại

nỗi thất vọng của Jesus

làm từ đá

(Ban’ya Natsuishi)

Bài haiku trên trong nguyên tác tiếng Nhật được viết theo thể tự do chứ không theo thể cố định 17-on thông thường. Người đọc dễ nhận thấy ở bản dịch, không có khác biệt rõ ràng giữa haiku Nhật thể cố định với thể tự do. Tuy nhiên, thông qua nhịp điệu và chủ đề của nó, bài thơ được sáng tác hướng ra thế giới – cái thế giới vẫn đang đi tìm một tiêu chuẩn cho haiku.

“Cắt” (kire) là một yếu tố kỹ thuật. Đối với những thể thơ ngắn như haiku, kỹ thuật cắt có thể rất hiệu quả. Tại Mỹ, nó được diễn giải thành “phép đặt cạnh nhau” (juxtaposition). Ở hai bài thơ trên, mấy chỗ “nàng đến…” (ni kuru) và “nhìn lại…” (watch again) không sử dụng các lối cắt truyền thống hay đặt cạnh nhau các hình ảnh. Cho dù vậy, ta vẫn không thể kết luận đơn giản là chúng không có sự cắt. Dường như những thảo luận về kỹ thuật cắt cần có đặc điểm gì trong haiku hiện đại cho đến nay là chưa đủ. Nhưng ít nhất, ta có thể khẳng định đã có những khác biệt với phương thức truyền thống của haiku cổ điển.


Chủ đề

Trong thập niên 1910, Kyoshi Takahama, một trong số những môn đệ của Shiki đã chủ trương haiku nên là thể thơ 5-7-5-on và liên quan tới các mùa. Quan niệm đó hàm ý rằng mỗi tác phẩm haiku đều nên chứa đựng một “từ chỉ mùa”, tức quý ngữ (kigo). Hokku vốn có truyền thống sử dụng quý ngữ để gợi mở bốn mùa, và lời khẳng định của Kyoshi đặt cơ sở trên truyền thống ấy. Với nhiều nhà thơ Nhật, các chủ đề về thời tiết bốn mùa thường rất dễ hiểu và kết nối trực tiếp với đời sống của họ. Vì lẽ đó, quan niệm trên được đồng thuận rộng rãi. Tuy nhiên, bên ngoài nước Nhật lại không có từ điển các từ chỉ mùa như ở Nhật. Các nhà thơ haiku ở những nơi khác trên thế giới muốn theo truyền thống Nhật, thay vì sử dụng các quý ngữ, lại có suy nghĩ hơi khác. Họ xem haiku như một kiểu thơ về thiên nhiên. Cách nhìn này khá thông dụng ở nhiều nước. Đồng thời, tại những nước đó, nhiều nhà thơ cũng không quan tâm tới chủ đề thiên nhiên: họ viết haiku theo cảm năng của bản thân và theo các truyền thống thơ ca ở xứ sở của họ.

Hơn nữa, ngay cả ở Nhật, haiku không nhất thiết phải theo truyền thống; nó mở ra những thử nghiệm mới. Chủ đề của haiku hiện đại có thể đa dạng, không cứ về thiên nhiên, mà về toàn thể tạo hóa. Ở Nhật, mặc dù nhiều nhà thơ tiếp cận theo hướng truyền thống bốn mùa, số khác vẫn nỗ lực kế thừa tinh thần cách tân của Shiki, đi tìm những chủ đề mới khác với đề tài thiên nhiên. Vào thập niên 1930, một số thi sỹ dẫu theo thể cố định đã phát động phong trào “Tân Hưng Haiku” nói ở trên với mục đích thể hiện bất cứ đề tài nào họ muốn trong haiku. Phong trào này đã trở thành một đợt sóng mạnh mẽ.

Insist on the hairpin / in the rain / of ash[4]

Nài chiếc cặp tóc

trong làn mưa

tro

(Kakio Tomizawa)

Bài haiku này, làm nổi bật hình ảnh “chiếc cặp tóc”, thể hiện một phong cách mới. Trong khi nhiều người nghĩ haiku chỉ là một thể thơ truyền thống, những hướng tiếp cận như thế này, tiếp nối tinh thần cách tân của Shiki, có thể được xem là tương đối sớm trong lịch sử haiku.

Đa phần các nhà thơ Nhật đều viết haiku trong một dòng, haiku nhiều dòng là một thử nghiệm mới ở nửa cuối thế kỷ 20.

Holding a lyre / a nameless / god / drifted ashore[5]

Cầm cây đàn lia

một vị thần

không tên

trôi giạt vào bờ

(Shigenobu Takayanagi)

Nhà thơ xuất chúng này, trong thập niên 1970, chủ yếu viết haiku bốn dòng thay vì ba dòng; dẫu vậy, dường như ông đã dự báo trước cho sự phong nhiêu của haiku ba dòng ngày nay. Bài haiku trên không phải một phác họa về thế giới tự nhiên trước mắt chúng ta, cũng không miêu tả thời khắc hiện tại – như vẫn gọi “haiku thời khắc”. Nó cố gắng theo dấu những ký ức thơ trở ngược về tinh thần sáng tạo của thi sỹ, gợi lên một vùng đất tưởng tượng và con người nơi đó. Lối tiếp cận này, khởi đầu từ cá thể, chuyển qua những nhóm người, và vươn ra toàn thế giới, tỏ ra hiệu quả thay cho những chủ đề mùa. Thi sỹ ở khắp nơi có thể thử sức với kiểu chủ đề này bằng khả năng tưởng tượng của họ.


Đi tìm Tinh thần Haiku

Định nghĩa chính xác về thể thơ haiku trên thế giới gần như là điều không thể. Dẫu chỉ xét trong nước Nhật, ý niệm “thể thơ cố định về bốn mùa” lấy từ bách khoa toàn thư cũng không thể đem áp dụng cho toàn bộ lịch sử haiku Nhật được. Do đó, định nghĩa về haiku hiện đại ở Nhật cũng như trên thế giới nên là “một thể thơ ngắn mang tinh thần haiku truyền thống, bảo tồn những giá trị đậm chất thơ của nó, và đồng thời truy cầu những tinh thần haiku mới”. Bất cứ bài haiku xuất sắc nào cũng biểu lộ ý niệm này. Bởi thế, haiku cốt ở cái tinh thần, không phải ở hình thức: Điểm mấu chốt không nằm ở phong cách mà ở chính cái tinh thần của haiku. Vậy tinh thần haiku là gì? Quả thực, nhận định chính xác điều này cũng thật khó. Tuy nhiên, ta có thể nói rằng đó là một cảm thức mà thể thơ haiku có được từ khởi nguồn của nó, và các thi sỹ haiku có thể cảm nhận một cách vô thức. Sau tất cả, haiku có thể dung hòa cả tinh thần truyền thống lẫn cách tân.

Đinh Trần Phương dịch


[1] Jack Kerouac, Book of Haikus (Penguin, 2003), tr. 4.

[2] Hosai Ozaki, “The Sky”, Japanese Poets Collection 30 (Shincho-sha, 1969), tr. 133.

[3] Ban’ya Natsuishi, World Haiku 10 (Shichigatsudo, 2014), tr. 40.

[4] Kakio Tomizawa, “Revelation”, The World of Modern Haiku Vol. 16 (Asahi, 1985), tr. 98. Dịch sang tiếng Anh: Toshio Kimura.

[5] Shigenobu Takayanagi, “Collection of Mountains and Oceans”, Complete Works of Shigenobu Takayanagi Vol. 1 (Rippu Shobo, 1985), tr. 194. Dịch sang tiếng Anh: Toshio Kimura.

Điều cốt tử của thơ- Nguyễn Thánh Ngã

alt

ngôi nhà cũ

người bỏ đi

nhện giăng tơ khung cửa

(Lê Văn Truyền)

Từ thuở "ăn lông ở lỗ", con người đã coi trọng nơi cư trú của mình. Nơi cư trú là nơi ta được sinh ra và lớn lên, cất tiếng khóc chào đời. Tất cả đã trở thành những kỷ niệm thân yêu nhất. Ngôi nhà cũ trong bài haiku trên đây, chính là nơi cất giữ những kỷ niệm của tác giả.

Cuộc sống tự nó là một vòng quay, từ mới đến cũ. Và cứ thế, cho đến ngày "người bỏ đi". Chỉ bấy nhiêu thôi, đã nêu bật tính vô thường của cuộc sống, không có gì là mãi mãi, không có gì là tồn tại, bất biến. Nhưng nếu như thế thôi, cũng không có gì mới mẻ, vì nó là quy luật tất yếu, vốn xảy ra không ngừng trong dòng chảy bất tận của vũ trụ mà thôi.

Thơ haiku tạo ra trong nó khoảng trống. Và im lặng. Để cho độc giả tự thâm nhập khoảng trống. Và điều kỳ diệu đã xảy ra:"thơ gợi mở một thế giới nội tâm, một khoảng trống khủng khiếp khi "người bỏ đi", là lúc tâm hồn ta đang thiếu vắng...

Xác thân ta chính là ngôi nhà tâm thức. Khi tâm hồn "người bỏ đi", thì chỉ còn cái xác không hồn! Ta vong thân trong chính thân xác của ta. Đây mới là điều cốt tử của thơ. Dĩ nhiên, khi ngôi nhà không có ai chăm sóc, thì cảnh "nhện giăng tơ khung cửa" diễn ra u ám, điêu tàn; nếu không nói là nơi ma quái, rắn rết kéo nhau đến làm nơi cư trú. Lục phủ ngũ tạng ta cũng thế, bệnh tật kéo đến hành hạ, đau đớn không cùng. Ta thử tưởng tượng, một người điên sống như thế nào, thì ngôi nhà có "nhện giăng tơ khung cửa" cũng như thế ấy.

Thơ haiku nhỏ thật, nhưng chứa trong nó một năng lực phi thường. Khi được khai mở, nó sẽ như dòng nước ngầm tuôn ra tràn ngập tâm trí kẻ hữu duyên.

Vỡ lẽ, ta mới hồn nhiên kêu lên:"Ồ, thơ haiku là thế!", là những gì được giấu kín bên trong, giúp ta tỉnh thức và thực hành.

Chăm sóc ngôi nhà của chính chúng ta, cho thân tâm được an cư, an lạc, trước khi duyên tứ đại tan vỡ. Đó là những gì mà thơ đem lại trong bài haiku tuyệt hay này...

Sài Gòn 11.2017

N.T.N

Tiếng chuông, hạt sương và lẽ vô thường- Lê Văn Truyền

Tiếng chuông Thiên Mụ

gieo màn sương

trên dòng Hương

alt

Cả tuổi thơ của tôi gắn liền với làng Kim Long, vùng đất vào năm 1636 được Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan chọn làm thủ phủ đầu tiên của xứ Đàng Trong suốt 60 năm trước khi xây dựng kinh thành Huế và Hoàng cung triều Nguyễn ở Phú Xuân. Kim Long nằm bên tả ngạn Hương Giang thơ mộng và có 2 dòng sông nhỏ, sông Kim Long và sông Bạch Yến, bao quanh làng.

“Nước đầu cầu khúc sâu khúc cạn

Chèo qua Ngọc Trản đến vạn Kim Long

Sương sa gió thổi lạnh lùng

Sóng xao trăng lặn chạnh lòng nhớ nhung”

Ca dao xứ Huế

Kim Long chỉ cách chùa Thiên Mụ, tọa lạc trên một ngọn đồi nhỏ ở làng Hà Khê tách ra từ làng Kim Long, khoảng 2 cây số theo đường chim bay. Vì vậy, tiếng chuông Thiên Mụ hàng ngày vang đến tận làng Kim Long vào cái thủa mà văn minh công nghiệp chưa lan đến những làng quê (không ô tô, không đèn điện, không máy móc…). Mỗi ngày, những hồi chuông 108 tiếng kéo dài trong một giờ đồng hồ từ đại hồng chung Thiên Mụ ngân nga vang vọng khắp vùng bắt đầu vào lúc 7:30 tối (canh 1) và 3:30 sáng (canh 5), giữ nhịp thời gian cho sinh hoạt của những người dân quê hiền hậu, chất phác trong vùng. Một trăm linh tám tiếng chuông thiêng gióng lên như để an ủi cho 108 khổ nạn mà chúng sinh phải trầm luân trong cõi trần gian này.

Khi tôi còn nhỏ, mỗi lần tiếng chuông Thiên Mụ cuối cùng buổi tối dứt, có nghĩa là tôi phải lên giường đi ngủ (trẻ con không được thức khuya, bà ngoại tôi bảo thể). Trước khi đắm mình vào giấc ngủ tôi nằm lằng nghe từng tiếng chuông đĩnh đạc bung ra, trầm bổng ngân nga như trò chuyện cùng tôi rồi từ từ tắt hẳn trong đêm tối để nhường chỗ cho tiếng chuông tiếp theo. Và buổi sớm mai, trong cơn ngủ vùi vô tư của con trẻ, tiếng chuông chùa vọng vào cơn mê ngủ của tôi, và những tiếng chuông cuối cùng của cữ chuông buổi sáng kéo tôi ra khỏi những giấc mơ đẹp đẽ của tuổi ấu thơ. Cả nhà lục tục dậy, bếp củi bắt đầu đỏ lửa chuẩn bị cho bữa ăn sáng và sau đó mọi người ra đồng. Theo thời gian, tôi nhận ra tiếng chuông Thiên Mụ thay đổi theo mùa: thanh trong vào những buổi sáng nắng hanh, trầm buồn trong những ngày mưa dầm gió bấc, ngân nga ai oán trong những buổi sớm mù sương … Vì vậy, tiếng chuông Thiên Mụ đã đi theo suốt cuộc đời tha hương của tôi cho đến tận bây giờ. Có những lần được trở về Kim Long, được nghe tiếng chuông Thiên Mụ, lòng thấy như ấm lại.

Người ta cho rằng tiếng chuông Thiên Mụ vang xa như vậy, ngoài bí quyết đúc đồng vi diệu của những người thợ đúc đồng Phường Đúc ở phía bên kia bờ sông, dòng Hương Giang uốn khúc trải dài trước chùa được coi như một dòng vật chất dẫn truyền tự nhiên cho tiếng chuông. Tôi thì lại nghĩ và tin rằng, tiếng chuông gióng lên mang theo công phu thiền định và hạnh nguyện từ bi của các thiền sư chùa Thiên Mụ chính là một yếu tố xúc tác vật lý, nhờ sóng âm và sóng siêu âm huyền diệu trong tiếng chuông, đã làm cho hơi nước bốc lên từ mặt sông ngưng tụ lại, gieo một màn sương khói huyền ảo trên dòng Hương xinh đẹp.

Mây thiêng đỉnh Yên Tử

thành hạt sương bậu trên mi mắt

hạnh ngộ lẽ Vô Thường

Cách đây mấy năm, một sớm đầu Xuân, tôi hành hương về Yên Tử. Leo qua hàng ngàn bậc đá để lên Chùa Đồng trên đỉnh núi, tôi cùng hàng ngàn khách hành hương đi trong mây. Mây mù làm phong cảnh chung quanh trở nên huyền ảo như một bức tranh thủy mặc, người ta không còn thấy rõ mặt nhau. Và tôi cảm thấy trong mây khuôn mặt mọi người bỗng trở nên hiền hậu hơn, đẹp đẽ hơn.

Thấm mệt, tôi nhắm mắt nằm trên một vạt cỏ ven đường và rồi tự nhiên cảm thấy có những hạt sương nhỏ li ti đang nhẹ nhàng bậu trên mi mắt và dịu dàng đáp xuống làn da mặt, mát rượi. Đột nhiên, mọi mệt mỏi bỗng tan biến, thân mình như bồng bềnh trong mây, tâm hồn bỗng nhẹ nhàng như hạt sương bay. Và chính trong phút giây ngắn ngủi đó dường như tôi đã ngộ ra lẽ Vô Thường. Nước biến thành mây, mây hóa thành sương, sương đọng thành giọt mưa cho hạt nẩy mầm, cho cây cối tươi xanh … Rồi theo vòng tuần hoàn của tự nhiên nước lại thành mây… Dù là một làn mây, một hạt sương, một hạt mưa hay cả một đại dương cũng đều thuận theo vòng tuần hoàn bất diệt này.

Vậy hà cớ gì ta lại không sống tùy duyên. Tùy duyên, ta hãy là mây, là sương, là hạt mưa, là giọt nước … Tùy duyên, đừng vô vọng cưỡng lại mà hãy an nhiên thuận theo lẽ Vô Thường trong cõi thế gian Bất Toàn này.

Thượng Đình, ngày Lập Hạ

LVT

Nhớ ngày Thầy đưa Haiku về làng- Lưu Văn Quỳnh

(Kỷ niệm ngày giỗ đầu thầy giáo Lưu Đức Trung)

alt

Trong cuộc đời có những chuyện thật mười mươi, chẳng biết có sự trùng hợp ngẫu nhiên hay thần giao cách cảm. Qua rồi kể lại không ít người cho đó chỉ là chuyện hư cấu văn chương. Đặc biệt trong những chuyện đó có đôi tình tiết mang màu sắc tâm linh, kỳ bí. Ví như chuyện cây mai nhà tôi nở hoa hai lần khi thầy giáo Lưu Đức Trung về thăm.

Sau mấy chục năm gặp lại. Mời thầy về thăm nhà, đợi ngày đón thầy về quê kỷ niệm 5 năm ngày thành lập trang Caolaoha.com – Tờ báo điện tử của làng. Dắt tay đón thầy bước lên thềm. Vô tình ngước lên thấy bông hoa vừa nở, tôi vui mừng:

Ôi, thầy ơi! Gốc mai này cháu Lâm mua đã lâu, chở từ Nam ra, hoa nở đẹp lắm. Nhưng từ ngày cháu đi vắng, nó chẳng nở thêm lần nào. Mười mấy năm chờ đợi, hôm nay thầy đến lại nở hoa đây này.

Ngước lên theo hướng tay tôi chỉ, thầy khẽ khàng: Thật ư. Vui quá. Lạ Nhỉ.

Càng lạ lùng hơn, mấy hôm sau thầy đi, hoa lại nở thêm lần nữa. To, đẹp, thẫm mầu hơn. Thầy đi rồi sáng nào tôi cũng ra thềm ngóng đợi, nhưng cây buồn chẳng chịu ra hoa. Chuyện tưởng chỉ thế, không ngờ sau chuyến về thăm quê lần ấy, mấy tháng sau thầy tôi qua đời ở tuổi 85. Cây mai bên thềm nhà tôi cũng héo tàn rồi chết.

Thương thầy, tiếc hoa, tôi cấy vào gốc mai già mấy chồi non. Những mong sớm tối ra vào như vẫn có thầy hiện hữu. Vẫn như còn được thấy thầy “rong chơi suốt bốn mùa hoa” (Đông Tùng) giữa cõi đời này.

Sắp đến ngày giỗ đầu của thầy, tôi lại ra gốc mai già tỉa lá, uốn cành, lòng suy nghĩ miên man. Chuông điện thoại đổ dồn:

A lô em đây, em Hải đây!

Mừng quá anh à. Hôm qua bác Đinh Nhật Hạnh, Chủ nhiệm câu lạc bộ thơ Hai Ku Việt Hà Nội tặng em cuốn Nội san. Bác cảm động lắm, vừa nói vừa khóc. Bác khóc khi được đọc bài viết Đưa Hai Ku về làng quê của chú Trung và mấy bài thơ của anh em mình vừa mới sáng tác. Khi nào sang, anh lấy sách về đọc, sẽ hiểu thêm về bác và Câu lạc bộ Hai Ku Hà Nội anh nhớ.

Cầm tập nội san trên tay. Trang đầu tiên là lời đề tặng rất mực trìu mến yêu thương bác dành cho chủ nhân Lưu Đức Hải. Tôi lật tiếp và đọc say sưa bài viết dài hơn mười trang MƯỜI HAI NĂM, MỘT CHẶNG ĐƯỜNG của bác Đinh Nhật Hạnh. Càng đọc tôi càng thấm thía rồi cũng đồng cảm, xúc động không kém tâm trạng của bác khi đọc bài của thầy Trung làng ta.

Mười hai năm, một chặng đường, kể từ khi “nàng Hai Ku Nhật” thoảng hương vào đất Việt”, cùng với nhà thơ Nhật Chiêu, giáo sư Lưu Đức Trung  những người “phá thạch, khai sơn”, bác Đinh Nhật Hạnh là người rất mực chăm chút, lo toan cho sự phát triển của thơ Hai Ku. Nỗi niềm của bác chất chứa, dồn nén từ mong chờ, hy vọng, kỳ vọng rồi cả xót xa, nuối tiếc, hoài nghi, khi “Mong ước ấy hãy còn xa xôi lắm, chưa thể hẹn trước trong tình thế hiện nay”

Vâng! Trong tình thế hiện nay khi xã hội hầu như quay lưng lại với thơ ca đích thực, nói chi đến với Hai Ku, thể thơ kén người đọc, vốn chỉ quen với những bậc tao nhân, mặc khách ở chốn thị thành.

Trong tình thế hiện nay, khi người chủ soái, nhà sáng lập Lưu Đức Trung vừa mới qua đời để lại bức tâm thư đầy tâm huyết đề ngày 15/5/2015 với bao mong ước chưa thành.

Trong tình thế như vậy, không ngờ ở một miền quê xa xôi, làng Cao Lao Hạ, quê hương của thầy Lưu Đức Trung có cả một Câu lạc bộ thơ. Hàng chục người tham gia làm thơ Hai Ku, hàng trăm bài thơ Hai Ku được chọn lọc đăng trên Đặc san Xuân Bính Thân 2016, nhân kỷ niệm 9 năm thành lập Câu lạc bộ Hai Ku Việt thành phố Hồ Chí Minh.

Lưu Đức Hải:

Võng đưa

Lên xuống

Cuộc đời

Lưu Văn Quỳnh

Cánh hoa rơi

Cá giật mình

Trời xanh rung động

Lê Quang Quý:

Dắt nhau lên động

Thiên đường

Mở ra

Lê Chiêu Phùng:

Nắng Đông

Bóng hạc ẩn mình

Vách đá

Lê Văn Viên:

Trà hoa nhài

Xuân đương độ

Vắng cành mai

Lưu Trọng Tri:

Người phụ nữ

Ngồi khâu nón

Ôm cả vầng trăng

Đặng Văn Quang:

Trái hồng leo

Xóm nghèo

Tuổi thơ xúm xít

Lưu Văn Lộc:

Lưng mẹ còng

Tay cắm đất

Mùa vàng

Đọc những bài thơ Hai Ku như thế, có ai ngờ đó là những sáng tác đầu tay của người dân làng Cao Lao Hạ viết vội khi tay còn vương mùi bùn đất của đầm tôm, ao cá. Chân còn vướng víu gai góc giằng dịt của núi đồi, nương rẫy. Có ai ngờ đó là những sáng tác đầu tay của lớp học trò đặc biệt, chỉ mới được học qua một bài đầu tiên trên chuyến xe về quê cùng thầy Lưu Đức Trung hôm ấy…Người nghệ sĩ lớn như bác Đinh Nhật Hạnh hết lòng chăm lo cho thơ Hai Ku làm sao không vui mừng, xúc động đến trào nước mắt.

Ngày 29 tháng 10 năm 2015: Quốc lộ 1A vừa mới mở rộng, rải thảm bê tông phẳng lỳ. Xe lướt êm ru. Chỉ tiếc toàn ở ngoại đô nên 9 giờ sáng, thầy trò còn chưa được điểm tâm. Thầy Trung có sáng kiến: Đọc và bình thơ Hai Ku chống đói. Mọi người vỗ tay hưởng ứng.

Giữa bao nhiêu sự ồn ào, hỗn tạp của âm thanh, lớp học đặc biệt của đám học trò làng Hạ đang chăm chú lắng nghe như nuốt lấy từng lời giảng của thầy. Vị giáo sư già, Lưu Đức Trung đang truyền thụ những kiến thức sơ đẳng, vô cùng mới mẻ về thơ Hai Ku cho lớp con cháu của quê hương mình. Thú vị nhất khi thầy lấy luôn bài thơ thầy trò vừa sáng tác tuần trước khi xuống Hạ Long để phân tích, giảng giải cho chúng tôi:

Chiều

Hạ Long

Đá đôi âu yếm

Đấy! Thơ Hai Ku là thế, nó là thể thơ đặc biệt của nước Nhật. Thể thơ có dung lượng nhỏ nhất của thơ ca nhân loại. Nhiều nhất cũng chỉ đến 14, 15 âm tiết, ngắt làm ba nhịp. Ý tứ cô đọng, sâu xa. Đúng như điều anh Quỳnh đã viết trong bài thơ Thầy tôi:

Những bài thơ Hai Ku xinh như cánh bướm.

Ấp ủ ý vị thiền, xứ sở hoa Anh đào của đất nước Phù Tang.

Chất thiền trong thơ Hai Ku là sự an nhiên, tự tại, quay lưng lại với bao sự cám dỗ của cuộc đời trần thế. Nó sâu xa, lắng đọng, gợi mở, tưởng tượng đến vô cùng. Người làm thơ, thưởng thơ Hai Ku phải lắng tai mà nghe, mở mắt mà nhìn, trải lòng ra mà cảm nhận.

Chao ôi! Chỉ mới được nghe như thế, đám học trò chúng tôi đã sáng ra rất nhiều điều. Chắc rằng rồi đây những hạt giống thơ Hai Ku thầy đem về gieo xuống mảnh đất quê hương trong ngày lễ kỷ niệm 5 năm thành lập trang Caolaocom - Ngày 1 tháng 11 năm 2015 tại đình làng sẽ phát triển thành vườn thơ Hai Ku xum xê, tươi tốt .

Giữa không khí trang nghiêm của ngày lễ lớn, đình làng Cao Lao Hạ nghi ngút hương trầm. Ông Lưu Văn Tác – Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã trong trang phục đại lễ, trịnh trọng đánh hồi trống dài khai mạc. Trong tiếng trống vang rền, tôi như nghe tiếng của ông cha nghìn năm vọng về. Tiếng vọng của vùng đất địa linh còn in nhiều dấu tích của một nền văn hóa lâu đời. Tác giả Lê Văn Sơn, người con của làng đã ghi lại trong cuốn Địa chí làng Cao Lao Hạ:

“Đứng trên tầm cao mà nhìn, làng Cao Lao Hạ có hình dáng như một chiếc thuyền Long châu đang thả neo trên dòng Linh Giang xanh biếc. Thật vậy, tại đây mặt nước Linh Giang trải rộng như một tấm gương trong xanh. Từ xa, núi rừng Lệ Đệ như một bức trường thành che chắn ở phía trời Nam. Có cái thế đất Long triều hổ phục, ở giữa là cánh đồng rộng mênh mông. Được cái thế sông bồi thủy tụ. Rõ ràng là một vùng đất mang vượng khí thái bình mở ra cả một triển vọng lớn lao ở phía chân trời. Nhờ đó, nơi đây không những đã sinh ra bao lớp anh tài, tuấn kiệt mà còn xây dựng được cả một nền văn hóa dân gian đa dạng…

Âm vang của tiếng trống vừa dứt, Tiến sĩ Lưu Đức Hải được mời đọc diễn văn trình bày thành tựu của Caolaocom 5 năm hình thành và phát triển. Tiếp đến là thầy Lưu Đức Trung phát biểu, tặng bức thư pháp do chàng Ngẫu Thư Thanh Tùng – Thành viên Câu lạc bộ Hai Ku Hà Nội tung tẩy vẽ từ bài thơ Hai Ku của thầy Lưu Đức Trung:

Tay gõ

Caolaoha.com

Tình quê lắng đọng.

Lời thơ thầy vừa dứt, đình làng vang rộn tiếng vỗ tay hoan hô chào mừng. Thầy chưa kịp bước xuống, hàng chục thành viên Câu lạc bộ thơ, cộng tác viên trang báo chạy ùa lên sân khấu. Nào nhà thơ Cảnh Giang, Linh Giang, Lưu Thông, Chung Qúy, nhà báo Lê Chiêu Phùng, kiến trúc sư Lê Chiêu Chung, nhà thơ Quân đội Lê Quang Nhân, Đặng Văn Quang, Lê Quang Qúy… Nào các nữ sỹ Lưu Hoa, Lê Mận, Hồng Tư, Thúy Mơ, Hương Trà… bấy lâu chỉ biết danh thầy qua sách báo, qua bao thế hệ học trò cũng là những giáo sư, tiến sĩ tôn vinh thầy : Nhà giáo, nhà thơ, nhà khoa học, thiền sư. Hôm nay được tha hồ thỏa thuê nhìn ngắm người thầy giáo kính yêu của quê hương mình. Thầy đứng đó khiêm nhường, lặng lẽ đọc thơ. Bao nhiêu người chạy ùa lên. Người ôm hôn, người níu kéo, tung hô. Tôi và Thanh Tùng phải vội vàng chạy lên giải cứu để giữ gìn sức khỏe cho thầy. Thầy vừa qua cơn trào ngược dạ dày, lại vừa hành trình trên suốt chặng đường dài cả nửa nghìn cây số để đem thơ Hai Ku về gieo hạt trên mảnh đất quê hương…

alt

Thời gian như bóng câu qua cửa sổ. Mới ngày nào đó, hôm nay thầy đã đi xa, xa lắm. Kính yêu thầy, con viết đôi dòng như một nén hương lòng tường nhớ thầy trong ngày giỗ đầu. Dưới suối vàng chắc thầy sẽ vui khi biết hạt giống thơ Hai Ku thầy đem về gieo trên đất quê hương may đã lên mầm xanh tươi. Cầu mong thầy yên giấc ngàn thu để phù hộ độ trì cho con cháu làng ta. Con cháu của các bậc tiền nhân, những nhà thơ, nhà văn lớn: Lưu Trọng Lư, Lưu Đức Trung… đã từng làm rạng danh nền thơ ca dân tộc. Chúng con hứa sẽ chăm lo, vun trồng để những hạt giống thơ Hai Ku thầy đem về gieo trên đất quê hương phát triển thành vườn thơ Hai Ku sum xuê, tươi tốt. Góp phần làm phong phú nền văn học nước nhà trong thời kỳ hội nhập. Tiếp nối truyền thống cha ông làm rạng danh quê hương, đất nước./.

Ngày 2 tháng 5 năm 2018

LVQ

Tình quê hương chất chứa trong bài thơ Haiku- ĐặngVăn Quang

alt

“Đất khách muôn trùng răng nhỏ hẹp

Một góc quê nhà nhớ mênh mang”

Kỷ niệm năm năm trang web làng ta, tôi thật sự ấn tượng và xúc động khi Giáo sư Lưu Đức Trung cụ, “Tiên chỉ” của làng tuổi đã ngoài 80, cả cuộc đời sống tha hương, tay run run cầm bức thư pháp viết bài thơ Hai ku do cụ sáng tác tặng Caolaohạ.com.

Tay gõ

caolaoha.com

tình quê lắng đọng.

Thơ Haiku thì tôi chưa hiểu lắm, nhưng quả thực đọc kỹ câu chữ của bức thư pháp kia mới thấy thấm thía và ý nghĩa vô cùng.

Năm năm qua, đã bao lần tôi gõ caolaoha.com là bấy nhiêu lần lắng đọng tình quê. Khi bật máy tính lên chỉ cần nghĩ đến quê hương là trong ta đã có một cảm xúc khác lạ. Có thể nói, từ khi có trang web quê, không ngày nào là tôi không truy cập, rảnh ra một tý là vào ngay, vì sao vậy? phải chăng đó là “Tình quê”?.

Tôi còn nhớ ngày đầu vọc vạch vi tính (theo cách nói của Lưu Văn Quỳnh) tôi cũng ngu ngơ truy cập caolaoha.com, loay hoay mãi không được bèn nhờ cậu lính trẻ:

- Cháu truy cập giùm chú trang caolaoha.com

- Cậu ta hỏi: Cao Lao Hạ ở mô chú?

- Quê chú chớ mô nữa.

Rồi cậu ta lẩm bẩm, tỉnh ta làm chi có xã ni hè, nếu là làng thì chắc là có.

Tôi lại mất công giải thích: Trên tỉnh Quảng Bình này, không nhiều nơi như Xã Hạ Trạch cũng là làng Cao Lao Hạ, làng là xã, xã cũng là làng và cũng là làng có trang web đầu tiên và duy trì phát triển đến bây chừ.

Rứa đó, tự hào, hãnh diện, nhiều rồi không ngày nào quê hương lại không hiển hiện trên máy tính của tôi.

Năm 2015 trôi qua, một năm với nhiều đổi mới trên quê hương mình, trang web đã đồng hành nói lên tất cả nhưng điều đổi mới đó, ai ở xa quê chắc thấy rõ.

Tháng ba cúng Cồn cui, tháng sáu cúng Đình, tháng mười khánh thành cổng Đình và hội ngộ 5 năm trang web, cuối năm mừng Xuân dâng tiến Hoành phi câu đối, bộ gươm giáo Đình làng…Rồi Cao Lao Hạ phương nam thì tôn tạo chùa Cao Lao Tự, các Họ tộc trong làng xây nhà thờ, lăng mộ tổ tiên…

Những sự kiện đó gõ vào Caolaoha.com ta sẽ thỏa lòng...Ôi tình quê lắng đọng.

Năm qua, điều ấn tượng nhất trong tôi đó là công trình Cổng đình làng và các hạng mục phụ trợ. Sức lực, trí tuệ, tâm huyết, tiền bạc của mọi người “lắng đọng” ghi lại những dấu ấn khó phai mờ.

Mấy năm trước, Đình làng ta khánh thành khang trang đẹp đẽ, nhưng quanh đình đầy cỏ mọc quạnh hiu, cứ thường kỳ các cháu học sinh lại phải phát cây, nhổ cỏ, để chúng không phủ lấp ngôi Đình hãnh diện của kia. Trăn trở suy tư, BBT Caolaoha.com đã phát động một chương trình huy động đóng góp…rồi có sân, có cột cờ, bình phong khắp nơi mọi người phấn khởi.

Nhưng mặt tiền của Đình vẫn thế, hai trụ biểu uy nghi của cha ông để lại, là niềm kiêu hãnh của cháu con, nhưng sao mà xót xa, không tương xứng với ngôi đình mà con cháu xây dựng hôm nay. Cứ như áo comple, cravat mặc chung với quần the khăn đóng vậy. Khách qua đường cảm nhận, giá như…

Một lần nữa Caolaoha.com lại làm cái sứ mệnh thiêng liêng, kêu gọi tôn tạo xây dựng mặt tiền, cổng đình. Một vấn đề hết sức gay cấn và trăn trở, đó là năm nào cũng kêu gọi, phát động, đóng góp… cũng không ít lời ra tiếng vào, cũng có những thì thào than thở …

Lượng truy cập cũng nhiều, người viếng thăm cũng lắm, nhưng danh sách đóng góp chưa được là bao, cứ tưởng chừng không thể thành công. Có những lúc nhạc trưởng Caolaoha.com Lưu Đức Hải bi quan gọi điện: “Anh ơi, tiến độ đóng góp chậm quá anh hè, e thất bại…” Tui bạo mồm động viên: “Yên tâm mọi người đang lắng đọng”. Và quả đúng như sự “bạo mồm” của tôi, kinh phí đóng góp chẳng những đủ mà còn dư.

Ôi chao! danh sách đóng góp sao mà dài, người đóng góp sao mà đông, mừng, mừng vô kể, bởi con cháu quê mình thật “lắng đọng” biết bao. Tôi đã thấy làng Lý Hòa, làng Ba Đồn và một số nơi nữa, có những mạnh thường quân đóng góp tiền tỷ để xây Đình, xây làng dễ như chơi.

Tôi thầm nghĩ, không phải con cháu quê mình không làm được như họ, mà “Tình quê” phải được dành cho mọi người. Trong tôi vẫn thấy tự hào, cảm phục với những tấm lòng sâu nặng của con cháu quê mình. Từ cháu học sinh, đến cụ già hưu trí, từ anh sinh viên đến các nhà doanh nghiệp, từ vị sĩ quan đến anh lính nghĩa vụ quân nhân, các cháu làm thuê, lao động xa quê…tất cả, tất cả đó đã giành một chút từ mồ hôi công sức của mình để được trãi lòng với quê hương, Tiên tổ.

Tôi cứ hình dung, mọi người khi gõ Caolaoha.com để đăng ký góp một chút ít cho quê nhà hoặc để xem hôm nay tiến độ công trình đến đâu…? Thì “Tình quê” đã hình thành, đúc kết từ trước khi mở máy.

Tay gõ Caolaoha.com, nhưng trong đầu mọi người đã nghĩ về nơi chôn rau cắt rốn, đã hình dung ra hai mươi lối xóm, với những con đường bê tông sạch sẽ thoáng khô, với Đình làng sừng sững uy nghi, với dãy nhà thờ Họ trầm mặc, nhìn ra cánh Đồng cửa tít tắp dưới chân dãy Lệ đệ mờ xa…lòng người bỗng chùng xuống, lắng lại, thẩm thấu, “lắng đọng” những ký ức quê nhà.

Tay gõ Caolaoha.com, là đã nghe tiếng thông reo trên Dốc Oằn, Ba trại, tiếng nước róc rách nơi Khe Mỏ, khe Ngang, qua những con mương thẳng tới đường Bạn, đường làng; thấy được bóng của Động Dôn, Lều Cù Đá bạc in trên mặt nước của Vực Sanh, Cửa Nghè yêu đấu.

Tay gõ Caolaoha.com, đã thấy bóng hình mẹ cha ta, một thời kiên gan bền chí, cho dầu bom rơi đạn lạc vẫn bám đất, bám làng, một tấc không đi, một ly không rời, để khắc ghi Bến Phà gianh, ngầm Hói Hạ, đường Ba trại, Thọ lộc …vào lịch sử dân tộc, xứng với cha ông ta đã một thời trấn ải miền biên viễn nơi đây.

Tay gõ Caolaoha.com, để nghe âm thanh “Nơi tôi tìm về” ngọt ngào sâu lắng;“Đưa em về quê mẹ miền trung”;“Về làng Hạ” da diết khôn nguôi…

Tay gõ Caolaoha.com, tôi được thưởng thức những bài thơ chân quê mộc mạc, như hạt lúa Bàu Mật, bàu Đưng , như củ khoai thành thơm thơm nóng hổi, nghe ngèn ngẹn đến tận bây giờ.

Rất nhiều, rất nhiều nữa…

Tay gõ

caolaoha.com

tình quê lắng đọng.

Rồi tôi bỗng giật mình nghĩ dại: Nếu một mai không còn Caolaoha.com, tôi biết gõ vào đâu, gõ vào đâu cho thỏa lòng, cho khuây nỗi nhớ quê mỗi khi chiều về, đêm xuống?

Lắng đọng lắm QUÊ ƠI!

ĐVQ

Hoa tri ân bật nở- Nguyễn Thánh Ngã

alt

hoa nở

trò cũ đến thăm

thơm lừng trang sách

(Lê Đăng Hoan)

Đọc bài haiku của nhà thơ - Haijin Lê Đăng Hoan, chợt nhớ cụ Nguyễn Du từng viết:"Khi chén rượu, khi cuộc cờ/ Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên", tức nhà giáo đã về hưu rồi. Vì vậy, "hoa nở" ở đây được viết với phong thái "hạ nhàn". Ta có thể hiểu, nhà giáo đang vui hưởng cảnh thong dong nhàn nhã, sau khi đã cống hiến cả đời trên bục giảng.

Và những hạt "bụi phấn bay bay" rơi trên tóc thầy, đóa hoa tuổi tác đã nở trắng. Màu trắng của đám mây phiêu lãng, trôi qua dòng sông của "người đưa đò" dày dạn nắng sương, dày dạn kinh nghiệm "trồng người", khiến ta cúi đầu ngưỡng mộ...

Hiểu được như vậy, nên "trò cũ đến thăm" là cách thể hiện "tôn sư trọng đạo". Nét đẹp văn hóa đó, được người đời truyền tụng mãi mãi. Thầy đã dạy dỗ biết bao thế hệ, bao lớp học trò đỗ đạt, đem sức trẻ cống hiến cho đất nước quê hương. Báo đáp ân thầy dạy dỗ, là một trong tứ ân mà người học trò phải biết, phải thực hiện cho "thơm lừng trang sách"...

Sách ở đây là sách nhân học, sách dạy làm người. Thầy trò mở lòng ra với nhau, người biết ơn, người độ lượng, chính là giềng mối làm nên hạnh phúc của đời người. Hạnh phúc ấy, khiến những đóa hoa lòng thơm thảo bật nở và lan tỏa hương thơm. Đó là đạo lý "uống nước nhớ nguồn", đã được cha ông ta gìn giữ. Lòng chợt buồn, khi biết rằng ngày nay mối quan hệ đó đã bị rạn nứt. Cảnh học trò "đánh thầy", đối xử vô ơn bạc nghĩa với thầy cô đã từng diễn ra. Và cũng có những thầy cô lợi dụng chức năng nhà giáo, tăng thu nhập quá mức cho phép, làm phiền lòng phụ huynh vv...

Tuy nhiên, cảnh ấy chỉ là "con sâu làm rầu nồi canh". Tất cả chúng ta đang hướng tới một nền giáo dục nhân văn, chất lượng hơn.

Xét về ý tưởng, câu thơ:" thơm lừng trang sách", đã bắt theo mạch trên, nên dù là ba ngắt ý khác nhau trong ba dòng thơ haiku, vẫn thể hiện một mạch văn nhất quán, logic.

Thái độ biết ơn thầy hợp với lòng trời, thuận theo lẽ tự nhiên. Và cái gì thuận theo lẽ tự nhiên sẽ đem lại an hòa cho cuộc sống.

Có thể nói, bài thơ nhỏ bé của nhà giáo Lê Đăng Hoan là một trong những bài thơ hay tiêu biểu, rất đáng trân trọng. Thế mới biết, công năng của thơ đã góp phần giáo dục không nhỏ trong thời đại chúng ta...

Sài Gòn tháng 04.2018

N.T.N

Đôi điều về cấu trúc thơ Haiku- Lý Viễn Giao

Trong các phiến khúc Haiku từ xưa đến nay, ở mọi quốc gia, đều rõ mồn một ba thành phần. Người ta có thể viết trên ba dòng:

古池や (Furuikeya)

蛙飛び込む ( Kawazu tobikomu )

水の音 ( Mizu no oto)

( Basho )

Hay một dòng, dùng dấu ngắt để phân cách ba thành phần ấy: 古池や / 蛙飛び込む /水の音

Hãy cùng nhau làm công việc tìm xem các thành phần ấy là gì để đi đến chuẩn mực khảng định một khúc thơ có phải Haiku hay không.

alt

Là ba câu ư?

Ở một số bài thơ, đó là ba câu thực sự . Chẳng hạn:

“Cá xuống nước

Mây về trời

Ta thả ta vào chân không” (Doãn Thiện Niệm). Hay:

“Chiếu giải hiên đình

Sáo ghẹo trúc xinh

Tay em uốn gió” (Lý Viễn Giao)

“Sông đưa nước ra biển

Gió dìu mây về nguồn

Người đưa hồn về quê” (Lam Hồng)

Nhưng ở rất nhiều bài, ba thành phần này chưa là câu:

“Ngõ cụt

Thoáng bóng hồng

Vấp” (Nguyễn Kỳ Anh). Hay:

“Không mưa

Những cột đèn đường

Âm bản đêm” (Đinh Trần Phương)

Ngay cả bài thơ Con ếch của Basho, chỉ có hai thành phần sau “Con ếch nhẩy vào” và “Tiếng nước xao” là câu còn “Ao xưa” đâu phải thế!

Ba thành phần của khúc thơ Haiku là ba câu với đầy đủ chức năng của nó để tạo nên bài thơ thì điều đó không sao cả. Nhưng có cần phải như vậy không thì cũng thấy rồi. Cho nên không thể mặc định cho thơ haiku là Thơ ba câu.

Hay là ba dòng?

Dòng không mảy may mang ý nghĩa nội dung nào trong viết lách. Dòng chỉ có vai trò như một đơn vị đong chữ. Trên một dòng, người ta có thể chỉ viết một chữ nhưng cũng có thể viết đầy kín chữ. Có thể viết một câu hay nhiều câu. Nếu các chữ trên đó là của một ý sẽ không cần phải dùng đến dấu phân cách . còn như trên dòng ấy gồm nhiều thành phần, tùy theo mối quan hệ giữa chúng mà dùng các dấu phẩy (,), chấm (.), chấm phẩy (!), hỏi chấm (?) … hay gạch chéo (/) để phân định. Thơ Haiku thường hay dùng cách viết mỗi thành phần riêng một dòng, cũng có viết chúng trên một dòng rồi dùng dấu gạch chéo để phân chia nhưng ít hơn. Chẳng hay có phải vì thế mà nhiều người mặc nhiên gọi thơ này là thơ ba dòng? Điều này rất nguy hiểm, nó sẽ dẫn đến sự lẫn lộn về tiêu chí của một bài thơ. Nếu trên mỗi dòng là một thành phần đúng chức năng thì sẽ không sao rồi, nhưng nếu đặt lên dòng kẻ một số chữ không có ý, không hình ảnh, không nằm trong mối quan hệ chung với các dòng khác để nói lên một ý tưởng thì sao thành khúc Haiku.

Vậy ba thành phần ấy là gì ?

Trong nhiều trường hợp mỗi thành phần ấy là một hình ảnh, chẳng hạn:

“Hai người đơn côi

Ngược chiều

Sóng đôi” (Như Trang) Hay:

“Chớp lóe

Mưa trắng đồng

Mẹ gánh cơn giông” (Lương Thị Đậm)

“Tia chớp xanh lè

Gió bấu ngọn tre

Mưa nghiêng mái lá” (Lý Viễn Giao)

Nhưng trong nhiều trường hợp khác, ba thành phần của khúc thơ chỉ là ba ý:

“Xuân đến

Xuân đi

Tình ở lại” (Thánh Ngã) Hay:

“Tháng Bẩy qua rồi

Sao còn rơi lệ

Vợ chồng Ngâu ơi!” (Đoàn Thị Thu Vân)

“Trăng vàng đỏng đảnh

Đẹp chỉ đêm rằm

Đâu ngờ hôm khuyết” (Mai Trinh)

Lại cũng có khúc Haiku chứa cả hình ảnh và ý xen nhau trong ba thành phần của mình:

“Gió xuân

Tóc trắng bay

Nhớ thời mười bẩy” (Lê Thị Bình) Hay:

“Ánh mắt

Nụ cười

Tim lỗi nhịp” (Phạm Ngọc Liễn)

“Cánh buồm nâu

Về đâu

Biển nhớ” (Lý Viễn Giao)

Có thể gần như khảng định, ba thành phần trong phiến khúc Haiku phải là những hình ảnh hay ý. Nếu muốn biểu đạt cho gọn, chỉ dùng một tên thôi, thì nên gọi thế nào sẽ là hợp lý? Ý có thể không phải là hình ảnh nhưng mỗi hình ảnh thực ra đã nói lên một ý. Vin vào lẽ ấy mà thống nhất cho rằng bài thơ Haiku gồm ba ý quả thật không sai. Ba ý này độc lập với nhau trong một chủ đề thống nhất , bởi thế được nhấn mạnh bằng danh xưng “Ngắt ý”.

Quan hệ giữa ba ngắt ý trong một khuc Haiku rất bình đắng. Chúng bổ sung cho nhau để làm nên ý tưởng chung cho toàn bài. Xin lấy khúc Haiku của tác giả Phùng Gia Viên làm minh chứng:

“Cành củi

Gió lay

Bướm đậu”.

Ở đây các ngắt ý không hề phụ thuộc nhau, chẳng ý nào là phụ, là chính. Nếu nhặt riêng từng ý sẽ chẳng thấy điều gì nhưng gộp chúng lại thì đó là mùa xuân, là sự hồi sinh trên khô cằn, là tình yêu…

Ta hay gặp trường hợp một phần phụ, phần nối dài của một ý được viết tách ra rồi coi đây là một ý thì khúc thơ đó chưa phải Haiku:

“Chiều vương

Sương buông

Trên vuông cỏ biếc” (Ví dụ của tác giả bài viết này)

“Trên vuông cỏ biếc” có phải chỉ là cái đuôi của ý hai không. Vậy ví dụ trên chưa phải là bài thơ Haiku.

Đôi khi lại gặp trường hợp một phần của ý được tách ra để tạo cảm giác về hình thức coi đó là là một ý :

“Rau càng xanh

Canh

Càng rầu” (Vì phun thuốc !) (Ví dụ của tác giả bài viết này)

Như vậy cũng không làm nên khúc Haiku được vì cả hai dòng dưới mới chỉ là một ngắt ý “Canh càng rầu” mà thôi.

Bài thơ viết đúng tiêu chí của cấu trúc chưa chắc đã hay. Bài thơ hay nhưng không đúng tiêu chí sẽ không là thơ Haiku. Thiết nghĩ, người làm thơ Haiku trước hết phải làm đúng, sau đó nâng lên thành hay bằng tài ba riêng của từng người vốn có hoặc tích lũy mà có được. Cái hay bay lên từ cái đúng là hay vĩnh cửu, một điều không phải chỉ của thơ, lại càng không phải của riêng thơ Haiku.

LVG

Hương dậy thì- Nguyễn Thánh Ngã

alt

trắng muốt

trên những cánh hoa đan

hương cafe dậy thì

(Phượng Uyên)

Nếu ai từng sống, hoặc có dịp đến Tây Nguyên trong mùa hoa cafe nở, chắc sẽ có cùng cảm nhận với tác giả của bài thơ này. Phượng Uyên là cái tên mới toanh trong làng Haiku Việt, nhưng đã ghi dấu ấn bởi "hương cafe dậy thì".

Thật vậy, đứng trên đồi cao nhìn xuống rẫy cafe trải dài bạt ngàn như dải lụa bạch, ai không ngỡ ngàng reo lên "trắng muốt"...

Một màu trắng tinh khôi như màu áo học trò, cảm giác yêu thương và tinh khiết, dễ lay động lòng người. Đó là màu trắng toàn thể nhìn từ xa, còn nhìn gần sẽ thấy "trên những cánh hoa đan", hoa cafe nở xen nhau hàng nghìn vạn cánh. Màu hoa được những cánh ong hút mật làm trôi đi như dòng thác đổ.

Lặng lẽ.

Vô thanh...

Đây là câu thơ nói lên cái nhìn mỹ cảm của tác giả. Phân tích ta sẽ thấy hoa cafe có năm cánh, thường nở chùm đôi chùm ba, cho nên mỗi cây cafe có thể cho từ 30 - 40 ngàn bông hoa, nở đan nhau đến trĩu cành! Chỉ với hai ý thơ thôi, đã gợi lên cảnh tượng hùng vĩ của Tây Nguyên vào mùa hoa nở. Màu trắng bừng lên lấn át màu xanh chủ đạo của miền sơn cước.

Nhưng nếu nói về hoa thôi thì chưa đủ. Và sẽ là thiếu sót trầm trọng, nếu không nói đến mùi hương. Cùng với màu trắng bồng bềnh, thì "hương cafe dậy thì" là một ý tưởng độc đáo làm tươi mới bài thơ. Chỉ cần có mùi hương dậy thì thôi, thì tất cả sẽ trẻ lại. Mạnh mẽ nồng nàn. Bộc phát. Ngào ngạt lan tỏa, như tình yêu của tuổi mới lớn.

Mùa xuân ong bướm dập dìu, người Tây Nguyên còn có câu:"mùa con ong đi lấy mật", cũng chính là mùa tình yêu. Tuổi dậy thì như búp hoa đến thì đưa hương, gọi ong bướm bay về. Quả thật, đây là câu thơ dấu ấn, làm bừng lên cái không khí lễ hội của mùa xuân Tây Nguyên, mà nếu không có nó sẽ là một màu trắng vô hồn, lạnh lẽo...

Có thể khẳng định, đây là bài thơ hay đúng phong cách haiku. Quý ngữ ẩn của nó chính là mùa xuân. Vì thơ haiku tuyệt ngắn, nên nó chỉ truyền tải cái khoảnh khắc "dậy thì" chưa có tiền lệ, ám vào mọi nhận thức. Câu thơ trở nên tươi mới hơn bởi làn hương ấy, làn hương có công năng chuyển hóa tâm sinh lý, giàu nhạc tính hiện đại, và có sức cuốn hút mạnh mẽ.

Đó là thành công của bài thơ này!

Tây Nguyên tháng 1.2018

N.T.N

Cảm nhận về một số khúc Haiku thiếu thi- Lê Văn Truyền

Cuộc thi sáng tác haiku trên tranh vẽ chủ đề “Sinh vật sống” năm 2017 - 2018 do JAL Foundation chủ trì cùng hãng Hàng Không Nhật Bản, Đại Sứ Quán Nhật Bản tại Việt Nam, Trung Tâm Giao Lưu Văn Hóa Nhật Bản tại Việt Nam thuộc Quỹ Giao Lưu Quốc Tế Nhật Bản phối hợp tổ chức. Trong hơn 1.000 khúc haiku dự thi các em học sinh tiểu học và trung học cơ sở từ các tỉnh, thành phố Việt Nam gửi về, Ban Tổ Chức cuộc thi đã chọn ra được 38 tác phẩm ưu tú và cuối cùng chọn ra được 8 tác phẩm xuất sắc được trao giải.

alt

Như những hạt sương lóng lánh trong vườn đào Xuân, 38 khúc haiku ưu tú được sáng tác bởi các em học sinh trong lứa tuổi từ 9 đến 15, trong đó có 7 em trai và 31 em gái đến từ Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng, Bình Dương … Ban Giám Khảo gồm Đại diện Trung Tâm Giao Lưu Văn Hóa Nhật Bản tại Việt Nam, Đại Diện Hãng Hàng Không Nhật Bản (J.A.L.) tại Việt Nam và 3 đại diện của Ban Chủ Nhiệm Câu Lạc Bộ Haiku Việt - Hà Nội đã chọn được 8 bài haiku xuất sắc. Các em sáng tác haiku trên các chủ đề thiên nhiên, hoa lá, sinh vật (các loài chim, cá, chuồn chuồn, bướm, sóc, nhện, gấu trúc, mèo, ve sầu …). Điều thú vị là các em không chỉ viết về các loài động vật, côn trùng … mà thông qua đó nhiều bài haiku đã gắn liền với các vấn đề lớn của cuộc sống như bảo vệ môi trường, bảo vệ động vật, tình thương yêu, lòng nhân ái … một cách nhẹ nhàng nhưng sâu lắng đầy thú vị, đặc biệt trong cách diễn đạt thơ ngây, hồn nhiên, nhiều khi mộc mạc, nhưng không kém phần sâu sắc của lứa tuổi thiếu niên.

dưới đáy đại dương xanh
loài cá voi xanh sắp tuyệt chủng
nỗi đau này ai thấy

Đào Vân Anh, 15 tuổi

Bé gái Đào Vân Anh có cái nhìn sâu sắc hơn so với lứa tuổi (và có khi so với cả người lớn) khi viết về loài động vật biển cá voi xanh. Thông thường, người ta vẫn hay ca ngợi vẻ đẹp của biển cả bằng các hình ảnh đã quá quen thuộc: thuyền, sóng, cánh buồm, con tàu, mặt trời lấp lánh, chiếc vỏ ốc lóng lánh, vỏ sò xù xì, những mẻ lưới đấy ắp cá tôm, vầng trăng, bình minh và hoàng hôn trên biển … Nhưng ít ai nghĩ đến, nhìn thấy và hiểu được cuộc chiến sinh tồn khốc liệt đang diễn ra dưới đáy đại dương xanh: chất thải độc hại tàn phá môi trường biển, những rặng san hô bị đầu độc, cá lớn nuốt cá bé và đến lượt cá lớn và cá voi khổng lồ bị con người tàn sát. Một cái nhìn sâu sắc hơn ta tưởng của một tác giả ở tuổi thiếu niên, mang đậm tính nhân văn, trách nhiệm và ý thức bảo vệ động vật quý hiếm, bảo vệ môi trường, bảo vệ các đại dương và lục địa xanh của chúng ta: vấn đề sống còn và có tính thời đại của nhân loại trong thế kỷ XXI này. Tác giả đau thay và nói thay nỗi đau của loài cá voi xanh, loài động vật biển có thân hình khổng lồ nhưng rất hiền lành, có ích với ngư dân (đã có nhiều câu chuyện về cá voi cứu ngư dân lầm nạn) được người dân Việt Nam tôn là Cá Ông và lập đền thờ tại nhiều làng chài.

rừng cây muôn ngàn sắc hoa lá
gấu trúc, gấu trúc
giản đơn đen trắng ngồi một mình

Nguyễn Gia Linh, 12 tuổi

Khúc haiku có ý tưởng từ sự tương phản về mầu sắc: hoa lá muôn màu của rừng cây / mầu đen trắng của gấu trúc, động vật quý hiếm đang được bảo vệ khỏi sự tuyệt diệt. Đối với bé gái Nguyễn Gia Linh, sự đơn giản về sắc mầu (chỉ có đen và trắng) của chú gấu trúc hiền lành không hạ thấp mà còn nâng lên tầm quan trọng và sự đáng yêu của loài động vật quý hiếm này. Khúc haiku làm ta liên tưởng đến chiến dịch bảo vệ động vật quý hiếm và môi trường thông qua cái nhìn hồn nhiên đáng yêu của trẻ em. Khúc haiku cũng cho thấy sự trưởng thành trong tư duy thẩm mỹ của một tác giả tuổi thiếu niên: nhận thức được vẻ đẹp ở sự đơn giản chứ không quan trọng sự rực rỡ, lòe loẹt của sắc mầu như cách nhìn thông thường của trẻ em và ngay với cả không ít người lớn chúng ta.

sân trường rộn tiếng ve

râm ran giữa tàn cây phượng vỹ

ve hát lời chia tay

Nguyễn Thị Uyên Minh, 13 tuổi

Tuổi học trò luôn gắn liền với niềm vui được nghỉ hè sau nhũng tháng ngày vất vả, bận rộn với học hành và thi cử. Tiếng ve râm ran và những chùm hoa phượng đỏ nở rực khắp sân trường làm rộn lên trong tâm hồn các bé niềm háo hức ngày hè với những chuyến về quê thăm ông bà, những chuyến đi xa cũng bố mẹ và bao niềm vui trẻ thơ khác… Những chú ve sầu tấu lên khúc hát mùa hè trong những tàn cây phượng vỹ báo hiệu những ngày hè đầy thú vị đã đến, dù có chút nhớ nhung bạn bè lúc chia tay sau 9 tháng cùng ngồi bên nhau, nhưng chắc chắn trái tim các bé cũng rộn ràng như tiếng ve ran.

ta là chúa sơn lâm

bảo vệ khắp khu rừng xanh tốt

sự sống luôn sinh sôi

Lưu Bảo Khôi, 12 tuổi

Bé trai Lưu Bảo Khôi tìm thấy trong loài sư tử hình ảnh một vị chúa sơn lâm oai hùng đang ngự trên tảng đá cao, phóng tầm mắt giám sát muôn loài, giữ gìn trật tự trong khu rừng xanh hoang dã để bảo đảm sự sống luôn sinh sôi, nẩy nở.

buổi trưa hè gió mát

hươu con ghé sát vào hươu mẹ

“Mẹ ơi, bầu trời kia”

Trần Thục Anh, 12 tuổi

Trong khi đó, bé gái Trần Thục Anh lại tìm thấy ở loài hươu hiền lành hình ảnh ấm áp của tình mẫu tử. Một chú hươu non nép mình bên mẹ, tìm sự chở che trước mọi hiểm nguy để được yên tâm thả mình vào làn gió mát và ngắm nhìn bầu trời trong xanh vô tận trong một buổi trưa hè trong rừng xanh.

trăng rơi xuống
con nhện
giăng tơ hứng trăng

Nguyễn Uyên Trang, 12 tuổi

Khúc haiku xuất sắc, ngắn gọn (3 / 2 / 4) chỉ gồm có 9 từ nhưng rất tinh tế, bất ngờ, đầy trí tưởng tượng hồn nhiên, nhận ra mối liên quan giữa hai hình ảnh tưởng chừng như độc lập, không liên quan gì với nhau: mặt trăng đang lặn trên bầu trời đêm và con nhện đang cần mẫn và lặng lẽ giăng tấm mạng nhện trên mặt đất. Bé gái Nguyễn Uyên Trang đặt hai hình ảnh cạnh nhau và qua đôi mắt trẻ thơ phát hiện ra một mối liên quan giữa hai sự việc độc lập mà trên thực tế hai sự việc này không có mối liên hệ hữu cơ/tất yếu nào cả. Chỉ có trí tưởng tượng bay bổng và trái tim trong trắng, ngây thơ, hồn nhiên của tuổi thơ mới kết nối được hai hình ảnh độc lập ấy và lý giải được mối quan hệ một cách thật trẻ con, thật dễ thương và lãng mạn: hóa ra vì sợ mặt trăng rơi xuống đất vỡ tan nên chú nhện giăng tấm lưới tơ để hứng như ta đang đưa đôi bàn tay để hứng và nâng niu một quả trứng, một bông hoa đang rơi. Ôi, con nhện nhỏ nhoi, tội nghiệp (đôi khi trông hơi xấu xí!) nhưng thật đáng yêu đang cuống quýt giăng tơ để cứu chị Hằng cho chúng ta trong khi trái tim của chúng ta, những động vật cao cấp duy lý, biết suy nghĩ (Homo sapiens), thì dửng dưng, vô cảm vì ta đã quá biết: “Trăng lên rồi trăng lặn” là quy luật tự nhiên của đất trời!

đoàn hồng hạc di cư
lội mây, lội cả vào vũ trụ
hồ nước trong in bóng

Trần Thanh Ngân, 14 tuổi

Bé gái Trần Thanh Ngân bằng trí tưởng tượng phong phú của mình từ hình ảnh đàn hồng hạc bay trong mây đã liên tưởng đến một chiều kích rộng lớn, bay bổng hơn, bao la hơn: những con hồng hạc nhỏ bé như muốn bay vào vũ trụ. Hai hình ảnh đặt kề nhau: “Lội mây, lội vào vũ trụ / in bóng trên mặt nước hồ” thể hiện một cái nhìn tươi mới, đầy phóng khoáng, tự do về đàn hồng hạc di cư đang bay trên bầu trời đầy mây.

chú ếch ngồi đáy giếng
chú ta thường hay hỏi tại sao
bầu trời lại bé thế

Đặng Nhật Minh, 11 tuổi

Khúc haiku độc đáo dựa trên ý của một thành ngữ Việt Nam “ếch ngồi đáy giếng”. Chú bé trai hiếu động, tinh nghịch Đặng Nhật Minh hàng ngày sau giờ học, chắc vẫn bầu bạn, tâm tình với những người bạn nhỏ: chú ếch dưới đáy giếng, con cóc cụ trong góc vườn hay xó nhà, chú ve sầu ca hát suốt mùa hè, con dế trũi đen thui trốn trong hang đất … Chỉ có chú bé Đặng Nhật Minh mới có khả năng “trò chuyện” và hiểu được “tâm sự” của những động vật bé tí này nên em đã coi chú ếch là một động vật biết tư duy, biết thắc mắc về bầu trời quá nhỏ bé và biết trăn trở ngày đêm tìm câu trả lời. Khúc haiku thể hiện cách nhìn hồn nhiên, đầy cảm thông của trẻ thơ đối với thân phận con vật bé nhỏ đáng yêu đang bị “cầm tù” dưới đáy giếng với câu hỏi khắc khoải chưa được giải đáp của nó: tại sao bầu trời lại bé thế? Hoàn cảnh sống làm chú ếch không hiểu tại sao bầu trời chỉ bé bằng cái miệng giếng. Trong khi đó rất nhiều người, được gọi là người lớn, nhưng “kiêu ngạo”, “cố chấp”, “thiển cận” không chịu mở mang tầm hiểu biết mà lại dám coi bầu trời mênh mông vô tận chỉ nhỏ bằng cái vung nồi trong xó bếp nhà mình: “coi trời bằng vung”!

Ngoài 8 khúc haiku được Ban Giám Khảo bình chọn giải nhất trên đây, trong 38 bài lọt vào chung kết cũng còn những khúc haiku khá đặc sắc dù rất tiếc không được bình chọn.

xin chào chú bướm nhỏ
cậu đi chơi đâu mà xinh thế?
tớ đi lấy phấn hoa

Ngô Uyên Linh, 9 tuổi

Bé gái Ngô Uyên Linh đã nhân cách hóa chú bướm bằng đôi mắt và tâm hồn trẻ thơ thật đáng yêu. Với Ngô Uyên Linh, trẻ em khi đi chơi thì phải mặc đẹp và tất cả trẻ em tất nhiên đều rất xinh xắn. Các chú bướm luôn xinh đẹp và đầy mầu sắc nên tác giả khẳng định phải hỏi chú bướm định “đi chơi đâu” chứ không phải là “đi đâu”? Cuộc đối thoại dễ thương giữa hai người bạn trẻ: cô bé và chú bướm. Câu trả lời của chú bướm là “tớ đi lấy phấn hoa” hơi bất ngờ với tác giả (chú bướm không đi chơi như tác giả vẫn nghĩ và đặt ra trong câu hỏi, mà là “đi làm việc”, đi hút mật hoa đúng với tập tính loài bướm). Cuộc trò chuyện, hỏi đáp đầy thú vị và bất ngờ. Nếu thay cụm từ “đi chơi đâu” bằng cụm từ “đi đâu” khúc haiku đã không gây được sự bất ngờ, hồn nhiên rất dễ thương và giảm đi rất nhiều sức nặng của ngôn từ trong khúc haiku cũng xinh xắn như bé gái và chú bướm đáng yêu này.

ngoài kia trời trong xanh
có con mèo ngồi bên cửa sổ
đón ánh nắng ấm áp

Hoàng Trần Minh Trang, 12 tuổi

Nhận xét tinh tế và dễ thương của bé gái Hoàng Trần Minh Trang về tập tính của loài mèo, vật nuôi thân thiết của bé: hay ngồi trên bậu cửa sổ, mắt lim dim sưởi nắng, nhất là trong những ngày mùa đông hiếm hoi có ông Mặt Trời xuất hiện. Chắc chắn con mèo này phải là vật nuôi thân thiết của bé, được bé yêu thương, chăm bẵm hàng ngày.

trong một đêm tuyết lạnh
nhưng có một lùm cây xanh tốt
là nơi có tình thương

Phạm Quỳnh Anh, 11 tuổi

Khúc haiku của bé gái Phạm Quỳnh Anh thể hiện cái nhìn đầy trí tưởng tượng và thấm đẫm tình yêu thương của trẻ thơ. Tuyết trắng mùa Đông bao phủ đất trời lạnh buốt. Tưởng chừng như vạn vật đều đã chết, đều đông cứng lại trong cái lạnh cắt da, cắt thịt, trong cái tủ lạnh thiên nhiên khổng lồ. Các loài cây rụng hết lá chỉ trơ lại thân cành khẳng khiu, khô cứng. Nhưng tại sao vẫn có một lùm cây xanh tốt (chắc chắn phải là những cây thông loài lá kim)? Với cái nhìn trong trẻo và tâm hồn trẻ thơ, không cần viện đến các lý do khoa học, tác giả đã lý giải một cách rất duy tình, rất hồn nhiên và rất sâu sắc: đó là nơi có tình thương. Tất nhiên rồi, trong tâm hồn của bé nơi nào có tình thương thì ở đó có sự sống. Tình thương yêu của con người là vũ khí tuyệt vời không chỉ giúp con người mà cả vạn vật nữa - theo suy nghĩ của bé Quỳnh Anh - trong những hoàn cảnh khốn khó nhất, tuyệt vọng nhất vẫn có thể vượt qua để tồn tại trên cõi đời, giống như lùm cây xanh kia vẫn không rụng lá để tồn tại giữa mùa Đông tuyết trắng ngập tràn.

Đọc những khúc haiku hồn nhiên, tươi tắn nhưng không kém phần sâu sắc của các bạn nhỏ tham dự cuộc thi dù được giải hay chưa được giải, cùng với đất trời man mác hơi xuân, thấy lòng như đôi chút trẻ lại. Rồi bỗng dưng thấy tiếc nuối làm sao khi những cọ xát khốc liệt, bạo tàn của cuộc đời này, những lo toan bé mọn của cuộc sống thường nhật này đã từ lâu lắm rồi tước đoạt của ta biết bao suy nghĩ hồn nhiên, những cái nhìn trong trẻo, tươi tắn đối với cuộc sống chung quanh. Tự nhiên, lại bồi hồi nhớ đến Mihai Eminescu, thi hào dân tộc và danh nhân văn hóa của Rômânia (1850 – 1889) trong bài thơ “O, rămâi!” (Hãy ở lại cùng em!) đã có những dòng cảm thán bất hủ về nỗi tiếc nuối tuổi thơ đã mất:

… Astăzi, chiar de m’as intoarce

A ‘ntelege n’o mai pot

Unde esti, copilărie,

Cu pădurea ta cu tot?

Mihai Eminescu

… Dù em muốn trở lại

Chẳng thể quay ngược dòng

Tuổi thơ yêu dấu xa rồi,

Đâu rừng xưa của một thời đã qua?

Lê Văn Truyền chuyển ngữ

Bài thơ con niềng niễng- Nguyễn Thánh Ngã

alt

từ lớp bùn non

niềng niễng cựa mình bay

thoát cõi hồng trần

(Nguyễn Thị Như Hà)

Trước khi làm thơ haiku, tác giả Nguyễn Thị Như Hà đã làm các thể thơ khác. Nhưng thơ haiku như mưa thấm đất, hồn nhiên chảy theo mạch cảm xúc, và những bài thơ mang hương vị cuộc sống ra đời...

Trong chùm thơ rất hay của Như Hà, tôi chọn bài "con niềng niễng". Bài thơ dân dã này, nói lên cái "cựa mình" một cách kỳ diệu.

Nước ta là một nước nông nghiệp, đa số nông dân, ai cũng bước ra từ gốc rạ nên thấu hiểu "lớp bùn non" lắng đọng này. Bùn là nơi những "hạt ngọc của trời" được kết tụ, cũng là nơi những đóa sen tinh khiết thơm tho nhất được vươn lên...

Trong đó, một con niềng niễng sẽ xuất hiện. Và nó "cựa mình" bay lên!

Câu thơ viết đúng phẩm chất haiku, về cái khoảnh khắc rất gợi và bất chợt. Đây là dấu ấn mà một bài haiku hay cần có, để lại trong lòng độc giả hành động của con vật được xem là loài sâu bọ thủy sinh, bỗng cất cánh bay lên một cách mạnh mẽ, và đẹp đẽ lạ thường.

Sỡ dĩ bài thơ có điểm nhấn để bay lên, là nhờ chiếc đòn bẫy rất tinh vi được cài đặt sẵn để thơ "cựa mình". Vâng, cái "cựa mình" của con "niềng niễng" làm thành một khoảnh khắc ấn tượng nhất, tạo ra ý thơ hay nhất bởi một từ "cựa" đắc địa.

Thơ haiku không có đề, nhưng người ta vẫn gọi bài thơ "Con ếch", "Con quạ" của Basho, thì đây bài thơ "Con niềng niễng" của Như Hà cũng vậy; dẫu không dám so sánh khập khiểng, nhưng tôi vẫn cho rằng đây là một trong những bài haiku hay trong tiếng Việt.

Bài thơ gợi cho độc giả những cảm xúc rộng lớn về không gian nghệ thuật, và sự sáng tạo. Ở đây thi hứng là yếu tố quyết định, làm thăng hoa câu chữ ngỡ như chân chất và bình dân.

Bởi mọi thứ có thể ngủ yên, nhưng cú "cựa mình" của một vật luôn tạo ra sức sống mới...

Và "thoát cõi hồng trần" là cách thi vị hóa đầy chất thơ!

N.T.N

Khúc Haiku lạ của Sekitei Hara- Lê Văn Truyền

alt

The hands of a woman exist
to remove the insides of the spring cuttlefish

R. Burch phỏng dịch

Đôi tay người đàn bà

đang bóc nội tạng

con mực mùa Xuân

Lê Văn Truyền dịch

Khi đọc phiến khúc haiku trên đây được R. Buch tuyển chọn trong chuyên khảo “Một trăm bài haiku hay nhất mọi thời đại”, thoạt đầu tôi không hiểu tại sao nó lại được đánh giá cao như vậy. Cho đến khi, trong một buổi chiều chủ nhật rảnh rỗi mới đây, tình cờ được xem một chương trình của kênh Discovery Asia về chủ đề ẩm thực Nhật Bản. Chương trình có nhắc đến món mắm mực “Shiokara”.

Shiokara, một món ăn có mùi rất "lạ" của ẩm thực Nhật Bản, thường được làm từ mực cắt miếng nhỏ và ngâm với chính nội tạng của chúng (là nguồn enzym để lên men) cùng 10% muối và 30% bột gạo. Các nguyên liệu khác làm món này là sốt ớt shichimi, wasabi, rượu gia vị mirin hoặc vỏ quả yuzu bào... để tăng hương vị. Để làm mắm mực shiokara ngon các nguyên liệu trên phải được lên men trong vòng 6 tháng cho đến 3 năm, gần như cách lên men cá để làm nước mắm ở Việt Nam. Vì vậy, ta hiểu tại sao người phụ nữ Nhật Bản trong phiến khúc haiku của Sekitei Hara lại phải chăm chú, cẩn thận bóc nội tạng (dạ dày của con mực, nơi chứa nhiều enzym tiêu hóa protein) để bảo tồn nguồn enzym giúp cho quá trình “ngấu” của thân con mực mùa Xuân, vốn có hàm lượng protein rất cao, để làm nên món mắm mực.

Món mắm đặc trưng này của người Nhật đã có từ hàng ngàn năm trước. Vào thế kỷ XI, khi người Viking (Bắc Cực) ăn món cá mập lên men thì người Nhật lại quen thuộc với mắm mực shiokara như một cách dự trữ thức ăn cho mùa đông. Khi thực phẩm chưa đa dạng, món ăn này có thể cung cấp cho người Nhật protein, các loại vitamin và khoáng chất nhưng lại chứa rất ít calo và chất béo có hại cho sức khỏe.

Với lịch sử đánh bắt hải sản lâu dài của Nhật Bản, món mắm mực shiokara có lẽ là một trong những loại mắm hải sản đầu tiên được tạo ra mà vẫn còn phổ biến và trở thành “đặc sản” ẩm thực Nhật Bản cho đến ngày nay. Tờ Telegraph của Anh khi nhắc đến món shiokara đã phải thốt lên: “Đây là món ăn kỳ lạ nhất thế giới mà ta phải ăn một lần trước khi chết”. Có lẽ vì đây là món ăn “quốc hồn, quốc túy” của Nhật Bản nên nó nhất thiết phải đi vào thơ ca, mà một trong những minh chứng là đã được Sekitei Hara đưa vào phiến khúc haiku nổi tiếng nói trên.

Liệu có haijin Việt Nam nào sáng tác được khúc haiku về món “mắm tôm” của dân tộc chúng ta với hy vọng được tuyển chọn vào 100 hay chí ít 1.000 khúc haiku hay nhất mọi thời đại?


CHÚ THÍCH:

Sekitei HARA (1889 -1951): Sinh trưởng ở Yoshino, có nhiều tác phẩm công bố trên Tạp Chí Haiku “Hototogisu” do Kyoshi Takahama chủ biên. Trong thời đại Taisho, các tác giả Kijo Murakami (1865 ~ 1938), Suiha Watanabe (1882 ~ 1946), Fura Maeda (1884 ~ 1954), Dakotsu Ida (1885 ~ 1962), Sekitei Hara (1889 -1951) ... đã tập hợp thành nhóm “Các nhà thơ Hototogisu Taisho” chủ trương cách tân haiku. (Theo Mushimegane, Histoire du Haiku)

Thời đại “Bốn chấm không”- Lê Văn Truyền

alt

Thời đại “bốn chấm không”

cưới một nàng robot tình yêu

có đứa con “nửa người - nửa máy”


Cuộc sống nhạt nhòa

chiếc điện thoại thông minh

bỗng biến thành lung linh


Không cần bấm cò súng

facebook có thể giết người

bằng cú bấm “like”


Mạng xã hội ồn ào

rao bán tâm hồn, thể xác người

như giữa chợ trời


Thế gian ngàn vạn năm

chỉ có hai cõi Âm, Dương

nay thêm “Cõi sống ảo”


Chiếc smartphone hỗn hào

réo lên ồn ào

khi ta đang yêu


*Thời đại “Cách mạng công nghiệp 4.0”


MẠNG XÃ HỘI

Mạng xã hội ồn ào

rao bán tâm hồn, thể xác người

như giữa chợ trời


Gần đây, mạng xã hội chấn động với thông tin do Sunday Telegraph (Anh) tung ra: Facebook đã sử dụng hệ thống phần mềm phức tạp để thu thập thông tin từ hoạt động của 50 triệu người sử dụng (trong đó theo giới truyền thông có khoảng 400.000 người sử dụng facebook ở Việt Nam) bất chấp các thiết lập về quyền riêng tư do chính Facebook đặt ra. Các thông tin này có thể là các thông tin về bạn bè, gia đình, trường học, nhấn “like” trên tường, từ khóa tìm kiếm, tin nhắn và chuyện trò trực tuyến … ngay cả khi các thông tin này được xóa bởi người sử dụng. Sau đó, Facebook bán những thông tin này cho các hãng quảng cáo. Có người nói “trên facebook mọi hành tung của bạn đều được ghi chép và lưu trữ. Vấn đề là chúng sẽ được rao bán khi nào … có giá”. Người khác nói “Chúng ta đang bị Facebook, Apple, Google bán … như bán rau”. Thông tin do Sunday Telegraph đưa ra đã làm cho Mark Zuckerberg, một trong những tỷ phú đô la trẻ tuổi nhất thế giới, nhà sáng lập kiêm CEO của Facebook đối diện pháp luật với cuộc điều tra của Ủy Ban Thương Mại Liên Bang Mỹ và phải điều trần trước Quốc Hội Hoa Kỳ. Và mấy dòng tin ngắn ngủi của Sunday Telegraph đã làm cho tài khoản cá nhân của Ông chủ Facebook chỉ trong nháy mắt bốc hơi 9 tỷ đô la trong tổng số thiệt hại 60 tỷ đô la giá trị vốn hóa thị trường của Facebook.

Thế mới hay, Facebook không phải là một sân chơi miễn phí. Khi chơi với “Ông Tây” Mark Zuckerberg chúng ta phải luôn luôn nhớ nằm lòng một câu nói của người phương Tây: “Không có bữa ăn trưa nào là hoàn toàn miễn phí”. Dù bạn có được mời một bữa ăn trưa miễn phí thì hãy nên nhớ rằng đến một ngày nào đó, bằng một cách nào đấy, bạn phải trả món nợ hoặc ít nhất bạn phải “đáp lễ” bằng một bữa theo nguyên tắc mà các cụ nhà ta vẫn nói: “có đi, có lại mới … toại lòng nhau” hoặc “ông đưa chân giò, bà thò chai rượu”. Trớ trêu là rất nhiều khi ta được mời một bữa “cơm bụi” miễn phí nhưng phải đáp lễ bằng một tiệc trưa hoành tráng trong một khách sạn 6 sao. Và cũng không khỏi có trường hợp ông đưa chân giò thịt sạch nhưng đổi lại bà lại thò một chai rượu dỏm.

Với chúng ta, tâm hồn mỗi người như một cô gái có những nét đẹp riêng. Dù vậy, cũng không nên trần truồng phô hết tấm thân ngà ngọc của mình ra trước mắt thiên hạ. Một vẻ đẹp e ấp, kín đáo nhiều khi còn quyến rũ mãnh liệt hơn sự trần trụi cả về thể xác và tâm hồn.

LVT

Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay668
mod_vvisit_counterHôm qua705
mod_vvisit_counterTất cả187735
Hiện có 40 khách Trực tuyến