Nụ cười kim cương- Vũ Tam Huề

Sáng 12 / 5 / 2019 xem chương trình " Cuộc sống và những điều kỳ diệu " trên HTV 7 về hoạt động của Trung tâm " Kim cương lấp lánh " nuôi dậy và chạy chữa cho các em bé xương thủy tinh.

alt

Xem chương trình này, thấy các em nhỏ xương thủy tinh trước chỉ có thể nằm một chỗ, mọi sinh hoạt có người nâng đỡ. Nay các em có thể đi lại, tập thể dục thể thao, tập yoga, ca hát...Ngắm nhìn các em cười, mắt long lanh....Phương Trung đã chảy nước mắt.

Rất tri ân những nhà hảo tâm, các nhà khoa học, bác sỹ và nhiều người khác đã mang tới cho những mảnh đời bất hạnh phần nào sức khỏe, niềm tin và nụ cười đối với cuộc sống .

Nụ cười kim cương
đôi môi em bé
xương thủy tinh

Với Phương Trung cảm xúc và sáng tác thơ Haiku hiện đại ( Haiku mở ) là cập nhật, đồng điệu và đồng hành với hơi thở của cuộc sống, của xã hội hàng ngày hàng giờ diễn ra quanh ta.

Vũ Tam Huề

Tứ khúc III- Nguyễn Thánh Ngã

alt

1.Nguyễn Thị Kim

Bầy ong rời tổ

trăm lỗ hổng

khoảng lặng

Bài thơ diễn tả tấu khúc của chiếc phong cầm. Âm vang như tiếng đập cánh của bầy ong rời tổ. Nhịp điệu dập dồn, rồi đột ngột im vắng. Mỗi sát-na im vắng, tạo ra một lỗ hổng ghê gớm!

Và hàng trăm lỗ hổng ghê gớm đó, bày ra từng số phận. Mỗi con ong lớn lên, mang đi một số phận trên đôi cánh của mình. Ôi, mỗi cái lỗ hổng của thời gian, của vũ trụ không ghê gớm bằng cái lỗ hổng của đời người. Nhà thơ, Haijin Nguyễn Thị Kim với "cái nghe" bất tuyệt, đã ghi lại được một khoảng lặng "vỡ tổ" của bầy ong, chính là khoảng lặng trong tâm hồn, sau khi đã ồn ào, đã tất bật vì miếng cơm manh áo...

Tác giả đã dùng thủ pháp ẩn dụ, và tính đặc trưng "khoảng không" trong thơ haiku, khiến cho độc giả đọc được cảm xúc của những "khoảng lặng", chuyển động thành tĩnh, chuyển thanh thành vô thanh...

Với tính thẩm mỹ cao như vậy, bài thơ đem đến cho người thưởng ngoạn một siêu cảm hiện đại về thế giới chung quanh...


2.Nguyễn Văn Kiên

Một cánh chim

sa vào tầm mắt

chia đôi trăng rằm

Có những bức họa, người xem phải động não mới hiểu được phần nào ý tưởng của tác giả. Lại có những bức họa chưa xem, cảnh đã đập vào mắt. Đó là bức họa bằng thơ haiku của Haijin Nguyễn Văn Kiên.

Bầu trời như một màn hình lớn, cánh chim ngày càng được phóng đại. Nó như mũi tên vút lên, lao vào tâm điểm. Cuối cùng, là xẻ một đường bay ngoạn mục...

Thi ảnh diễn đạt xuất sắc, gây nhiều cảm xúc trong kỹ thuật điện ảnh, lại tạo ra hiệu ứng độc đáo trong thơ haiku, biến cái vô hình thành cái hữu hình:"chia đôi trăng rằm"...

Chợt nhớ Nguyễn Du viết:

"Vầng trăng ai xẻ làm đôi/

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường"...

Một "vầng trăng ai xẻ làm đôi" đầy tâm sự, một vầng trăng chia đôi bởi cánh chim là một bất ngờ trong vạn cái bất ngờ...

Haiku chính là nắm bắt cái bất ngờ ấy, trong khoảnh khắc thực tại, đến độ tuyệt diệu là tài hoa của tác giả...


3.Kiều Lam

Nước mắt nhân loại

không tưới tắt

ngọn lửa

Trong tiếng Việt, bất cứ thể loại thơ nào thì cách dùng vần bằng trắc đều có chủ ý. Vần bằng để diễn tả sự dịu dàng, vần trắc đặc tả sự khúc mắc. Ví dụ trong bài Tây Tiến, nhà thơ Quang Dũng viết:"Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm...", người đọc sẽ nhận ra ngay sự khó nhọc khi leo lên con dốc này...

Nhà thơ Kiều Lam cũng vậy, bài haiku trên đây sử dụng "toàn trắc" là có chủ ý. Cả nhân loại mà khóc, thì có thể "trôi" quả đất ra khỏi quỹ đạo. Mãnh liệt như thế, mà không "tưới tắt" được ngọn lửa, thì lửa này không phải lửa thường rồi!

Đây có phải là lửa Hỏa Diệm Sơn trong Tây Du Ký, mà Tề Thiên Đại Thánh phải đi mượn quạt Ba Tiêu của Thiết Phiến Công chúa không?

Vâng, chính là ngọn lửa ấy, lửa của lòng thù hận!

Từ khai thiên lập địa, ngọn lửa này chưa bao giờ tắt hẳn. Nó âm ỉ cháy qua bao triều đại, gặp cơ hội ngọn lửa lại bùng lên thiêu đốt nhân loại trong những cuộc chiến đẫm máu. Đệ nhất, đệ nhị thế chiến, là một bằng chứng đau xót cho ngọn lửa này. Đức Phật đã dạy "tham sân si" là ba chất độc, kích hoạt ngọn lửa lòng người.

Một thông điệp lớn chỉ có chín từ trong bài thơ nhỏ, như giọt nước mắt, khóc cho nỗi đau không tắt ấy.

Và sẽ không bao giờ tắt, nếu con người không tỉnh ngộ...


4.Phùng Gia Viên

Đêm

vỡ vụn

một tiếng rao

Bài thơ nhỏ mà chứa tấm lòng rộng lớn, tấm lòng dành cho những mảnh đời thấp bé, cơ cực. Một tiếng rao ở sau cuối, nhưng lại vang lên trước nhất trong bài thơ, tiếng rao ấy khiến cho đêm vỡ vụn vì một mãnh lực ghê gớm: mãnh lực đem lại sự sống!

Tiếng rao ấy xuyên cả màn đêm, xuyên thấu trái tim những con người có lòng nhân ái bao la.

Nhà thơ, Haijin Phùng Gia Viên đã gọi đúng niềm xúc động của haiku là truyền cảm. Vì nếu thơ haiku không truyền cảm, thì đích thị là bài haiku dở. Dở và hay chỉ cách một lằn ranh của tài năng, cho nên viết ít mà không thiếu, viết nhiều mà không dư, mới là cái tài của người làm thơ. Thơ haiku Việt trong lúc giao mùa, không thể tránh khỏi điều này. Tuy nhiên, chúng ta cần loại ra những thứ thơ làng nhàng, êm êm, đèm đẹp mà thiếu vắng chất thơ, thiếu vắng ngọn lửa và cảm xúc chân thực.

Quả thật, thơ haiku dễ làm khó hay. Nhưng với tài năng có thực, tác giả đã ghi được tiếng lòng của mình vào tác phẩm, và gợi được lòng trắc ẩn của người đọc về một tiếng rao...

Tiếng rao bé bỏng, vỡ vụn, mất hút trong đêm dài lạc phố...

SG tháng 5.2019

N.T.N

Đôi điều bàn luận về "Chơi thơ"- Lý Viễn Giao

Sau khi bài viết “Chơi thơ” được đưa lên trang website Haiku, tôi rất vui vì thấy có người nối lời bàn luận - Haijin Nguyễn Thánh Ngã ! Anh đã nói về tôi bằng nhiều lời hơi quá với cái mà tôi có nên hơi bị mắc cỡ. Còn anh nói về bài Chơi thơ, tôi thấy đôi điều cần làm cho rành mạch hơn.

alt

Trước hết Thánh Ngã nói suy nghĩ của mình với việc chơi thơ. Anh viết “…tôi có thể nói rằng tôi hoan nghênh mọi cách chơi tao nhã và nên thơ; và hoàn toàn đồng ý với nhà thơ rằng, có cách chơi thơ đó, mà không đồng ý gọi đó là thơ Haiku.”. Ở đây có sự lầm lẫn giữa khái niệm Thơ và Chơi thơ ! Thơ được viết theo các thể loại, chơi thơ là những cung cách khi sử dụng hoặc sáng tác thơ. Có cách chơi nào là thơ lục bát, thơ tứ tuyệt hay thơ Đường luật…đâu ? Có ai gọi việc chơi này là thơ Haiku đâu ?

Haijin dành ít dòng đề cập đến thơ Đường luật. Tôi thấy sao mà giống cách nhìn của một số người đến thế. Thẩy đều cho rằng thể loại này đã lỗi thời, là sản phẩm của Trung Hoa xưa mà nay chính họ đã bỏ đi, là gò bó và cả là cầu kỳ, không có hồn, không hay... Tôi không là tín đồ của thơ Đường luật nhưng cũng được xin thưa rằng, mỗi thể loại thơ đều có cái hay riêng, phù hợp với đề tài mà tác giả muốn thể hiện. Trên đất nước hình chư S này chẳng nhan nhản các câu lạc bộ thơ Đường luật từ cấp thôn xã đến cấp quốc gia đó sao. Xin viện dẫn bài thơ Đường luật của một tác giả chưa thành danh để tham khảo. Bài "Khúc Đông" :

Gió bấc xô mây đọng cuối trời

Mưa luồn tán lá ngả nghiêng rơi

Cành cong ngõ trước run rung rẩy

Lá rộng vườn sau tốc tả tơi

Trà đượm hương xưa xui tiếng dạ

Thơ say vần cũ giục cơn đời

Có về đông trước cho theo với

Lượm mảnh nhân tình thả bóng chơi !

Đây chỉ là thơ của một tiểu tốt, còn như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Nguyễn Khuyến… thì chớ bảo là không hay !

Nói về sự “được mất” của việc chơi thơ tôi hơi ngạc nhiên. Thôi thì cái được không bàn nữa hãy xem cái mất khi ta chơi với, chơi bằng thơ Haiku. Tại sao khi chơi lại làm cho thơ Haiku “….không còn là thể thơ được mệnh danh là ngắn nhất thế giới nữa!”(Trích nguyên bản từ bài viết của Thánh Ngã) ? Các khúc thơ vẫn còn nguyên vẹn cả hồn cốt đó thôi. Dĩ nhiên cả chùm, cả liên khúc thì sao là bài thơ Haiku được. Xin làm một so sánh giản đơn và thô thiển này để minh chưng cho điều vừa nói. Ta lấy một số sản phẩm cùng loại (như những chiếc ghế chẳng hạn) đặt vào trong một phòng thì mỗi cái ghế vẫn là nó, còn cái phòng bây giờ thành ra phòng chứa ghế chứ hiển nhiên không là ghế. Chùm thơ ví như cái phòng chứa những cái ghế có đặc điểm chung nào đó về chất liệu hay kiểu dáng. Cao hơn thế, liên khúc thơ lại giống cái phòng chứa những ghế không chỉ có đặc điểm chung mà khi kết cấu chúng lại theo cách đã định sẽ tạo nên một sản phẩm mới.

Lại nữa, thơ nào mà chẳng có tính độc lập, riêng gì thơ Haiku. Nó độc lập từ thể loại đến ý tưởng, từ đề tài đến nội dung, từ cảm xúc đến kỹ thuật…Ấy thế mà người ta cũng ghép nó vào một chùm, một cụm như “Chùm thơ biển”, “Trang thơ Quan họ”… đó thôi. Mỗi bài trong đó có mất đi cái gì đâu ? Cũng vì thơ Haiku cực ngắn mà người ta ít đặt tiêu đề cho từng khúc, cứ để nội dung của đoản khúc ấy tự nói. Mặt khác đôi khi lại dẫn đến hiện tượng tiêu đề dài ngang ngửa với nội dung thơ thì vô duyên. Việc đặt tiêu đề cho nhiều bài thơ cùng đề tài hiện đã được nhiều người dùng. Nếu tôi không lầm thì chính haijin Thánh Ngã đã làm như thế ít nhiều lần.

Cuộc chơi nào cũng vậy, tính ràng buộc hầu như không có bởi sở thích chẳng ai giống ai. Khi viết bài “Chơi thơ” tôi chỉ muốn nói rằng mình đã làm thế mà không dám xui ai. Cảm ơn Haijin Thánh Ngã đã để mắt đến bài tôi viết và nối lời. Cảm ơn chủ tịch, tổng biên tập, thi lão Đinh Nhật Hạnh đã xúc tác tạo nên cuộc trao đổi này. Còn điều gì chưa đáp ứng được nhị vị và bạn bè xin được trao đổi tiếp.

LVG

Trao đổi về “Chơi thơ”- Nguyễn Thánh Ngã

alt

(Trao đổi về bài viết "Chơi thơ" của nhà thơ Lý Viễn Giao)

Đọc bài viết "Chơi thơ" của nhà thơ, Haijin Lý Viễn Giao đăng trên Haiku Việt ngày 7 tháng 5 năm 2019, tôi cảm thấy đây là một câu chuyện rất thú vị. Ông đưa ra một quan niệm về thú chơi tao nhã của người xưa, và người nay, với lập luận vững chắc, có ý tứ sâu xa...

Đồng thời, ông sáng tác thơ để minh chứng cho lập luận của mình. Và cuối cùng, nhà thơ dạm hỏi:"có nên và có dám làm điều này không với thơ Haiku, xin còn chờ nơi nghĩ suy của bè bạn". Nhà thơ luôn chí tình, và thấu đáo mọi nhẽ ở đời mới rào trước đón sau, rất coi trọng độc giả là bạn bè văn chương như vậy. Câu hỏi này của ông, khiến nhiều bạn văn đắn đo, suy nghĩ.

Trước hết, tôi nhận được tin nhắn của Nhà thơ Lão thành CT. Đinh Nhật Hạnh, Ngài hỏi rằng: "Nhà thơ ngẫm ngợi gì qua bài viết "Chơi thơ" của nhà thơ LVG vừa đăng trên Haiku Việt, xin trao đổi thỏa mái". Vậy là cánh cửa "trao đổi" đã được mở ra... Nhờ vậy, tôi mạnh dạn viết vài lời thô thiển này, xin trao đổi để học hỏi là chính, cũng là gởi chút tâm huyết với thơ Haiku mà mình yêu quý bấy lâu nay.

Phải nói rằng, nhà thơ Lý Viễn Giao là một nhà giáo chân chính, nên những suy ngẫm của ông đều sâu sắc và có tính sư phạm rất cao. Không phải ngẫu nhiên, ông đưa ra bài "Chơi thơ" để thăm dò dư luận, ý tứ của ông luôn đau đáu bên lòng, là câu hỏi mà ông đã cùng tôi mạn đàm bên lề câu chuyện:"Thế nào là một bài Haiku đúng nghĩa?". Bởi thật ra, chúng ta tham gia sáng tác Haiku, nhưng nếu hỏi thế nào là một bài haiku trọn vẹn, thì rất khó trả lời... Dĩ nhiên, cách trả lời không bao giờ là tất cả, cho nên câu hỏi trên vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngõ...

Tôi đồng ý với nhà thơ rằng có nhiều người đang dùng thơ Haiku "ngộ nhận" về thơ haiku. Có lẽ do lỗi của chúng ta chăng? Nhưng như chúng ta biết, đây là cái lỗi khách quan, mà chúng ta phải chờ đợi, và lịch sử thơ Haiku Việt sẽ giải đáp chính đáng một ngày không xa...

Nếu cho tôi được phép trả lời câu hỏi của nhà thơ Lý Viễn Giao, và gợi ý "nghĩ gì" của CT Đinh Nhật Hạnh, thì tôi có thể nói rằng tôi hoan nghênh mọi cách chơi tao nhã và nên thơ; và hoàn toàn đồng ý với nhà thơ rằng, có cách chơi thơ đó, mà không đồng ý gọi đó là thơ Haiku.

Thứ nhất, cách chơi của thơ Đường lắm công phu, tôi không dám bài bác, ai chơi thì cứ chơi, nhưng để có lời trao đổi cho vui, thì lời của tôi là cách chơi này đã không còn phù hợp với thời đại chúng ta. Thơ Đường gò bó về niêm luật, lại còn thêm thuận nghịch độc, thủ vĩ ngâm vv... Người chơi tha hồ trổ tài về trí thông minh, cái lắc léo ghép chữ, mà không làm nên được cái hồn của thơ. Do đó, chỉ khoe được cái tài, mà không có thơ hay thật sự!

Thứ hai, nhà thơ Lý Viễn Giao hỏi:"Thơ Haiku có thể chơi được chăng?" Và ông trả lời giùm chúng ta là có. Tôi cũng nói có, được chứ sao không? Tuy nhiên, được thì được đấy, nhưng cũng có cái mất! Ở đây, cái "sự được" không quan trọng bằng cái "sự mất". Cái "mất" mới đáng tiếc hơn...

- Được những gì? Cái được rất to lớn, là có thể kết nối bạn thơ, học hỏi nhiều cách chơi hơn nữa, cũng là rèn luyện thêm nhiều kỹ thuật thơ, làm mới cuộc chơi thêm phần thú vị vv...

- Mất những gì? Xin thưa, chỉ có một cái mất ghê gớm là thơ haiku qua cách chơi như trên, nó đã không còn là thể thơ được mệnh danh là ngắn nhất thế giới nữa!

Nếu vậy, thì chúng ta cần gì phải dùng haiku thành từng chùm, đặt tên đề, và tạo ra liên khúc cho nó rắc rối. Chúng ta có thể dùng các loại thơ tự do, thơ Đường, hoặc lục bát kéo dài đến bao nhiêu cũng được, khỏi phải mang tiếng làm mất thơ haiku?!

Việc thơ haiku không dùng quý ngữ, có vần điệu, có tính từ xuất hiện là việc của hội nhập thế giới. Quý ngữ là vấn đề lớn, đang còn tranh luận giữa phái bảo thủ và phái tự do. Dù vài vấn đề trên có xảy ra, không đúng với haiku Nhật nguyên chất, nhưng nó vẫn giữ được bản sắc, và quan trọng hơn là cái khác biệt lớn nhất với mọi thể thơ trên thế giới là "ngắn nhất thế giới"!

Bởi vậy, nếu ai làm cho nó không còn ngắn nhất như nó vốn có, thì không còn được gọi với cái tên mỹ miều:"thơ haiku" nữa...

Còn việc đặt tiêu đề cho chùm thơ, tôi nghĩ là không nên, vì thơ haiku có tính độc lập rất cao, hầu như toàn triệt. Mỗi bài tự mang một số phận khác nhau, không hề liên quan đến bài khác. Cho nên, ai thích chơi thì cứ chơi, không nên vì cuộc chơi của riêng mình, mà làm mất đi một thể thơ độc đáo!

Theo hiểu biết hạn hẹp của tôi, nói về thơ haiku thì không bao giờ có khái niệm "chùm thơ cùng một chủ đề". Nhiều bài thơ haiku đánh số từ 1, 2, 3... đổ lên, thì gọi là một chùm, bởi thơ haiku là hoàn toàn độc lập và kiệm lời!

Nói nhiều thì không phải là thơ haiku rồi! Mỗi bài thơ tự có hương vị riêng của nó, việc "một chùm có ý trọn vẹn" là thể thơ khác chứ không phải haiku!

Hãy cùng nhau khẳng định một thể thơ độc đáo, có một không hai trên toàn cầu, chứ đừng biến nó thành cách "chơi" cho những khách chơi!

Những bài thơ haiku của nhà thơ Lý Viễn Giao, sáng tác để dẫn chứng là rất hay. Tôi rất thích vài bài ấy, nhưng quả thật, đọc kỹ thì chúng vẫn không hề có "máu mủ" gì với "chùm" hay "liên khúc" cả. Chúng vẫn là những bài thơ độc lập, tự chủ trong mọi cảm xúc, nếu có quan hệ chăng, là cùng một tác giả mà thôi.

Xin có một vài lời "mua vui" thô thiển, kính mong được sự chỉ dạy của các bậc cao nhân. Nếu tôi có lời gì sơ suất, kính xin được tha thứ. Và tôi hiểu, đây là cách gợi ý rất cao siêu của nhà thơ Lý Viễn Giao, để làm rộ lên sự tranh luận bổ ích cho một nền Haiku Việt còn đang chập chững. Thật ra, chúng ta tranh luận (tranh luận có văn hóa) là để học hỏi các bậc cao nhân, tranh luận để hầu giải đáp một phần nhỏ các vấn đề mà bấy lâu nay còn thắc mắc, tranh luận để khuấy động Haiku Việt thêm sôi nổi, và gọi mời các hội viên mới tham gia, làm giàu cho sáng tác của chúng ta.

Và công việc thầm lặng của chúng ta là sáng tác! Hãy sáng tác những bài haiku hay, như con tằm nhả những đường tơ lành lặn và đẹp đẽ nhất để may chiếc áo thơ sang trọng (và nếu được để đời), là ước muốn chung, và thực tế nhất của tát cả chúng ta.

SG tháng 5.2019

N.T.N

Hoa Fuji Tử Đằng trong thơ Haiku- Hồ Phương

Nếu như hoa hồng là biểu tượng về tình yêu của các nước phương Tây thì Hoa Tử Đằng đã trở thành biểu tượng của tình yêu bất diệt và mãnh liệt ở Châu Á. Hoa Tử Đằng có xuất xứ chủ yếu tại Trung Quốc và Nhật Bản.

alt

Ở mỗi quốc gia, Hoa Tử Đằng lại có một tên gọi khác nhau. Hoa tử đằng trong tiếng Anh là “Wisteria”, tiếng Pháp là “Glycine” và tiếng Nhật là “Fuji”. Trong Tiếng Việt gọi hoa này là “dây sắn tía”, hoa “Chu đằng” hay hoa “Đằng la”.

Ở Nhật, hoa Hoa Tử Đằng được xem là biểu tượng “hoa tình yêu vĩnh cửu”.Hàng năm vào giữa tháng 4 và tháng 5, có rất nhiều người đến công viên hoa Ashikaga nổi tiếng về hoa Tử Đằng để chiêm ngưỡng những bông hoa đầy sức quyến rũ với hai màu sắc trắng, tím là chủ đạo .

Ở Nhật Bản, hoa Tử Đằng đã được trồng từ hàng trăm năm trước, được coi như là một trong những loại hoa mang sự kính ngưỡng. Với đặc điểm là hoa luôn mọc thành chùm, điều này được xem là tượng trưng cho ý thức đoàn kết của dân tộc Nhật Bản. Hoa Tử Đằng cũng đã xuất hiện trong gia huy của nhiều dòng tộc lớn của Nhật. Thời gian hoa sống rất lâu và chỉ nở theo mùa. Để cây ra hoa lại mất một thời gian dài chăm sóc, vun trồng, phải kiên nhẫn chờ đợi như sự thách thức với con người, chờ đợi thời gian dài đến khi cây nở hoa, ví như tình yêu cũng phải cần sự vun đắp, kiên nhẫn, chân thành, một tình yêu cháy bỏng, đậm sâu thì mối tình ấy mới đâm hoa kết trái và bền lâu. .Hơn nữa hoa còn mang hai màu đặc thù đó là tím và trắng, những màu sắc từ lâu đã gắn liền với những ý niệm về sự thủy chung và thanh khiết của tình yêu. Chính điều đó Tử Đằng đã trở thành hoa biểu trưng cho một tình yêu bất tử.

Hoa Tử Đằng còn là nguồn cảm hứng bất tận cho phim ảnh, hội họa, những tác phẩm văn chương châu Á nói chung và Nhật Bản nói riêng, trong đó có thơ Haiku.

月に遠くおぼゆる藤の色香かな (蕪村 Buson)

Dưới trăng

Hương sắc tử đằng
Mơ hồ xa xăm

(Nhật Chiêu dịch)


くたびれて 宿る頃や  藤の花 (芭蕉 Basho)

Thân thể đang rã rời

Định tìm nơi tá túc

Hết mệt nhờ Tử Đằng

(Hồ Phương dịch)


藤の花長うして雨ふらんとす (正岡子規 Masaoka Shiki )

Hoa tử Đằng buông dài

Như đám mây che phủ cơn mưa

Rơi xuống, thấm vào đất rồi quay trở về bầu trời

(Hồ Phương dịch)


藤の茶屋 あやしき夫婦休け (蕪村 Buson)

Quán trà HoaTử Đằng

Cặp vợ chồng đáng ngờ

Dừng lại nghỉ ngơi

(Hồ Phương dịch)

***

Đào Thị Hồ Phương

Email : Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

ĐT: 0933 5866 53

Chơi thơ- Lý Viễn Giao

Chơi thơ là một trong các thú tao nhã của những người thơ. Thú chơi này được dùng cả khi thưởng thức và sáng tác. Lúc thưởng thức, không chỉ đọc thơ bằng mắt, đọc thành lời mà còn ngâm, còn diễn. Không chỉ viết lên giấy bằng những nét thường mà còn cách điệu thành ra bản thư pháp, tạo hình cho con chữ làm nên bức thư họa. Bài thơ viết xong còn thả lên trời, treo lên cành để hái hay phổ một giai điệu phù hợp để kết thành lời ca…

alt

Còn khi sáng tác cũng có nhiều cách chơi. Nối thơ, họa thơ thường được dùng thể hiện sự đồng cảm. Phá cách, nghịch cách hay dùng khi muốn gây chú ý. Viết tự do, viết như văn xuôi để thỏa mãn một tư chất phóng khoáng. Riêng đối với thơ Đường luật, cuộc chơi thật lắm công phu. Vẫn niêm luật, vần đối ấy nhưng gần như thi nhân còn muốn cầu kỳ hơn, nâng tầm tài nghệ và tri thức bằng các lối viết siêu đẳng, tạo ra nhiều hình thức lạ như Liên hoàn, thuận nghịch độc, thủ vĩ ngâm, thủ nhất thanh, thủ nhất tự, tung hoành trục…

Thơ Haiku có thể chơi được chăng? Xin thưa là được và đã có chơi rồi đấy! Việc không dùng quý ngữ, viết thơ có vần có điệu, cho tính từ xuất hiện trong thơ, đặt tiêu đề cho một chùm thơ …chẳng phải là chơi đó sao bởi lẽ người Nhật đâu có làm thế. Nhưng nếu mãi chỉ có thế cũng chưa đủ làm nên tên gọi “Haiku Việt” mà nhiều người đang dùng hiện nay ngộ nhận. Xin mạo muội đưa ra một cách chơi để thăm dò dư luận. Nhiều Haijin Việt đã viết thơ Haiku thành chùm và đặt tiêu đề cho nó. Kể qua vài tên tác giả như Vũ Tam Huề, Nghiêm Xuân Đức … làm dẫn dụ cho những người có lối chơi này. Những phiến khúc thơ trong chùm không liên quan với nhau trong một kiến trúc nhưng cùng nói về một chủ đề. Chúng “ướp hương” cho nhau thể hiện một ý tưởng trọn vẹn. Chẳng hạn chùm thơ “Đời” của Lý Viễn Giao :

Cánh mỏng

Lưng trời

Mắt xa khơi

*

Hương sen bện khói

Một tách trà

Một tiếng khà

*

Gió mành thầm thì

Cơn mơ bỏ đi

Đêm trắng

*

Hun hút đường xanh

Gió độc hành

Lối cũ

*

Tựa lưng ghế đá

Nhìn xuyên kẽ lá

Mặt trời lung lay

Còn đây là một Liên khúc Haiku, nó cũng bao gồm nhiều phiến khúc, các phiến khúc dắt tay nhau để cùng đặt chân lên miền cảm xúc của một người đi xa trở về ngôi trường cũ thân yêu. Khi ghép liền kề nhau những đoản khúc này ta sẽ nhặt được một bài thơ hoàn chỉnh.

Ngày về


Dấu chân in đất lầy

Vẫn còn đây

Trổ hoa nền đá lát

*

Nét phấn tươi ánh khát

Vẫn còn đây

Roi rói mắt môi cười

*

Câu thơ viết nửa vời

Vẫn còn đây

Nhuộm xanh trời tím lối

*

Ánh mắt nhìn bối rối

Vẫn còn đây

Ngày về

(Lý Viễn Giao)

Thiển nghĩ, học làm thơ, làm thơ rồi chơi thơ là những bước đi nối tiếp nhau của người thơ. Có nên và có dám làm điều này không với thơ Haiku xin còn chờ nơi nghĩ suy của bè bạn.

LVG

Trăng đổi ngôi

alt

1.CƠN MƯA THOÁI VỊ

Mặt trời cúi xuống

lá cỏ đong đưa

hòa trong cơn mưa...(*)

(Nguyễn Thánh Ngã)

Trong cơn mưa mùa hạ, tôi viết bài thơ này khi nghe Nhật hoàng bố cáo thiên hạ nhường ngôi cho con. Nếu không có từ Reiwa, tức Lệnh Hòa, niên hiệu mới của đất nước Mặt Trời mọc, tôi sẽ không có cái tứ của bài thơ.

Nhật hoàng Akihito là Hoàng đế đầu tiên của Nhật Bản, thoái vị trong hơn 200 năm qua. Điều này, gây ấn tượng mạnh mẽ trên toàn thế giới, bởi nước Nhật có tầm ảnh hưởng lớn lao trong từng biến cố của thời đại. Tìm hiểu về cuộc đời của vị Vua này, người ta đưa ra những dấu ấn về ông. Trong đó, ông là người đầu tiên kết hôn với thường dân, Bà Michiko. Đặc biệt, ông tự mang cho đời mình một sứ mệnh, là sửa lỗi cuộc chiến trước đây của cha mình. Akihito đã hòa giải mối quan hệ với các nước, bị Nhật Bản xâm chiếm trong thế chiến thứ 2.

Và ông luôn không ngừng xin lỗi...

"Mặt trời cúi xuống" là gì? Vị vua hiền hòa ấy, luôn biết cúi xuống với nhân dân, ông lấy vợ là thường dân, sống hài hòa, yêu thương và biết xin lỗi. Vì vậy, mà người dân Nhật Bản luôn gần gủi và kính trọng ông. Thảo dân là những "lá cỏ đong đưa", vẫy chào, và luyến tiếc thời đại của ông. Nhưng ông là người biết mình phải nhường ngôi cho Hoàng Thái tử Naruhito.

Vào ngày 1 tháng 5 là ngày lịch sử của Nhật Bản, thời đại mới Reiwa sẽ bắt đầu. Reiwa có nghĩa là hòa hợp, có lẽ là tín hiệu báo trước một thời đại, Hoàng gia hòa hợp với chính quyền và nhân dân, làm nên sức mạnh mới, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước Hoa Anh đào...

"Reiwa trong cơn mưa" hay "Lệnh hòa trong cơn mưa" để tưới tắm, gội nhuần ơn phúc đến muôn dân!

Bài thơ ám thị cho lễ nhường ngôi, và ca ngợi công đức của Hoàng đế Akihito. Cơn mưa là ơn mưa móc, sẽ đem đến sự mát lòng cho người dân, và cho mùa màng tươi tốt, bội thu...

Thơ cũng vậy, như một cơn mưa, nơi nào cũng ướt, không phân biệt giàu nghèo...

SG mùa Hạ 2019

N.T.N

(*) Hòa là niên hiệu Lệnh Hòa Reiwa


2.TRĂNG ĐỔI NGÔI

Tiễn niên hiệu Heisei

Gửi niềm hy vọng

Trăng mùa hè

(Takatoshi Goto - Đào Thị Hồ Phương dịch)
Niên hiệu Heisei Nhật Bản - Việt dịch là Bình Thành. Thời kỳ Bình Thành được bắt đầu từ ngày 8 tháng 1 năm 1989. Khi Akihito đăng cơ ngôi vị Thiên hoàng thứ 125, được đánh dấu là thời kỳ Nhật Bản sau chiến tranh lạnh. Trải qua 30 năm lên ngôi, Nhật hoàng sẽ thoái vị vào ngày 30 tháng 4 năm 2019.

Vậy là "tiễn niên hiệu Heisei" đã bắt đầu, thơ Haiku - Đại diện cho nền văn hóa rực rỡ của Nhật Bản, tiễn thời đại Bình Thành và "gởi niềm hy vọng" vào niên hiệu Reiwa mới, trong cuộc thoái vị trang trọng này...

Hy vọng thế giới hòa bình, đất nước thịnh trị, nhân dân an lạc mạnh giàu, có lẽ là niềm hy vọng lớn nhất mà thơ gởi gắm.

Vầng "trăng mùa hè", vì thế cũng đổi ngôi. Giống như cuộc đổi ngôi trước, khi Nhật hoàng Hirohito băng hà, thì Akihito lên ngôi. Và Hoàng Thái tử Naruhito sẽ đăng quang vào ngày 1 tháng 5 năm 2019 để trở thành Hoàng đế thứ 126 của Nhật Bản. Với niềm hy vọng lớn lao "trăng mùa hè" sẽ sáng tỏ, theo dõi cuộc sống của thần dân, để người dân Nhật Bản cũng hết sức kính trọng và yêu mến nhà vua mới của mình như Hirohito và Akihito, những Thiên hoàng được xem như vị cha già của dân tộc và đất nước Phù Tang.

Takatoshi Goto đã viết bài haiku đầy phấn khích này, gieo vào tương lai niềm hy vọng, bậc Quân vương sẽ vì dân, vì nước mà lo toan cho đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và chiến tranh...

SG mùa Hạ 2019

N.T.N


3.SỰ PHẢN KHÁNG ĐÁNG YÊU

Mệnh lệnh thêm vào

con bướm buổi trưa

không đồng tình

(Eitarou Kawamoto - Đào Thị Hồ Phương dịch)

Đây là bài thơ làm tôi thích thú, bởi sự phản kháng đáng yêu của một chú bướm. Mệnh lệnh của Hoàng đế Akihito là sẽ thoái vị, nhường ngôi cho con trai là Hoàng Thái tử Naruhito. Lệnh vua ai dám chống lại, nhưng chú bướm đang buổi trưa say sưa hút mật, cuộc sống của chú không ảnh hưởng gì đến ngôi vua, chú có quyền chống lại bằng cách "không đồng tình"...

Bài thơ rất hay, nói lên tính bình đẵng giữa muôn loài. Đừng thêm vào cuộc sống của kẻ khác, cái không đáng thêm vào. Đừng thêm vào những lý thuyết xa lạ, đừng gieo vào những bất ổn cho một con bướm chỉ biết hút mật mà thôi. Thiên hoàng Akihito mặc kệ, tôi không đồng tình với mệnh lệnh của ông, bởi việc của loài bướm là hút mật nuôi con, và sinh sôi nòi giống. Tôi cũng có vị vua của tôi. Ngài vua bướm đấy!

Bài thơ nói lên tình yêu trong sáng của loài vật, không hề biết rắc rối là gì. Và hồn nhiên tự tại, không sợ hãi trước một mệnh lệnh nào làm nó bỏ công việc yêu thích nhất, là hút mật trên những nhụy hoa...

SG mùa Hạ 2019

N.T.N

Tứ khúc II- Nguyễn Thánh Ngã

alt

1. Lê Đình Công

Sông trôi như rắn lượn

dòng cuốn

trăng đầy

Một bài thơ đầy hình tượng, vừa ác vừa đẹp. Ác vì dòng cuốn của nó như rắn lượn, có thể cuốn phăng tất cả theo dòng trôi của cơn lũ ống...

"Sông trôi như rắn lượn", diễn tả thái độ bạo liệt của nó. Một dòng sông mà trôi như thế, ắt là mùa lũ đang về, phong ba bão táp nhất định kéo đến, phá hoại cuộc sống ấm no của người dân.

Có thể nói, tác giả đã tạo sự đột phá ngay dòng mở đầu, làm vỡ cái bình thường thành cái bất thường. Đó là khí tiết cực đoan của biến đổi khí hậu.

Con rắn trườn lên bờ thời gian, nuốt chửng tất cả...

Còn đây một đêm trăng đầy, ánh xạ lên từng vảy rắn, loang loáng chất ma quái, liêu trai...

Đẹp mà kinh dị!

Chưa phải là quỷ thi, nhưng chất của nó là dòng thơ đầy mỹ cảm rùng rợn. Một nghệ thuật cảnh báo về hiện tượng trên hành tinh chúng ta...


2. Lê Văn Truyền

Mẹ già trăm tuổi

trên giường bệnh hóa trẻ thơ

mỗi ngày con bón cháo

Bài thơ rung lên từng giai điệu, giai điệu của lo toan cộng hưởng niềm hạnh phúc, vì có một mẹ già trăm tuổi. Theo quan niệm Á Đông, tôi cho đây là hạnh phúc lớn lao của tác giả. Nhà thơ Lê Văn Truyền, từng viết những câu thơ da diết về mẹ, bài thơ này là một trong số ấy...

Như chúng ta thấy, ông được hạnh phúc nuôi mẹ trên giường bệnh, một chữ hiếu sáng chói trong đời. Nhớ xưa Hàn Bá Du bị mẹ đánh đòn, ông khóc to vì biết rằng mẹ đã già yếu, đánh đòn không còn đau như trước nữa. Ở đây, nhà thơ Lê Văn Truyền đã nhận ra bệnh mẹ đã hóa trẻ thơ, nghĩa là đến lúc gần đất xa trời rồi! Và trong cơn đau yếu, mẹ có thể vòi vĩnh, hờn giận như trẻ thơ, làm con hiểu được điều ấy, nuôi mẹ sẽ đầy trách nhiệm hơn, người con không cảm thấy mẹ là gánh nặng, mà chính là lúc báo hiếu cho ơn dưỡng dục của mẹ. Câu thơ:"trên giường bệnh hóa trẻ thơ", như tiếng khóc thầm của người con hiếu thảo, thấy mẹ không còn bao lâu nữa sẽ rời bỏ thế gian...

Vì thế, mỗi ngày con bón cháo cho mẹ, như ngày xưa mẹ bón cho con. Từng chữ, từng chữ âu yếm dâng lên mẹ là niềm xúc động nhất của thơ...

Có lẽ, trong thơ haiku của tác giả, đây là bài thơ về chữ hiếu hay nhất, được nhiều người đồng cảm, và đất trời đồng cảm!


3. Mai Liên

Nắng chiều

Dáng núi

Dáng cha

Vỏn vẹn chỉ sáu từ đơn giản, đã vẽ nên hình tượng về người cha vĩ đại. Thơ haiku có lợi thế của sự kiệm từ, mà nhiều sức gợi; cái bao la chỉ nằm trong hạt cát, như tuổi cha nằm trong vạt nắng chiều...

Vậy thôi, nên dáng núi là hình dáng to lớn, nói lên công cha cao như núi kia, không thể nào sánh được.

Nó lại cong như dáng cha, đưa vai gánh vác sơn hà...

Công cha không phải nói nhiều mới hết, chỉ gói ghém mà trọn vẹn là tài hoa của nhà thơ, haijin Mai Liên. Tôi cho là người phải có công lực mới viết được sự trọn vẹn tỉnh táo, bản lĩnh.

Nhà thơ Mai Liên là một bản lĩnh của Haiku Việt. Chợt nghĩ, có nhiều người tham gia sáng tác thơ haiku, mấy ai có bản lĩnh hiểu thơ haiku là haiku, lục bát là lục bát, thơ ba câu là ba câu? Bởi người làm thơ nào cũng biết, và không thể chấp nhận "bẻ đôi" câu lục bát thành haiku được. Nó gượng ép và không thực...

Nói vậy để thấy, sự thâm nhập sâu vào thơ haiku của Mai Liên là rất đáng chú ý...


4. Nguyễn Hoàng Lâm

Vách đá

nhánh hoa

nhủ ta phải sống

Có những hoàn cảnh tệ hại, khiến ta chán sống, bởi mất niềm tin. Nhưng với ý thức phản tỉnh khiến ta phải giật mình nhìn lại. Bài haiku tuyệt bút của Haijin Nguyễn Hoàng Lâm, là một bài như thế. Thiên nhiên chứ không ai khác, đã tác động mạnh mẽ vào tâm hồn nhà thơ...

Nhìn thấy vách đá khô cứng kia, bỗng trổ một bông hoa tuyệt đẹp, người thơ nghe như lời nhắn nhủ thiết thân:"phải sống"!

Vâng, nơi không thể sống được mà loài hoa vẫn sống, vẫn dâng cho đời chút sắc hương. Vậy ta là gì, mà thua loài thực vật nhỏ bé?

Lời nhắn nhủ vô ngôn, mà sống động, như bức tranh treo trước mặt cuộc đời, không thể không nghe từ đó một lời tin yêu...

Chợt giật mình, thơ hay là thơ có sức cảm hóa và lan tỏa lớn lao...

N.T.N

Những khúc Haiku tuyệt bút- Nguyễn Thánh Ngã

TỨ KHÚC I

alt

1. Đinh Nhật Hạnh

Đôi gươm Damoclès treo lửng lơ

Bom hạt nhân có thể tránh

Bá quyền e còn lâu!?

Có thể nói, "chiếc gươm Damocles" có nguồn gốc từ câu chuyện ngụ ngôn cổ xưa. Chuyện có hàm ý rằng, những nhà cầm quyền độc tài, bá quyền luôn lo sợ bởi mối nguy hiểm về cái chết.

Mở đầu, nhà thơ Đinh Nhật Hạnh đã khuyến cáo bằng dòng haiku dài như lưỡi gươm, từ "lửng lơ" rất hay vì nó đặt đúng chỗ, có thể cắm phập xuống bất cứ lúc nào! Đó là nỗi hãi hùng cho người có tâm xấu, muốn thôn tính thiên hạ bởi mộng bá quyền!

Tấm gương Tần Thủy Hoàng là một ví dụ...

Thơ haiku chỉ gợi thôi, chúng ta là người đọc thông minh có thể hiểu ngầm nhân vật nào đang rắp tâm nuôi giấc mộng khủng khiếp đó; chỉ vậy thôi đã đủ góp tiếng nói hòa bình cho thế giới.

Vâng, "bom hạt nhân" là vũ khí hủy diệt hàng loạt, nhưng có thể tránh được bằng đường ngoại giao, thậm chí là loại hầm đặc biệt dành cho một bộ phận nào đó. Nhưng mộng bá quyền thì e còn lâu!

"Còn lâu" chỉ là cách nói dè bỉu cái không thể.

Đúng vậy, bài haiku của nhà thơ Đinh Nhật Hạnh là bản thông báo hùng hồn về điều có thể và không thể.

Kẻ ác nghe cũng giật mình, đó là thông điệp lớn của thơ vậy.


2. Lê Quang Vũ

Đau khổ hãy về đây !

Ta sẽ trả thù

bằng nụ cười độ lượng

Phải là người có cái tâm tu dưỡng, mới viết được bài thơ đầy tính "độ lượng" này. Lê Quang Vũ là ai, tôi chưa biết, nhưng cái tâm này tôi đã biết, bởi thơ ông gần với lời Phật.

Lời kêu gọi rằng:" Tên Đau Khổ kia, ngươi hãy về đây nào!", là cách nói của kẻ trong lòng không còn thù hận, vừa yêu thương vừa hài hước vô tư, bởi sự hài hước thường mang hiệu quả làm nhẹ tính khô cứng. Đây là câu thơ đắc giá, mời gọi được "kẻ thù" đến với ta, không hàm ngôn, không ác ý...

Và "ta sẽ trả thù ngươi" bằng nụ cười rộng mở của ta, tự nhiên xóa đi thù hận, đem lại hòa bình cho muôn loài ân hưởng.

Nụ cười ấy là lòng bao dung, từ bi nhất mà Đức Phật đã dạy, người con Phật đã thực hành trên 2500 năm rồi, đem lại biết bao ân phước cho chúng sinh.

Bài haiku thật hay, đã chiêu cảm tôi viết mấy lời đơn mộc, như tấm lòng của người đọc hồn nhiên vậy thôi...


3. Minh Trí

Bên tráng lệ Tokyo

sông Sumida thanh vắng

ẩn hiện am Basho

Thường những bài thơ tuyệt bút rất giàu hình ảnh, bài thơ này của nhà thơ Minh Trí như một họa sĩ tài ba, đã vẽ nên bức tranh tuyệt đẹp về đất nước Nhật Bản, khi ông đến thăm nơi lưu niệm Thi hào Basho.

Nước Nhật tuy đã phát triển bậc nhất thế giới, nhưng là nước coi trọng nền văn hóa truyền thống. Một thành phố Tokyo tráng lệ, vẫn có nét riêng cổ kính của nó. Dòng Sumida là lá phổi của Tokyo hiện đại, nó xuyên qua 23 nội thành của thủ đô Nhật Bản. Thời Edo không có cầu, người ta đi thuyền để ngắm hoa đào nở hai bên bờ sông. Ngày nay, tác giả đến nhằm lúc dòng sông còn thanh vắng, nên ngắm được sự tịch lặng của nó. Và tứ thơ bung ra như làn khói mỏng, vừa đủ che mờ chiếc am của Basho những năm cuối đời lang bạt kỳ hồ trở về an dưỡng.

Vâng, chiếc am nhỏ của vị Đại thi sĩ là nét mờ trong bức tranh hiện đại, nhưng xem toàn cảnh, nét mờ là chủ thể, mờ mà không mờ, vì luôn ẩn hiện trong tâm thức của dòng Sumida...

Nhà thơ Minh Trí đã dùng "ẩn hiện", là từ đắc địa nhất trong ngữ cảnh này, hàm ý chỉ cho người thưởng lãm, dòng haiku tuyệt bút còn đâu đó trên xứ sở Hoa Anh đào...

Quả thật, thi ca đã trở thành nỗi ám ảnh khôn nguôi, về những khát vọng lớn lao của con người...



4. Phan Phượng Uyên

Lời mẹ

vẳng bên tai

con bỗng thành thơ dại

Đọc bài thơ này của tác giả Phan Phượng Uyên, ai là người không nhớ về mẹ!? "Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào", câu ca cứ văng vẳng bên tai, không thể nào ngăn dòng nước mắt.

Thật thế, thơ ca có khả năng hướng con người tìm về thế giới của lòng tri ân. Có lẽ, Phan Phượng Uyên muốn tri ân những lời căn dặn vô giá của mẹ dành cho mình, nhưng vô hình dung đã trở thành cho tất cả! Bởi câu thơ đọc lên nghe giản dị, nhưng có đủ chất để thấm thía về tình mẫu tử, khiến ai đó phải ngồi lại và ngẫm nghĩ về công đức sinh thành....

Quả thật, dù ta có lớn khôn dường bao, nhưng đối với cha mẹ, chúng ta vẫn như đứa trẻ thơ dại ngày nào.

Tác giả là người hạnh phúc vì còn có mẹ, còn những lời căn dặn vẳng bên tai. Và đạo lý của thơ là hãy biết tri ân mẹ, để được lạm mẹ!

Đó là thông điệp về hiếu đạo mà thơ đem lại...

Đà Lạt tháng 4.2019

N.T.N

(Còn nữa)

TỨ KHÚC 2 (tuần sau)

Dị dạng thơ hay sự khác thường- Nguyễn Thánh Ngã

alt

Những bài thơ dị dạng

ngôn ngữ tự kỷ

trầm cảm mùa xuân

( Như Quỳnh de Prelle)

Trong chùm haiku Như Quỳnh de Prelle gởi đăng trên Haiku Việt, tôi đặc biệt chú ý bài thơ này. Bởi nó mang một ý nghĩa khác thường, làm nên bóng dáng thơ ở dạng hiếm gặp.

Dị dạng có nghĩa là khác thường. "Những bài thơ dị dạng" mà tác giả muốn nói đến, là những bài thơ khác thường, khác thường ở chỗ nó không giống ai cả. Có nhiều loại dị dạng, nhưng dị dạng ở đây là dị dạng ngôn từ, làm nên cảm thức thẩm mỹ, nên nó không được coi là bẩm sinh, mà tác giả cố ý phong cho nó một đời sống dị dạng, hòng lạ hóa tứ thơ và có khi nâng ý nghĩa căn bản của từ ngữ hay văn cảnh đang dùng lên một tầng ngữ khác. Đặc biệt, người có tài thơ mới làm được công việc này, dở hay thế nào chưa biết, nhưng phải là người có ý thức đổi mới, mới có thể chắp cánh cho cảm xúc. Cái tài sống trong con chữ ấy, nếu không khéo (mà thường không khéo) lại khiến cho ngôn ngữ trở thành "tự kỷ"...

Tự kỷ tức "tự kỷ ám thị", có nghĩa tự che mắt mình, là một thuật ngữ đề cập đến sự tự kích thích. Ở đây là kích thích sáng tạo, thăng hoa câu chữ, một công việc của người làm thơ. Vì thế mà người xưa thường gắn bầu rượu túi thơ với nhau, để chỉ sự kích thích và thăng hoa này.

Tuy nhiên, với thủ pháp tương phản, câu thứ ba "trầm cảm mùa xuân" là câu thơ "dị dạng hay". Hay, vì chính nó đóng vai trò quyết định trong lập luận mà nhà thơ nói tới. Đó là từ dị dạng đi tới tự kỷ đã bị phủ nhận bởi tính triết lý "trầm cảm". Chúng ta biết trầm cảm chính là stress, nói theo y học là hội chứng rối loạn tâm trạng. Nói có vẻ văn chương một chút là "rối loạn cảm xúc", dẫn đến nổi loạn ngôn từ! Mùa xuân trầm cảm là mùa xuân buồn bã, không còn gì hứng thú trong khi muôn hoa đua nở, đất trời giao hòa, cỏ cây tràn trề sức sống mãnh liệt, thì trầm cảm sẽ khiến cho nó héo khô...

Quả thật, bài haiku không đơn giản, không dễ hiểu. Nhưng đó lại chính là tài hoa của tác giả, gây ra bầu khí quyển trầm cảm để rồi phản biện lại nó. Thông điệp đưa ra là cách dung hòa giữa hiện thực và khác thường, đừng rơi vào thái quá, nhưng cũng đừng mặt phẳng quá, thơ sẽ tẻ nhạt.

Bao giờ cũng vậy, thơ đi con đường trung đạo sẽ sống vượt thời gian bởi tính dị dạng tích cực của nó.

Như Quỳnh de Prelle là nhà thơ trẻ, từ thơ tự do đến haiku cũng đều có dấu ấn "dị dạng", nhưng chưa hề trầm cảm!

Điều đó đủ chứng tỏ tác giả là khách tài hoa khác người rồi...

Đà Lạt tháng 3/2019

N.T.N

Bước đi và... hãy ngoái lại- Lê Văn Truyền

alt

hành hương về Yên Tử

mỗi khi lên đỉnh dốc

ta ngoái nhìn đằng sau

Lê Văn Truyền

“Ta phải thấy được mỗi bước chân là phép lạ. Bước đi mà ý thức rằng mình đang còn sống và đang bước đi trên hành tinh xinh đẹp này, đó là một sự giác ngộ. Có những người đi như bị ma đuổi, đi trong sự quên lãng và thất niệm. Còn ta biết đi trong tỉnh thức (mindfullness)” (Thích Nhất Hạnh, Tri kỷ của Bụt, Nhà xuất bản Phương Đông, 2017).

Hơn bao giờ hết, chúng ta đang chứng kiến một thời đại mà những bộ óc sáng giá nhất, những con người xuất chúng nhất của nhân loại đang dẫn đầu và cuồng nhiệt cổ vũ cho một cuộc chạy đua về tương lai - một cuộc đua đường dài vô tận nhằm mục tiêu thống trị con người, thống trị xã hội, thống trị thiên nhiên và thống trị vũ trụ. Để nhắm đến các mục tiêu lấp lánh như những ngôi sao phía chân trời xa tít tắp kia, cũng như những tay đua xe đạp đường trường của Giải đua xe đạp “Tour de France” danh giá, người ta cứ cắm đầu, cắm cổ guồng đôi bàn đạp mà ít khi ngoảnh mặt lại phía sau để thử xem có những gì đã bỏ lại và những gì đã diễn ra trên chặng đường đã qua.

Các tập đoàn hóa chất toàn cầu đang chạy đua tìm ra những hợp chất mới đem lại lợi nhuận khổng lồ mà cố tình quên rằng công nghiệp hóa chất đã để lại cho Trái Đất, cho Mẹ Thiên Nhiên và cho Nhân Loại những thảm họa ô nhiễm môi trường khủng khiếp như thế nào mà đại họa nhiễm chất độc dioxin của hàng vạn người dân Việt Nam đang kéo dài đến thế hệ thứ ba trong nhiều gia đình Việt chỉ là một trong muôn vàn ví dụ. Các tập đoàn công nghiệp dược phẩm hàng đầu thế giới đang ngày đêm không ngừng ganh đua tìm ra những thuốc mới và bằng đủ mọi cách cổ vũ, động viên các thầy thuốc kê đơn thật nhiều cho bệnh nhân sử dụng mà cố tình giấu giếm một nghịch lý là có rất nhiều bệnh chưa từng gặp trong lịch sử loài người lại là những bệnh do những thuốc này gây ra. Và ở nước ta, các “ngôi sao địa ốc” mới nổi trên bầu trời thị trường bất động sản đang say sưa, hãnh diện, tự hào với các dự án siêu đô thị lung linh, huyền ảo với giá bán từ hàng chục đến hàng trăm triệu đồng mỗi mét vuông mà không bao giờ nghĩ đến hàng vạn gia đình nông dân chỉ được nhận vài trăm ngàn đồng tiền đền bù giải tỏa cho một mét vuông đất đai thấm đẫm mồ hôi và cả máu bao đời ông cha để lại, vốn là nguồn sống duy nhất của họ. Để rồi sau đó, họ bị đẩy vào con đường bần cùng kèm theo biết bao hệ lụy xã hội nặng nề.

Cầu mong sao cho các cuộc đua về tương lai của nhân loại sẽ có rất nhiều chặng. Và sau mỗi chặng đua sẽ có một thời gian nghỉ ngơi và nghĩ ngợi, để các tay đua ngoái nhìn lại phía sau, để có một khoảng lặng chiêm nghiệm những gì được - mất, để còn có cơ hội điều chỉnh cho những chặng đua sắp tới sao cho “người” hơn, nhân văn hơn: cuộc đua ít nhiều vì hạnh phúc mọi người chứ không phải để thống trị và nô dịch con người.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Nhà khoa học đen- Lê Văn Truyền

alt

tạo hai bé gái chỉnh sửa gen

“nhà khoa học đen” ngông cuồng

định “thế thiên hành đạo”

Lê Văn Truyền

Năm 2013, các nhà khoa học Viện sức khỏe sinh sản Manhattan (Manhattan Institute for Reproductive Health - Hoa Kỳ) công bố: “Dựa trên các nghiên cứu về gen, trong 6 tháng đầu của thời kỳ mang thai, các nhà khoa học có thể tiến hành các biện pháp can thiệp y học (PGD: pre-implantation genes diagnosis) nhằm tạo ra những thai nhi trong bụng mẹ có những đặc điểm hình dạng và tố chất theo ý muốn của các cặp vợ chồng”. Khi đó, trong bài thơ “Thai nhi theo thiết kế”, kẻ viết bài này đã phải đau đáu đặt một câu hỏi:

Ừ, trong thế kỷ XXI này

không có gì là “bất khả thi”.

Nhưng ai sẽ nhận phần thiết kế tâm hồn

để trong tâm mỗi người có một Ông Bụt?

Thai nhi theo thiết kế, 2013

Năm năm sau, ngày 29 tháng 11 năm 2018, trên Associated Press, Hạ Kiến Khuê, Phó giáo sư di truyền học tại Đại học Khoa học và Công nghệ Hoa Nam Trung Quốc tuyên bố rằng ông ta đã cho ra đời hai bé gái sinh đôi Lộ Lộ và Na Na được chỉnh sửa gen bằng kỹ thuật CRISPR. Mục tiêu của việc làm này là tạo cho hai cô bé khả năng miễn nhiễm với HIV và phòng ngừa bệnh AIDS. Tuyên bố của Hạ Kiến Khuê chưa được xác minh độc lập tuy nhiên, nếu được khẳng định là có thật, bất kể vì mục đích gì trường hợp này đã vượt qua ranh giới mới về mặt y học và phạm trù đạo đức. Nguyên nhân là do việc chỉnh sửa gen từ trong phôi thai có thể tạo ra những em bé được "thiết kế sẵn", điều mà nhiều nước trên thế giới ngăn cấm.

Bởi vậy, ngay ngày hôm sau, 30 tháng 11 năm 2018, hơn 100 nhà khoa học Trung Quốc đã cùng ký vào một bức thư được phát hành trên trang mạng xã hội Weibo lên án thí nghiệm chỉnh sửa gen trên người của Hạ Kiến Khuê. Ký tên vào bức thư còn có cả các nhà khoa học đến từ những trường đại học hàng đầu thế giới như Massachusetts Insstitute of Technology (Hoa Kỳ). Hạ Kiến Khuê được mạng xã hội phong tặng ngay lập tức danh hiệu “nhà khoa học đen” và ông đã biến mất một cách kỳ bí sau đó. Tin tức gần đây nhất cho biết, có thể Hạ Kiến Khuê đang bị chính quyền Bắc Kinh quản thúc nghiêm ngặt.

Theo trang Medical Express, cộng đồng khoa học trên thế giới và ngay cả ở quê hương ông đã lên án việc Hạ Kiến Khuê để phôi được chỉnh sửa gen sinh ra thành hai bé gái là "nguy hiểm, vô trách nhiệm và điên rồ". Sẽ ra sao nếu quá trình chỉnh sửa mắc lỗi? Làm sao dám chắc kỹ thuật này có lợi cho nhân loại? Liệu chúng ta có sẵn sàng đối mặt các hậu quả của việc chỉnh sửa gen cho sự tiến hóa của chính chúng ta?

Phải chăng Hạ Kiến Khuê là tín đồ của thuyết Ưu sinh (Eugenics) chủ trương sử dụng các phương thức nhằm thay đổi cấu trúc gen của dân số, một học thuyết đã lụi tàn từ giữa thế kỷ XX do gắn liền với những chủ trương điên rồ, độc ác của trùm Đức Quốc Xã Adolf Hitler: “rửa sạch chủng tộc”, thanh trừng và tiêu diệt “các chủng tộc hạ đẳng” (ví dụ người Do Thái và người Roumanie, theo hắn ta) trong các trại tập trung và diệt chủng nhằm bảo đảm “tính thuần chủng và thượng đẳng” cho chủng tộc Nhật Nhĩ Man.

Medical Express cảnh báo "chúng ta không thể để cho cá nhân các nhà khoa học quyết định vận mệnh của bộ gen loài người" và kêu gọi "cần phải có đối thoại toàn cầu, bao gồm các chuyên gia và công chúng, để đạt sự đồng thuận về việc phải làm gì với các công nghệ gen".

John Evans, giáo sư xã hội học tại Đại học California (San Diego - Hoa Kỳ), người trong mấy chục năm qua đã theo dõi quá trình phát triển kỹ thuật chỉnh sửa gen người, cũng bị sốc bởi cái gọi là thành công của Hạ Kiến Khuê: "Điều quan trọng bây giờ là đang có những nhà khoa học cố tạo ra những con người được “siêu hóa” (siêu nhân), những người có thể truyền lại tính trạng của họ cho con cái mình. Nhưng một khi bạn có thể làm điều này với một gen, một ngày nào đó bạn sẽ có thể làm điều đó với bất kỳ gen nào". Chỉnh sửa gen người vì thế được ví như chiếc hộp Pandora* đầy kỳ bí, nhưng nếu mở nó ra, con người sẽ làm cho những điều bất hạnh tràn ngập khắp thế gian.

Hóa ra, câu chuyện về những đứa trẻ biến đổi gen đang trở nên đúng như một câu ngạn ngữ phương Tây đã nói: "Mọi con đường dẫn đến địa ngục đều được lát bằng những thiện ý”.

* Chiếc hộp Pandora: Theo thần thoại Hy Lạp, đó là chiếc hộp mà nàng Pandora - người phụ nữ đầu tiên trên thế giới loài người - đã được thần Zeus trao cho và dặn kĩ rằng không được mở chiếc hộp đó ra. Nhưng do tò mò, Pandora đã mở chiếc hộp. Và tất cả những gì trong chiếc hộp kì bí đó đã khiến cho những điều bất hạnh tràn ngập khắp thế gian: thiên tai, bệnh tật, chiến tranh… và chiếc hộp chỉ còn sót lại một chút "hy vọng" mang tên Pandora cho loài người để có thể tiếp tục sống (Wikipedia tiếng Việt).

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt - Hà Nội

Cảm nhận về một bài thơ Haiku của Mai Trinh- Võ Khoa Châu

Thơ haiku, như chúng ta đều biết, là một thể thơ rất kiệm lời của đất nước Phù Tang. Nó chỉ có vỏn vẹn ba câu và ngữ lượng dưới mười bảy từ. Do đó cho nên, người làm thơ haiku phải nắm bắt được tinh hoa của mỗi chữ, phải chắc lọc từng từ sâu sắc.

alt

Thơ haiku mang tính triết lý, luận giải hoặc tỏ bày cảm xúc sau mỗi nhịp thơ. Ta có thể chiêm cảm bài thơ haiku sau đây của nhà thơ Mai Trinh Phan Thị Phượng Uyên, ở Bạc Liêu, hội viên CLB Thơ Haiku Việt:

Trắng muốt

Trên những cánh hoa đan

Hương cà phê dậy thì

Bài thơ mở đầu với hai từ “trắng muốt”. Cái gì trắng muốt? Sự bất ngờ được tác giả khơi gợi một cách có vẻ như đột ngột, ấn tượng về sắc màu, dẫn dắt chúng ta đi tìm ẩn ý phía sau đó. Ta thử “truy nghiệm” cái điều mà Mai Trinh muốn gửi gắm, tư duy về, hoặc muốn nói, muốn biểu đạt ý tưởng sâu xa trong tổng thể bài thơ gồm mười hai chữ nói trên, để xem thế nào.

Trắng muốt, sắc màu thị hiện đã chạm vào ánh mắt ngay từ cái nhìn đầu tiên của chủ thể khi bắt gặp. Màu tinh khiết tạo cảm xúc trên nền thi ca của xứ sở Mặt trời mọc, làm cho khách thể đồng cảm thi hứng.

Cái gì trắng muốt và trắng muốt ở đâu? Câu thơ thứ hai, tác giả còn giấu chủ ngữ của trắng muốt, hay có thể nói một cách khác, nhà thơ chỉ cho đọc giả thấy cái thuộc tính của sự vật muốn biểu cảm, và cái nơi trình hiện màu trinh bạch “trên những cánh hoa đan”, ấy thôi. Người đọc vẫn chưa biết đó là loại hoa gì. Tên một loài hoa vẫn còn bỏ ngõ. Chỉ với năm từ ngắn gọn “trên những cánh hoa đan”, nhưng nội hàm thơ thì không ngắn gọn. Câu thơ lung linh sắc màu mẫn cảm, và nâng tính vận động thi ca trong từ “đan”. Đan vào nhau, tựa bên nhau, cũng có thể hoa  chen giành nhau khoe sắc, dâng cho người niềm hy vọng ước mơ…Người cảm thấy yêu hoa, yêu đời, yêu cái mặn mà bên nhau trong cuộc sống. Bỗng lòng ta yêu cây lá kết hoa. Tha nhân cảm nhận hoa thơm, sinh tồn theo bốn mùa đổi thay trong lẻ vận hành của vũ trụ.

Cho đến câu cuối của bài haiku kiệm ngữ, nhà thơ mới bật mí “hương cà phê”. À, thỉ ra cái màu trắng muốt ấy, là màu của hoa cà phê trinh nguyên.

Từ “hương” rất là bình thường, nhưng cách sử dụng ở đây, nó làm thành một tầng đa ngữ nghĩa. Hương hoa/ hương sắc/ hương con gái/ mùi thơm da thịt. Và “hương cà phê dậy thì” còn nói lên thời điểm, tính thời gian của mùa cây trái cà phê trước khi kết hạt. Bài thơ là lời phát biểu một niềm tin yêu trong sáng, một hy vọng đẹp tươi từ những bàn tay siêng năng bón chăm cây trái vụ mùa

Nếu như biểu tượng của núi rừng Tây Bắc là hoa ban, hoa mận, thì hoa của Tây nguyên là hoa cà phê “trắng muốt” nở rộ tháng ba. Tác giả giấu cái “quý ngữ” (kigo), cái mùa/quý trong bài thơ, như là một thủ pháp xử dụng thơ Haiku trong yếu tố ”mùa”

Nói một cách khác, người đọc liên tưởng, hòa nhập vào cái “đang là” (être en train de…) trong thời gian tháng ba của bài thơ.

Thơ Haiku của Mai Trinh thường xuất hiện sắc màu – “Gié lục bình/ Tím ngát trên sông/ Chân trời xa vô định”. Tuy nhiên không phải trắng, xanh, đỏ, vàng, tím…mà đôi khi là biểu trưng. Có thể ai đó không đồng tình, nhưng với tôi, tám chữ ấn tượng “ Ôi mái tóc/ Vai trần/ Mây lạc lối” (M T), cũng là hiện hữu của sắc màu thi ca. Tác giả đã dùng thủ pháp tượng trưng về cảm thức mỹ quan trên các cặp phạm trù vừa đối lập, vừa tương đồng màu sắc, thị hiện qua mái tóc vai trần và mây.

Những điều ấy giúp ta mở thêm cánh cửa khám phá 12 từ chắc lọc trong bài thơ haiku “trắng muốt/Trên những cánh hoa đan/ Hương cà phê dậy thì của Mai Trinh Phan Thị Phượng Uyên.

Vạn Ninh, mùa xuân 2019

VKC

Bài nghiên cứu: Các ứng xử tùy nghi của Haijin Việt

Khi thể thơ Haikư của Nhật Bản xâm nhập vào làng thơ Việt, các nhà thơ Việt đã phải xử lý ngay nhiều quan điểm, có lẽ phải gọi là các cách hành xử ban đầu khi tiếp biến một nền văn hóa từ nước ngoài. Cổ nhân ta đã có các hành xử sáng suốt để chinh phục các thể Thơ chữ Hán ( từ Phương Bắc ) để hình thành dòng thơ Việt và Hán- Việt ; và rồi sau đó là các thể thơ chữ Pháp (từ Phương Tây) để hình thành dòng Thơ Mới. Phải chăng đây là lần tiếp biến thứ ba (từ Phương Đông) như nhà văn hóa Hữu Ngọc đã nói?

alt

Các tác giả Việt phải suy xét cách cư xử mềm dẻo với các “đặc điểm” của thể thơ Nhật bản này, ở đây chúng tôi dùng từ “tùy nghi”.

-Khi tiếp xúc ban đầu với Thơ Haikư, việc đầu tiên là phải ứng xử với cấu trúc 5-7-5 kinh điển của nó. Ta đã quá quen với cấu trúc chặt chẽ dựa vào số từ của câu thơ ( như Thơ Thất ngôn, thơ Ngũ ngôn , thơ Lục bát và Song thất Lục bát…). Tuân theo số từ của câu thơ là điều đầu tiên khi ứng dụng thể thơ đó. Nhưng ngay tại quê hương Nhật bản, ngoài trường phái cấu trúc 5-7-5 ( được bảo vệ rất cuồng nhiệt) lại đã tồn tại các xu thế cách tân( cũng rất mạnh mẽ) không theo cấu trúc đó. Khi tràn ra thế giới rất nhanh ( có lẽ vì các ưu thế : cực ngắn và rất tự do), Thơ Haikư ở các ngôn ngữ phương Tây đa âm ( polysyllabic) cũng trải qua giai đoạn ban đầu là tôn trọng cấu trúc 5-7-5. Họ làm việc này không khó khăn, vì cùng là tiếng đa âm : Chỉ cần có số âm (syllable - 音 – tiếng Nhật đọc là “on”) đúng theo cấu trúc này. Như vậy số từ (mot/ word) không lớn ( một từ thường gồm nhiều âm) và đặc điểm cực ngắn vẫn giữ được. Ta có thể đếm đủ 17 âm tiết trong các câu thơ Âu-Mỹ sau , tác giả bài này đã cố ý dịch sang tiếng Việt theo cấu trúc 5-7-5:

I am nobody:
A red sinking autumn sun
Took my name away.

Tôi chẳng phải là ai:

Mặt trời Thu đỏ hồng chìm xuống

Mang tên tôi đi rồi.

( Richard Wright
From "Haiku: This Other World", 1998 - Từ : “ Haiku, một thế giới khác”)

Si un jour tu vois
Qu'une pierre te sourit,
Iras-tu le dire ?

Nếu một ngày bạn thấy
Một tảng đá mỉm cười với bạn,
Bạn nói gì với đá ?

(Eugène Guillevic (1907-1997)
[Haiku] Terebess Asia Online (TAO) - http://terebess.hu/english/haiku/guillevic.html )

Nhưng các nhà thơ Âu Mỹ và Thế giới vốn yêu tự do và không thích sự trói buộc của số từ cố định, họ đã không theo cấu trúc đó:

Trong một ga xe điện ngầm

Sự xuất hiện của các khuôn mặt trong đám đông

Những cánh hoa trên cành cây đen, ướt

In a Station of the Metro
The apparition of these faces in the crowd;
Petals on a wet, black bough.

(Ezra Pound (in 1913 trong tạp chí Poetry )

Chiếc lá lưỡng lự

Lướt giữa những cây hoa súng

Rồi đứng yên



La feuille indécise
glisse entre les nénuphars
et s'immobilise

(Philippe Caquant– Des Haikus en francais- http://www.tempslibres.org/tl/en/textes/essai13.html )

Các Haijin Việt ban đầu cũng cố gắng theo cấu trúc 5-7-5 với 17 âm tiết, mặc dầu tiếng Việt là tiếng đơn âm, mỗi âm là một từ . Họ thấy ngay là cấu trúc này khiên cưỡng, có nguy cơ phải cố tình tạo ra đủ số từ và phải chấp nhận các phụ từ và hư từ , vốn là điều úy kỵ trong thơ Haikư- Đây là câu thơ khiên cưỡng ban đầu:

Vòi phun trong công viên

Bao nhiêu hạt bụi nước bay lên

Mát mẻ chiều nắng hạ

( Nghiêm Xuân Đức - 1998)

Tác giả đã tự sửa thành các câu thơ xúc tích và ngắn gọn hơn:

Vòi phun công viên

Bụi nước bay lên

Mát chiều nắng hạ

(Nghiêm Xuân Đức – sau 2000)

Như vậy tùy nghi đầu tiên của các Haijin Việt là : Có thể chấp nhận cấu trúc 5-7-5 khi cần thiết và hợp lý ; hoặc không theo cấu trúc đó khi muốn làm cho câu thơ rất ngắn, xúc tích và loại bỏ bớt các tính từ, trạng từ.

-Tùy nghi tiếp theo là vấn đề Qúy ngữ ( Kigo), trong tiếng Nhật là các từ chỉ mùa. Điều này xuất phát từ Haikư Nhật cổ điển vốn có chủ đề thịnh hành về thiên nhiên. Nước Nhật có 4 mùa, vậy phải có các từ gợi đến mùa, và họ có cả cuốn “từ điển” để tra cứu các Kigo. Khi lan ra thế giới, có các quốc gia không có 4 mùa và các sự vật/ hiện tượng trong các mùa cũng khác nhau. Việt Nam không có băng tuyết , vậy băng tuyết không gợi lên mùa Đông. Người Mỹ nói hoa Cúc không tượng trưng cho mùa thu, vì họ đã trồng được hoa Cúc trong cả 4 mùa từ lâu rồi.Thơ Haikư hiện đại không chỉ nói về thiên nhiên, các tứ thơ của nó đề cập đủ chuyện, như vậy Kigo không có vai trò gì trong các tứ thơ đa dạng đó. Các Haijin Việt đã coi Qúy ngữ là “ tùy nghi ” thứ hai : Có quý ngữ khi nói về thiên nhiên (lúc ấy quý ngữ sẽ tự nhiên xuất hiện), và tất nhiên không thể có quý ngữ khi nói về các chủ đề hiện đại, đa dạng khác.

-Tùy nghi thứ ba là vấn đề vần. Thơ Haikư không có vần hoặc không quan tâm đến vần. Nhưng thơ Việt thường có vần ( và một số ít không vần hoặc gieo vần không chặt chẽ ). Người Việt quen dùng ngôn ngữ có vần ( như trong ca dao, tục ngữ và cả khi không làm thơ họ cũng nói có vần) . Nhiều người Việt quan niệm : thơ là có vần , để phân biệt với văn xuôi là không vần. Do đó , để cho thơ Haikư dễ quen thuộc với tâm hồn Việt hơn, nhiều Haijin Việt đã làm thơ Haikư có vần. Một số người vẫn viết các câu thơ Haikư không vần, đó là tự do của họ. Biểu hiện “vần” của người Việt rất đa dạng, phong phú: Vần lưng (có lẽ Thơ Việt là kiểu thi ca duy nhất có vần lưng), vần chân ( vần liền, vần cách). Mọi cách gieo vần đều được các Haijin Việt sử dụng, nhưng mọi nhà thơ Haikư Việt đều tùy nghi sử dụng kiểu thơ có vần hoặc không vần.

-Tùy nghi thứ tư là vấn đề “cực ngắn”, hạn chế số từ. Các Haijin Việt nghĩ rằng con số 17 là số âm tiêt ( tiếng Nhật là “on” : âm), không phải là số từ. Thơ Haikư Nhật gồm 17 âm, nhưng tiếng Nhật đa âm, mỗi từ có nhiều âm. Vậy tổng số từ cho một khổ thơ Haikư Nhật sẽ nhỏ hơn 17, thường chỉ gồm vài từ. Để cấu trúc cực ngắn, thơ Haikư thường không chuộng các hư từ ( tính từ, trạng từ, giới từ, liên từ…). Hậu quả tất nhiên là thơ Haikư có vẻ khô khan, trơ trụi như chiếc cành cây khô, lá khô… thường có trong nghệ thuật cắm hoa Ikebana của người Nhật. Điều này cũng thường thấy trong các tứ thơ Thiền- Nhiều nhà thơ Haikư cổ điển của Nhật là các Thiền sư, kể cả Basô. Nhưng một đặc trưng nổi trội của thi ca Việt lại là tính trữ tinh ( lyrism); khó tìm thấy các bài thơ Việt không trữ tình ( cũng như khó tìm thấy các bài thơ của các Thiền sư lại trữ tình !). Thơ trữ tình thường ướt át, màu mè, hoa lá và dùng nhiều tính từ. Tùy nghi này có nghĩa là để bảo vệ tính trữ tình, các Haijin Việt không triệt để chống lại các tính từ, đặc biệt trong các tứ thơ trữ tình. Họ vẫn tích cực loại bỏ các hư từ để cho câu thơ ngắn gọn, nhưng vẫn sử dụng khéo léo các loại từ này nhằm làm cho câu thơ mềm mại lung linh thấm đẫm tình cảm của hồn thơ Việt.

Ta hãy xem câu thơ trữ tình rất nổi tiếng sau đây:

Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi….

Ta thử “ Haikư hóa” nó theo cách loại bỏ các hư từ và xếp thành 3 dòng:

Cô tát nước

Sao múc trăng

Đổ đi…

Tính trữ tình hầu như đã biến mất ! Tính “thơ” cũng giảm mạnh.

-Tùy nghi thứ năm là cách trình bày thơ Haikư Việt thành 3 dòng ( xuống dòng) hoặc 1 dòng ( với dấu gạch chéo / ). Điều này xuất phát từ cách trình bày thơ của thế giới : Câu thơ được trình bày theo cách xuống dòng, để phân biệt với cách trình bày văn xuôi thành các dòng liên tục (gần đây cách làm này ít nhiều bị rối loạn do lối “thơ văn xuôi“ không xuống dòng và cách xuống dòng tự do của kiểu thơ “leo thang” bắt đầu từ nhà thơ Nga Maiakốpsky) . Thơ thế giới phải làm như vậy, vì thơ Haikư Nhật vốn được trình bày theo các dòng dọc, viết từ trên xuống dưới, từ trái qua phải. Họ không xuống dòng mà ngăn cách bằng các từ ngắt Kire-ji ( Tổ tiên ta học chữ Hán cũng phải viết dọc như thế và cũng phải dùng các từ ngắt Chi, Hồ, Giả, Dã …), vì chữ Hán cũng không có các dấu chấm, phảy . Khi tiếp xúc với văn hóa phương Tây, người Nhật cũng trình bày thơ Haikư thành các dòng chữ ngang, họ không xuống dòng mà dùng các từ ngắt Kire-ji cho các câu thơ bằng tiếng Nhật ( hoặc có tác giả hiện đại không dùng từ ngắt). Nhưng khi dịch sang các tiếng Âu- Mỹ, họ trình bày theo hai cách: Hoặc trình bày thành ba dòng ( xuống dòng như quy ước về cách trình bày thơ), hoặc sử dụng các dấu gạch chéo /để viết trên cùng một dòng ngang. Như vậy có 2 cách trình bày : 3 dòng hoặc 1 dòng.

Thí dụ : Đây là câu thơ được giải nhất trong kỳ thi thơ Haikư của Hội thơ Haikư quốc tế WHA công bố 10-10-2017: Tiếng Nhật được trình bày thành 1 dòng ngang, nhưng khi dịch sang tiếng Anh lại trình bày xuống dòng thành 3 dòng:

鍵を開けわたしでは無くなって来る昼 呼吸(日本)

Unlocking

I cease to be me

the noon     Kokyu (Japan)

第1位/The 1st Place The 2ns WHA Haiku Contest Results

2017年9月10日/10 September 2017

(Nghiêm Xuân Đức dịch : (trình bày thành 3 dòng)

Khi không bị khóa

tôi ngừng là tôi

lúc buổi trưa)

寒雷やびりりびりりと真夜の玻璃 [Kato Shuton]
Kanrai / biriri biriri to / shinya no hari
Sấm lạnh
răng rắc
kính vỡ giữa đêm

( TÍNH XÃ HỘI CỦA THƠ HAIKU - Lê Thị Bình – Nội san Haikư 7 – tháng 4 – 2017)

Các tác giả Âu- Mỹ chủ yếu trình bày thơ Haikư thành ba dòng :

www.maferme.com

le fermier a ouvert un site

3 visites par an

www.nôngtrangtôi.com

bác nông dân mở mạng

một năm 3 người thăm

(JEAN ANTONINI (1946-) Pháp- Hội viên Hiệp Hội Haiku Thế giới WHA- Đinh Nhật Hạnh dịch và giới thiệu )

Có lúc các tác giả quốc tế lại viết thành 1 dòng với các gạch chéo / , nhất là khi trích dẫn :

Remembering those gone / thankful to be here / the pond of purple iris

Tưởng nhớ những người đã khuất / biết ơn khi được ở đây / cái ao đày hoa diên vĩ tím

Margaret Chula

( Tinh thần Haikư – Patricia Donegan – Lê Văn Truyền dịch – Chuyên san CLB Haikư Việt – tháng 4 – 2017).

Ta thấy các Haijin Việt đã ứng xử tùy nghi với cách trình bày thơ Haikư Việt : Thông thường ( nhất là với thơ sáng tác và thơ dịch) thì viết thành ba dòng. Khi trích dẫn (nhất là trích dẫn từ nguyên văn tiếng Nhật hoặc tiếng Âu-Mỹ) thì có thể viết thành một dòng, với các dấu gạch chéo / .

-Và tùy nghi thứ sáu là vấn đề tiêu đề. Các Haijin Nhật và thế giới gần như thống nhất chặt chẽ rằng thơ Haikư không có tiêu đề ( họ không cho phép cả việc đánh số hoặc dùng từ đầu tiên để đại diện cho bài thơ Haikư). Hãy để cho mọi người suy nghĩ và thụ cảm tự do về các bài thơ Haikư, đặt tiêu đề là đã hướng dẫn hoặc gợi ý cho độc giả. Vậy thì tùy nghi ở đây là gì ? Vấn đề là : Trên thế giới và ở Việt Nam đã xuất hiện dạng thơ Haikư gồm nhiều khổ thơ, có chung chủ đề / nội dung. Có cả những tập thơ dài, với nhiều khổ thơ Haikư nối nhau. Lúc ấy, nhu cầu đặt tên cho bài thơ/ tập thơ ấy sẽ xuất hiện. Ta hãy xem các thí dụ :

The Locust Tree in Flower

Among

of

green


stiff

old

bright


broken

branch

come


white

sweet

May again


Cây bồ kết gai ra hoa

Trong

màu

xanh


cứng rắn

cổ xưa

chói lọi


của cái cành

đã gãy

bỗng lại xuất hiện


Tháng Năm

trắng trong

ngọt ngào


(William Carlos Williams -( 1983-1963- Giải thưởng Pulitzer 1963 -Tập thơ : The Red Wheelbarrow ( Xe cút kít đỏ) - Terebess Asia Online (TAO)

Tập thơ : Cent visions de guerre

Ma tête à peine rentrée,

Un moustique siffle et soudain
La crête de terre s’éboule.

.



Des croix de bois blanc
Surgissent du sol,
Chaque jour, ça et là.




Dans les vertebres
Du cheval mal enfoui
Mon pied fait: floche…

Tập thơ : Trăm tầm nhìn chiến tranh

Tôi hồi tỉnh khó khăn

Muỗi vo ve và bỗng nhiên

Cái gờ đất sụp xuống


Các cây thập tự bằng gỗ trắng

Mọc lên trên mặt đất

Đây đó hàng ngày


Giữa các đốt sống

Của con ngựa chôn sơ sài

Chân tôi rối beng









(Julien Vocance – Tập thơ : Cent visions de guerre ( Trăm tầm nhìn chiến tranh)– 1917- http://www.modernhaiku.org/essays/frenchhaiku.html

Nghiêm Xuân Đức sưu tầm, dịch và giới thiệu )

Các Haijin Việt cũng có nhiều người đã thử nghiệm xu thế sáng tác thơ Haikư nhiều khổ liên tiếp thành bài thơ dài và có chủ đề chung. Sau đây là một thử nghiệm của Nghiêm Xuân Đức.

Mưa ngâu- Sông Ngân

Tháng Bảy

Sông Ngân cá quãy

Cầu Ô Thước ngang trời


Một cây cầu thôi

Trời cho hai người

Còn bao đôi khác


Giọt mưa rơi trên sông

Hòa vào vô cùng

Số phận chung


Mưa lê thê

Buồn về hiu hắt

Quay quắt nhớ hè


Hơi mưa mát lạnh

Nỗi lo xa xôi

Heo may đến rồi


Giọt mưa in bàu trời

Cầu vồng lóng lánh

Dĩ vãng xa vời


Mưa ướt bước người đi

Tiếng bước chân thầm thì

Một đời lầm lũi


Cây cầu mong ước

Sang cầu có là giải thoát

Thiên đường mơ hồ


Chim én bắc cầu

Vì đâu vội vã

Một lần gặp nhau


Hương sắc tàn phai

Tình người hờ hững

Bao cuộc chia tay


Hợp tan- ly biệt

Mưa Ngâu- sông Ngân

Nỗi buồn nhân gian...

Nhiều tác giả không đồng ý với cách làm trên, họ cho rằng Thơ Haikư chỉ có 1 khổ 3 dòng – Nếu ghép nhiều khổ thơ 3 dòng , có tứ thơ (nội dung) chung, đặt tên thành bài thơ/ tập thơ thì đó là Thể thơ 3 dòng, không còn là Thơ Haikư nữa.

Trên đây là tường thuật sáu ứng xử tùy nghi của những người làm thơ Haikư Việt, với hy vọng thể thơ này sẽ góp phần làm phong phú thêm cho hồn thơ Việt. Các tùy nghi này có làm gần lại được sự khác nhau rõ ràng giữa hai nền thi ca ?

Nghiêm Xuân Đức

(Chủ nhiệm CLB Thơ Hải Thượng của các nhà thơ Y tế)

Neo mình lên khói bếp- Lưu Minh Hải

Với thơ, tôi có đam mê mà không duyên nợ nên chỉ là một khách lãng du. Vừa rồi, cũng chỉ một lần cưỡi ngựa xem hoa ghé thăm vườn hoa thơ Hai kư Việt để rồi tôi không thể không dừng lại ngẫm nghĩ một vài điều. Cuộc thi thơ hai kư mà Hai kư Việt tổ chức năm nay vừa khép lại, trong số những bài thơ đạt giải, đây là tác phẩm làm tôi ấn tượng nhất:

Người đàn bà

neo mình lên khói bếp

đêm xuân.

Tác giả: Phan Phượng Uyên (Fb: Mai Trinh)

alt

Xin mạn phép nhà thơ Phan Phượng Uyên được đem sự hạn hẹp của mình vẩy bút mà bình đôi lời:

Trong nền văn hóa truyền thống phương đông, hình ảnh người đàn bà gắn liền với công việc bếp núc trong gia đình có thể nói đó là điều vốn dĩ đã thấm sâu vào trong tâm thức, trong nếp suy nghĩ của mỗi người. Tuy bây giờ xã hội có hiện đại, đông – tây hội nhập nhưng hình ảnh người đàn bà Á đông cũng không bao giờ có thể rời xa được trong mối quan hệ với hình ảnh bếp núc của gia đình mình. Từ hiện thực, thực tế cuộc sống đó tác giả Phượng Uyên đã có một tác phẩm hai kư rất hay, tuyệt hay từ cách dùng hình ảnh đến ngôn ngữ. Tại sao ở đây tác giả không dùng hình ảnh gian bếp, góc bếp, gác bếp, thậm chí có thể là xó bếp,... hay một từ gần nghĩa, tương đương về nghĩa nào khác mà phải là “khói bếp”? Có lẽ bởi vì các từ ấy chỉ mang nghĩa hiện thực về không gian, có vẻ cố định và có phần tù túng sẽ không làm nổi bật được giá trị bài thơ. Khác với những từ trên, “khói bếp” vừa mang ý nghĩa về không gian nhưng không gian ở đây đã thoát ra khỏi cái phạm vi hiện thực hạn hẹp mà vươn tới với sự mơ hồ, huyễn hoặc,...nên đã làm thăng hoa vẻ đẹp lãng mạn cho bài thơ. Điều đặc biệt nữa, yếu tố rất quan trọng để làm nên giá trị bài thơ phải nói đó là cách dùng ngôn ngữ của tác giả qua từ “neo” mà không phải là một từ ngữ nào khác. “Neo” - nếu là động từ có nghĩa là gắn chặt vào, bám chặt vào,...ở đây có thể hiểu cũng như "người đàn bà" luôn gắn chặt với công việc bếp núc vậy. Nhưng có lẽ nên suy ngẫm về "neo" với ý sâu xa hơn về nghĩa tính từ của nó. Phải chăng đó cũng là sự vất vả và cô đơn,... (neo đơn, gieo neo,...) của "người đàn bà" mà không phải ai cũng có thể hiểu, có thể cảm thông và chia sẻ? Tôi xin dám chắc rằng không phải người đàn ông, người chồng nào cũng có thể hiểu hết để cảm thông và san sẻ về những công việc bếp núc, việc nhà cửa của mẹ, của vợ mình.

Hình ảnh cuối của bài thơ cũng mang nhiều ý nghĩa cho người đọc thỏa sức suy ngẫm – “đêm xuân”. Không gian “khói bếp” phải đi với thời gian “đêm” thì mới tạo nên được cảm giác ảo huyền, mơ hồ, lãng mạn một cách trọn vẹn. “Đêm” phải chăng còn mang ý nghĩa đóng lại, như vòng tròn số phận? Nếu để nói về quý ngữ của bài thơ theo quy tắc hai kư truyền thống thì "xuân" chỉ là một danh từ chỉ mùa. “Xuân” ở đây không chỉ đơn thuần dừng lại ở cái nghĩa tường minh đó mà còn mang ý nghĩa sâu xa hơn đó là tuổi xuân. Người đàn bà đã dành trọn hết cả thanh xuân của mình trong cái vòng tròn số phận với công việc bếp núc, gia đình đó chăng? Không phải là một đêm đông lạnh lẽo mà là một "đêm xuân" nỗi niềm. Nỗi niềm suy tư của "người đàn bà" đang lửng lơ theo làn khói bếp của riêng mình. Đó có thể là sự cam phận mà cũng có thể là hạnh phúc trong tâm thức của người phụ nữ Á đông.

Là một người phụ nữ, tác giả Phan Phượng Uyên đã thổi cả tâm tư, hồn phách vào bài thơ của mình để làm nên một viên ngọc hai kư có thể nói là toàn bích. Cái hay của bài thơ được đan cài, hòa quyện giữa hiện thực và lãng mạn; tĩnh lặng trong ngôn ngữ mà lay động trong suy nghĩ, trong tâm tư, tâm hồn người đọc. Phải chăng đó cũng là một nét độc đáo vốn có trong cái thể thơ kiệm lời mà rất đa nghĩa đến từ xứ sở Phù Tang này?

LMH

(Nhóm Hai kư làng Cao Lao Hạ, Hạ Trạch – Bố Trạch – Quảng Bình)

Tổng kết cuộc thi Haiku Việt lần 2 Hải Phòng 2018- Đinh Nhật Hạnh

Kính thưa quý vị Đại biểu, các nhà thơ Đất Cảng, các nhà thơ Haikư đến từ nhiều vùng miền đất nước chung niềm đam mê thể thơ ngắn nhất, thịnh hành nhất trên thế giới-Haikư. Điều đầu tiên xin thay mặt Ban Giám khảo và những bạn thơ Haikư dự thi cả nước trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành đến ông Nguyễn Thanh Bình- Giám đốc Cung Văn hóa LĐHN Việt-Tiệp Tp Hải Phòng và PGĐ Vũ Thanh Sơn đã quyết định 2 năm liền tổ chức 2 Cuộc thi có tầm vóc và ý nghĩa lịch sử này.

alt

Chính tại đây,trên Hội trường ấm cúng này, chúng tôi đã 3 lần được vinh dự báo cáo trước quý vị tiến trình phát triển của thể thơ Haikư ở Việt Nam và kết quả tốt đẹp của những cuộc thi. Chính tại Hải Phòng, Cung Văn hóa Việt-Tiệp đã mở đường bay cho nền HKV cả nước sau 10 năm thành lập nhờ chủ trương đầy thiện chí của Ban Giám đốc. Nhà thơ Minh Trí- Hội viên Hiệp Hội Haiku Thế Giới, Thường trực Website haikuviet.com đã có sáng kiến đề xuất, góp phần tích cực tổ chức những cuộc thi này. Thật vui mừng, năm nay các thí sinh đã đồng nhất về Thể thơ 3 dòng- độ dài không quá 17 từ- giống như thể thức quốc tế quy định của Hiệp Hội haikư Thế giới (WHA) và của Quỹ Văn hóa Hàng không Nhật Bản (JAL Foundation) áp dụng từ hàng chục năm nay trên thế giới.

Không chỉ thuần nhất thu hẹp trong thiên nhiên như Haikư cổ điển Nhật Bản, các bài dự thi năm nay đã mở rộng cánh cửa Haikư ra thế giới đương đại, viết về Thiên nhiên, Thế sự, Tự sự, Tình yêu theo hướng Haikư- MởOpen haiku” của Việt Nam do Đại biểu HKV-HN trình bày tại diễn đàn Haikư quốc tế lần thứ 8 tại Tokyo (NB) năm 2015, trong khi vẫn tôn trọng những trụ cột cơ bản của phạm trù mỹ học Haikư cổ điển Nhật Bản: Giản đạm-Tịch tĩnh-Bi cảm (Wabi-Sabi-Aware)

PHẦN MỘT

Xin mời thưởng thức một số trong 100 bài xuất sắc đã vào chung khảo năm nay:

THIÊN NHIÊN

1-Ánh trăng

như trẻ nhỏ

nằm trên chiếc chiếu mây

Đặng Thái Quý

2-Một, ngước lên trời

một, nhìn xuống đất

tôi và trăng

Nguyễn ngọc Hưng

3-Võng mây

gà gật

vầng trăng

Nguyễn Hoàng Lâm

4 -Bóng đêm

thắp sáng

những vì sao

Phạm Thảo Xuân

5-Con đê

trườn dài

nỗi nhớ

Trần Huy Hoàng

6-Hạt mưa xuân

rơi dần

thời con gái

Trần Duy Hạnh

7-Sóng đêm, biển tối đen

trăng tình trong lọ mực

tim ta thắp đèn

Thanh Phương

8-Một nắng,một gió

miền Trung

cong đòn gánh

Đinh Nguyễn

TÌNH YÊU

9-Ngọn gió

trần như nhộng

Khuất sau đêm

Phan Phượng Uyên

10-Hoàng hôn rụng chân đê

dòng sông sóng sánh

nụ hôn mềm chân quê

Nguyễn Vĩnh Bảo

11-Tháng bảy

em tự đốt cháy mình

hóa cô đơn vào anh

Phạm Phương Thảo

12-Có điều gì trắc ẩn

đôi mắt em nhiều dấu hỏi

hay là em đã thu

Phạm Kim Phượng

13-Môi thiếu nữ

dậy mùi trai

Đàn bà

Lê mộng Hoàng

THẾ SỰ

14-Thấy

như không thấy-

Đi

Nguyễn Điểm

15-Lá rơi

chị quét

nỗi đời

Nguyễn Hoàng Lâm

16-Bức ảnh chung

cuộc đời riêng

tình cạn

Thái Văn Lợi

17-Lạnh cóng bùn non

tay thon

nhành mạ run thẳng lối

Mai Hương

18-Mưa, anh nào hay

ngỡ là nước mắt

rơi đầy trong em

Ngô thị Hạnh

19-Đời tôi héo úa

bởi ánh mắt em

Bắt đền

Đỗ thị Hồng Loan

20 –Thẳm sâu lòng biển

Mảnh trăng khuya

trằn trọc mắt người

Nguyễn Bá Hòa

21 -Nắng, gió

mồ hôi

vương trên hạt gạo

Trần thị Diễm My

22–Không là sóng

không là gió

bão tố trong lòng

Phạm thị Mỹ Liên

23-Một ngày không xa

nếu không còn Biển

Nghĩ mà đuốt đa

Đỗ Tuyết Loan

24-Người đàn bà ế khách bên đường

nuốt vô thường ở lại

xin làm gái một đêm

Vũ Hiền Sĩ

TỰ SỰ

25-Bức ảnh chung

cuộc đời riêng

tình cạn

Thái văn Lợi

26-Cha ngồi khói vương nếp trán

Đêm dài

tụt nõ thời gian

Phạm Thảo Hiền

27-Nhớ

có khi thành lơ ngơ

lơ ngơ thành không quên

Trần Ngọc Vui

28–Lạnh cóng bùn non

tay thon

nhánh mạ run thẳng lối

Mai Hương

29–Chiều hôm cú rúc

gió xé trang thôn

khóc một người

Lê Mộng Hoàng

30-Xa rồi mẹ cha

quê nhà nắng tắt

Về đâu ta

Trần Trung

31-Hàng đã bán xong

em gánh phận em về xóm trọ

Ánh đèn đường hắt hiu

Nguyễn Khánh

PHẦN HAI: VỀ NHỮNG BÀI THƠ ĐƯỢC GIẢI

Cuộc Thi Haikư Việt-Hải Phòng II- 2018

Xin kính mời quý vị bạn đọc cùng dự “Hội Hoa Thơ Haikư Việt-Hải Phòng năm thứ II”. Hàng ngàn bông muôn hồng ngàn tía từ nhiều miền quê đất nước ,từ Tp Bạc Liêu xa xôi cực Nam đến Lạng Sơn trập trùng biên giới phía Bắc; rồi tận Pháp, Anh Quốc, Ănggola… hội về. 363 chùm thơ gồm hơn 1.500 bài từ 180 tác giả đủ lứa tuổi, trong đó có nhiều nhà thơ trữ tình thuộc các Hội nhà Văn T/Ư và địa phương. Ban Chấm thi đã rất vất vả khi cân nhắc 100 bài vào chung khảo. Đề tài tự do vốn dễ tung tẩy cho người dự thi nhưng quá khó cho người định điểm. Có nhiều câu thơ hay đến bất ngờ, chỉ tiếc không đủ giải! Rất mong thông cảm cho ước lệ thứ bậc cao thấp trong các cuộc thi luôn chỉ là tương đối và xin trân trọng mời cùng thưởng thức những tác phẩm sau đây :

Về biển đảo, quả thật sáng tác về đề tài này thật khó mặc dù ai làm thơ cũng luôn quan tâm và không ít lần trăn trở .Tế nhị quá, rộng lớn quá! Hải Phòng là cửa biển tiền tiêu trọng yếu của đất nước. Nhà thơ Nguyễn thị Kim đã viết:

Biển đảo mặn mòi

giữ yên vùng trời

cồn cào đất Mẹ”

Tấm lòng Mẹ Tổ Quốc bao la ,luôn lo âu,phù hộ cho các con ngày đêm vững tay súng canh giữ vùng trời ,vùng biển thiêng liêng của đất nước.

Viết về Mẹ,nhà thư pháp kỳ cựu Sài Gòn ,Thiện Niệm mấy năm trước về thăm mẹ quê xa đang tuổi đời hiu hắt, đã trách oan con phà ọc ạch thời ấy đi sao quá chậm,liệu còn kịp cầm tay Mẹ trối trăng:

Mưa trắng đường về

thăm Mẹ quê xa

phà ơi,chậm thế!

Bà con Đất Cảng không ai khỏi xúc động mỗi khi đi qua 6 hàng cọc cầu cũ nơi Bến tàu không số năm xưa, đến nay hoa dâng tưởng niệm vẫn ngày ngày thả trôi nhớ về thủa ấy. Phan Dũng đã viết:

Sáu hàng cọc cầu cũ

117 liệt sỹ

hoa trôi dưới chân kỳ đài

Chiến tranh tiếp chiến tranh,những thế lực đen tối cực đoan đang khuấy động hòa bình thế giới!Vậy phải làm sao đây?Quyết không thể ngồi im khóc than mà kêu trời khấn Phật!Nước mắt chúng sinh dẫu thành biển cũng tưới sao tắt nổi ngọn lửa hủy diệt đang lộng hành này! Nhà thơ Nha Trang, Kiều Lam đã thốt lên :

Nước mắt nhân loại

tưới không tắt

ngọn lửa”

Hoài niệm tuyệt đẹp về tuổi thơ,Kim Phượng viết:

Đêm trăng tỏa dịu êm

tiếng dế sâu như nỗi nhớ

đưa ta về tuổi thơ “

Và Đinh Nguyễn cụ thể hơn :

-Sợi rơm vàng tuổi thơ

buộc giấc mơ

cổ tích “

Nhà thơ Phùng Gia Viên ca ngợi thiên nhiên kỳ diệu:

-Hạt sương

tinh khiết

lăn thành ban mai

Ta cầu mong cho thiên nhiên thời đại 4.0 này may còn giữ nổi một giọt sương tinh khiết!

Một bài thơ của tác giả Phan Phượng Uyên (Bạc Liêu) gợi trong ta nhiều trăn trở:

- Người đàn bà

neo mình lên khói bếp

Đêm xuân

Không cụ thể là ai mà khái quát,bao gồm cả một nửa nhân loại-đàn bà.Không trừ ai –kể cả các Nữ danh nhân dù quyền cao,chức trọng mấy cũng làm sao không buộc chặt ít nhiều với bếp núc ,với thiên chức cao cả bất biến, nặng nề :Làm Vợ,làm Mẹ của mình!”Neo mình trên khói bếp”,ngay trong đêm xuân rạo rực.Tứ thơ sâu sắc ,trữ tình sao!

Nuối tiếc thời gian vô vọng là tâm lý bâng khuâng đương nhiên của mọi kiếp người trong khung đời bách tuế, may mà kho kỷ niệm buồn vui vẫn gia tăng theo cấp số cộng ,thi thoảng lại ùa về,tác giả Phạm thị Tuấn Anh viết:

-Kỷ niệm xưa ùa về

chỉ thời gian

không thể

TS Lưu Đức Hải đã khéo ẩn dụ ,nhận xét tình trạng một bông lúa qua 2 thời kỳ sinh trưởng khác nhau ví như người con gái phởn phơ tuổi xuân bay nhảy lại âm thầm khép mình khi đã như chim vào lồng với thiên chức định mệnh;suy rộng ra còn liên tưởng đến còn thanh xuân thì phơi phới tương lai,đã về chiều rồi thường lắng đọng,thu mình tri kỷ tri bỉ của người thức giả. Hãy lắng nghe:

-Bông lúa ngẩng mặt

lúc còn xanh

cúi đầu khi đã chín

Hình như thoảng nghe một lời tự sự tiếc nuối mơ hồ mà xa xót…

Tác giả Thúy Vinh đã hồ hởi đón chào ngày mới qua tia nắng đầu tiên vô thanh gõ cửa:

-Mở chân trời mới

tia nắng đầu tiên

gõ cửa ngày lên

Và để kết thúc phần giới thiệu tổng kết này,xin giới thiệu bài thơ đẹp về nỗi nhớ bồi hồi đêm trăng mà trong mỗi cuộc đời ai chẳng có… một lần-của nhà thơ Haikư trẻ Nguyễn thị Phương Anh:

-Lá trăng

đan vòm nhớ

bồi hồi đêm…

Thưa các bạn,hơn 1.500 tác phẩm tuyển chọn công phu của 180 tác giả bốn phương gửi gắm bao hi vọng-chúng tôi tự thấy mình chưa đủ thời gian,chưa đủ trình độ thẩm định thấu đáo chất lượng ẩn,mờ cấu thành giá trị của từng bài.Thấu đạt cái uẩn xúc,cái thần của một bài thơ trữ tình mà ngôn từ phong phú thường đã rõ, vẫn chưa dễ gì nắm bắt;huống chi còn tính mờ,tính ảo,dư vị trong dăm từ cô đọng của thơ Haikư quả là không chút dễ dàng khi thẩm định- dẫu chỉ một khúc Haikư.Một khúc Haikư nghiêm thuần chỉ vỏn vẹn trong khoảng 5-17 từ , như một công án chỉ đặc dụng danh từ ,thứ đến động từ khi diễn tả..Hầu như hạn chế tối đa hình dung từ,phó từ,hư từ phù phiếm…Một khúc Haikư hay ,khi thưởng thức,dù đặc sắc mấy cũng khó được đồng thuận bởi cái Thần của nó –cái dư vị của nó mà mỗi người luôn khác biệt về cảm nhận sâu nông,thật tự do,phóng khoáng như làn hương bay,gió thoảng…

Thưa các vị đại biểu,thưa các bạn thơ quý mến.Xin đa tạ đã lắng nghe.Và xin hẹn nhiều lần tái ngộ tại đây để cùng thưởng thức những bông hoa lạ thuần Việt, mang dáng dấp và sắc hương quê kiểng đậm đà.Một cuộc thi Haikư Việt mới quy mô hơn đang hình thành nhờ cái đà đầy xung lực khởi nguồn từ đây –địa danh văn vật từng sản sinh ra thiên tài âm nhạc Văn Cao…Xin trân trọng kính mời cùng nhập cuộc vui đầy trí tụê-Cuộc Thi Thơ Haikư Việt-Hà Nội lần thứ I sang năm Kỷ Hợi sắp mở màn!

Trân trọng.

Hải Phòng ngày 15/12/2018

TM Ban Giám khảo Cuộc Thi Haikư Việt-Hải Phòng lần thứ II-2018

Trưởng ban giám khảo

Đinh Nhật Hạnh

Cái mạnh của kẻ yếu- Lê Văn Truyền

alt

trời nổi cơn giông

chú bọ ngựa

nghếch đầu đón gió

Lê Văn Truyền

Khi ta lâm vào thế yếu, dù bất cứ vì lý do gì, có lẽ cách duy nhất đúng để có thể vượt qua là dám đối diện với nó, không né tránh, đừng tự đánh lừa, đừng thỏa hiệp và không nên nghĩ trước tiên đến việc nhờ cậy người khác … Với thời gian, trải qua nhiều thử thách ta sẽ tích lũy được một thứ vô giá – đó là sức mạnh tinh thần. Cũng có thể có lúc ta mất trắng, thất bại nhưng sức mạnh tinh thần giúp cho ta được là chính ta. Đó là thành quả ngọt ngào và quí giá nhất mà ta được thủ đắc sau mỗi cơn giông bão trong cuộc đời đầy bất trắc và vô nhân này.

Khi quan sát các giới tự nhiên, ta có thể thấy được các phương thức tự vệ hết sức phong phú của các loài sinh vật vốn rất nhỏ bé, yếu ớt. Đó là kết quả kỳ diệu của tạo hóa và của quá trình tiến hóa của muôn loài để đến hôm nay nhân loại được thừa hưởng một “gia tài vô giá” mà Mẹ Thiên Nhiên ban tặng, đó là sự đa dạng sinh học trên Trái Đất này. Có thể điểm ra muôn vàn “chiến thuật” để các sinh vật bé nhỏ, yếu ớt tránh trở thành “con mồi” cho con người và các loài động vật khác. Nhím xù lông nhọn mỗi khi thấy nguy hiểm rình rập, thằn lằn bắn máu ra từ mắt, ếch lông tự bẻ gẫy xương sườn để biến thành gai, một số loài sên tự tiết ra dịch nhầy, tắc kè hoa thay đổi màu da để ngụy trang, chim công xòe lông đuôi khổng lồ vừa để mê hoặc vừa để thị uy kẻ thù, hải sâm tự moi ruột giả chết để tránh bị ăn thịt, thằn lằn tự cắn đuôi để đánh lạc hướng, mực biển tự phun ra mực như đám mây đen che tầm mắt kẻ tấn công, ngựa vằn có bộ lông sọc trắng đen để tạo ảo giác làm hoa mắt đối phương … Ngay cả các cây cỏ mà ta nghĩ là loài vô tri cũng có cách để bảo vệ sự sinh tồn của mình. Nhiều loại cây cỏ tiết ra chất độc, biến lá thành gai để chống lại con người và các động vật ăn cỏ.

Đấy chính là sự cân bằng sinh thái. Trong thế giới sinh vật, kẻ yếu cũng có một khoảng không gian sinh tồn dành riêng cho chúng. Có thể thấy điều đó trong thế giới động vật và suy rộng ra ngay cả trong thế giới loài người, từ từng cá nhân cho đến từng quốc gia, dân tộc, không có kẻ mạnh hay kẻ yếu tuyệt đối nào. Nếu có đi chăng nữa thì cũng chỉ là tương đối.

Trong giới quyền Anh, nơi được coi là thế giới chỉ của những kẻ mạnh, không một võ sĩ nào dám tự vỗ ngực cho rằng mình luôn luôn và mãi mãi là kẻ mạnh tuyệt đối. Hôm nay bạn được quàng chiếc đai vô địch tột đỉnh vinh quang, nhưng có thể ngày mai bạn là kẻ chiến bại, bị đối thủ hạ “knock out”, mặt mũi đầy máu, nằm ngất trên sàn đấu. Cus D’amato, võ sĩ quyền Anh từng đào tạo ra những huyền thoại như Mike Tyson, đã nói: “Người anh hùng và kẻ hèn nhát đều có một cảm xúc như nhau. Nhưng điều khác biệt là người anh hùng biết chuyển sự sợ hãi của mình sang cho đối thủ trong khi kẻ hèn nhát bỏ chạy. Ai cũng có sự sợ hãi nhưng quan trọng là bạn làm gì với nỗi sợ hãi đó”. Còn tay đấm Rocky Balboa thì cho rằng: “Điều quan trọng không phải là việc bạn có thể đấm mạnh đến mức nào. Điều quan trọng là bạn có thể chịu được những cú đấm mạnh như thế nào để tiếp tục tiến lên”. Có lẽ câu nói trên cũng đúng với những gì đang xẩy ra trên võ đài chính trị thế giới. Có những cường quốc khoe kho vũ khí hạt nhân của mình thừa để cho nổ tung ba – bốn Quả đất. Nhưng thật ra, rất e dè với một nước nhỏ hơn, kinh tế yếu hơn đến hàng chục lần có vài quả bom nguyên tử quèn. Bởi vì, khi đã ấn nút tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, thì chắc gì kẻ mạnh còn tồn tại để nhâm nhi “niềm vui chiến thắng”.

Có lẽ, cái mạnh của kẻ yếu là chỉ biết đơn giản trông mong vào bản thân mình, và biết rằng dù có thua cuộc thì mình cũng không có gì để mất, như thái độ của chú bọ ngựa yếu ớt, mong manh kia bình tĩnh “nghếch đầu” đón nhận cơn cuồng nộ của đất trời sắp ập đến trong khi mọi người đang chạy tán loạn.

LVT

Haiku viếng bạn

alt

Vĩnh biệt Thầy Lưu Đức Trung

đời là cõi tạm

thong dong miền Cực lạc

phiêu diêu cùng haiku

Vĩnh biệt Nhà thư pháp trẻ Dương Minh Hoàng

đời là cõi vô thường

vượt lên trên dương thế

ta múa bút giữa áng mây

Vĩnh biệt Nhà thơ Bác sĩ Trịnh Phúc Nguyên

tạm biệt bạn thơ

thông thạo Anh, Pháp ngữ

tiếng Việt từ nay đành lặng thinh

1.- Nghe các bạn haijin nhắc đến Thầy Lưu Đức Trung rất nhiều lần, được đọc tên Thầy trong những Nội san và Tuyển tập haiku của Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội, nhưng là thành viên mới của Câu Lạc Bộ mãi đến một sáng mùa Xuân năm 2016 tôi mới được gặp Thầy tại tư gia Lão thi huynh Đinh Nhật Hạnh cùng một nhóm bạn thơ.

alt

Lần đầu tiên gặp mặt, tôi rất ấn tượng với một nhà giáo già mái tóc trắng bồng bềnh như mây, cốt cách như tiên ông, nhẹ nhàng, trầm lắng. Hỏi quê quán, mới hay Thầy sinh ra ở Quảng Bình, tuy không cùng quê Thừa Thiên với tôi nhưng cũng đều là dân “Bình Trị Thiên khói lửa” một thời trong Kháng chiến chống Pháp, và cùng tỉnh “Bình Trị Thiên” cũng một thời đói khổ sau 1975. Tôi ngồi yên như một học trò nhỏ nghe Thầy cùng Lão thi huynh đàm đạo về haiku. Đến khi tự giới thiệu tôi là kẻ đến muộn với haiku, Thầy bảo: “Tôi có đọc haiku của anh. Anh cứ thế mà viết nhé!”. Được lời như cởi tấm lòng, âu cũng là lời khích lệ của một bậc lão trượng cho một người tuy tuổi đã lớn nhưng vẫn còn là một “haijin trẻ”. Năm sau, Lão thi huynh Đinh Nhật Hạnh có ý động viên tôi nên tập hợp những bài haiku viết từ 2012 chuẩn bị một tập haiku nhỏ, tôi có ý định nhờ Thầy chấm tuyển chọn bài. Thế rồi việc chưa kịp làm thì một hôm Thi huynh Đinh Nhật Hạnh báo hung tin Thầy đã tạ thế. Tiếc cho một bậc trưởng thượng tài hoa và tiếc cho một dự định chưa thành. Mấy tháng sau, nhân một dịp công tác tại Thành Phố Hồ Chí Minh, tôi điện thoại cho nhà thư pháp trẻ Dương Minh Hoàng, nhờ viết cho một bức thư pháp nhỏ có khúc haiku của tôi để viếng thầy:

đời là cõi tạm

thong dong miền Cực lạc

phiêu diêu cùng haiku

Dương Minh Hoàng đón tôi ở khách sạn trên một chiếc mô tô hầm hố và phóng qua nhiều con ngõ ngoằn ngèo đưa tôi đến viếng Thầy tại một ngôi nhà bình dị, yên tĩnh trong một ngõ nhỏ của Sài thành hoa lệ, ồn ào. Tôi kính cẩn thắp nén nhang và treo bức thư pháp cạnh bàn thờ, tưởng niệm về một Nhà sư phạm lão thành, một Nhà thơ haiku suốt đời gắn bó với nghề dạy học như một người chèo đò thầm lặng, cặm cụi đưa qua sông không biết bao nhiêu thế hệ học trò.

2.- Dương Minh Hoàng thương mến, mới năm ngoái đây thôi trong một chiều mây vần vũ ở Sài Gòn, cháu đưa bác đến viếng Thầy Lưu Đức Trung với bức thư pháp tự tay cháu viết. Thế mà nay, cháu cũng đã về miền mây trắng cùng Thầy. Liệu một già, một trẻ có tìm gặp được nhau ở đó để cùng nhau đàm đạo về haiku và thư pháp chăng?

alt

Tôi còn nhớ buổi trình diễn thư pháp năm nào ở Ngày Thơ Việt Nam Văn Miếu, hình như năm 2015. Dương Minh Hoàng, nhà thư pháp trẻ trung, khỏe mạnh, khuôn mặt tươi rói trong bộ quốc phục cùng nữ haijin trẻ Như Trang, thành viên Câu lạc Bộ ta, nền nã trong tà áo dài, làm cả sân khấu trình diễn sáng bừng. Rồi, một buổi tối cuối năm, tôi lại có dịp tìm đến thăm gian triển lãm thư họa của Dương Minh Hoàng tại Nhà Văn Hóa Thanh Niên của Thành đoàn TP Hồ Chí Minh. Rất tiếc, tối hôm đó Minh Hoàng tíu tít với công việc chung, tôi chỉ được ngồi ngắm những bức thư pháp của Minh Hoàng mà không được gặp mặt.

alt

Và nhớ, mới tháng 5 gần đây thôi tại cuộc Hội Ngộ Haiku Việt tại Nha Trang, Minh Hoàng cũng vụt đến rồi vụt đi. Chỉ biết hôm đó Minh Hoàng không được khỏe. Minh Hoàng chỉ bảo đang thường xuyên bị nổi mẩn. Tôi cứ tưởng Minh Hoàng có cơ địa dị ứng. Giờ ngẫm lại, hình như hệ thống miễn dịch của nhà thư pháp trẻ đã có vấn đề nghiêm trọng từ trước đó. Nhưng ở đời ai có thể biết được chữ ngờ!!!

Minh Hoàng ơi, cháu đã viết giúp bác bức thư pháp viếng Thầy Lưu Đức Trung. Rồi đây, ai viết thư pháp viếng cháu để tiễn cháu về miền mây trắng đây? Thôi, đời là cõi tạm, cháu hãy tiếp tục niềm đam mê và hãy múa bút trên những áng mây trời, cháu nhé!

đời là cõi vô thường

vượt lên trên dương thế

ta múa bút giữa trời mây

3.- Cũng trong một Ngày Thơ Việt Nam, hình như vào Xuân 2014, khi đang chen chúc với mọi người trên một lối nhỏ trong Văn Miếu, tôi thấy một vị đại tá già, thân hình nhỏ nhắn nhưng rất nhanh nhẹn trong bộ quân phục trắng, ngực đeo đầy huân chương bước tới chào. Thăm hỏi nhau mới biết đó là Đại Tá Quân Y Trịnh Phúc Nguyên. Sau này sinh hoạt trong Câu Lạc Bộ Hải Thượng tôi mới biết không chỉ là một nhà y học quân sự lão thành, Đại Tá Quân Y Trịnh Phúc Nguyên còn là một nhà thơ và dịch giả thơ tiếng Pháp và tiếng Anh nổi tiếng đã từng là cộng tác viên của Nhà Xuất Bản Ngoại Văn “Thế Giới”. Tốt nghiệp tú tài trước năm 1945, cậu học sinh trung học Trịnh Phúc Nguyên tham gia kháng chiến và trở thành bác sỹ quân y. Thế nhưng nền tảng ngoại ngữ của Bác sỹ Trịnh Phúc Nguyên đã làm ông được giới văn nghệ sỹ và các nhà xuất bản khâm phục. Học sau ông khoảng mười, mười lăm năm, mãi đến năm 1955, tôi mới sắp sửa thi bằng Thành Chung (Diplôme) ở trường Quốc Học Huế. Nhưng từ khi ra Bắc, vốn tiếng Pháp của tôi rụng rơi gần hết nhường chỗ cho tiếng Trung ở trường phổ thông, tiếng Nga ở trường đại học, và rồi tiếng Roumanie khi làm nghiên cứu sinh. Ông cha ta bảo: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Cũng có thể nói vậy: Một ngoại ngữ giỏi hơn mấy ngoại ngữ không ra hồn! Sau này ở Câu Lạc Bộ Hải Thượng tôi tập tễnh dịch thơ Pháp, nhưng lúc nào cũng phải gửi bản thảo cho Bác sỹ Trịnh Phúc Nguyên duyệt giúp. Không quen với máy tính nhưng bác sỹ duyệt rất cẩn thận. Tôi còn nhớ một lần tôi dịch bài thơ “Khi ta thêm già” (Quand les ans s’additionnent) của một nhà thơ Pháp vô danh, có câu:

Je crois que l’on fait les marches

d’escaliers bien plus hautes

que dans notre temps!

Tôi dịch sai từ “escalier” là “con dốc” Bác sỹ Trịnh Phúc Nguyên đã sửa lại cho tôi là “bậc thang”!

Nhớ lại cuộc gặp mặt đón Xuân Nhâm Tuất đầu năm nay Bác sỹ Trịnh Phúc Nguyên vẫn say sưa đọc thơ, tôi có ý định nhờ Anh hiệu đính cho mấy bài thơ dịch tiếng Pháp. Thế rồi, công việc cứ cuốn đi chưa kịp ngỏ lời. Nay Anh đã thành người thiên cổ trong niềm tiếc thương của bạn nghề, bạn thơ về một vị bác sỹ quân y mẫu mực, về một nhà thơ tài ba, về một dịch giả Pháp ngữ uyên bác.

Anh Nguyên ơi, từ nay tôi biết nhờ ai đây hiệu đính cho mấy bài thơ dịch tiếng Pháp, hỡi Anh!

tạm biệt thi huynh

thông thạo Anh, Pháp ngữ

tiếng Việt từ nay đành lặng thinh

Lê văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt Hà Nội

Ngày 26-11-2018

Con bù nhìn- Lê Văn Truyền

“Nào, hãy giống người!”

ông già ước thế

khi dựng con bù nhìn

Buson Taganuchi

Đinh Nhật Hạnh dịch

Nếu được sinh ra và lớn lên ở nông thôn Việt Nam hẳn chúng ta không lạ gì những con bù nhìn (cảo nhân). Vào những thế kỷ trước và cho đến tận bây giờ ở nông thôn trên những cánh đồng lúa ta vẫn thường thấy bù nhìn thường là những con cúi bện bằng rơm, mặc áo tơi lá, đội nón rách, đôi khi có treo cái lon rỗng để phát ra âm thanh khi có gió. Nhũng người nông dân thường đặt bù nhìn giữa ruộng lúa để dọa và xua đuổi chim chóc khỏi phá hoại mùa màng vì khi nhìn thấy con bù nhìn, chim chóc ngỡ có người đang canh ruộng. Vì vậy, khi dựng một con bù nhìn, những lão nông chủ nhân của chúng luôn mong các con bù nhìn “hãy thật giống người” như ông già trong khúc haiku của Buson ước muốn.

Con bù nhìn đơn sơ không chỉ ngự trị trên đồng ruộng mà cũng đã được đưa vào văn thơ nước ta với bài thơ nôm nổi tiếng “Con bù nhìn” tương truyền của Nhà vua thi sĩ Lê Thánh Tông. Và trên thế giới ngày nay, danh từ “bù nhìn” cũng đã len lỏi vào tận chính trường, trở thành tính từ “bù nhìn” để các đối thủ chính trị hào phóng ném vào mặt nhau trong những nghị trường nghiêm trang hoặc trên sạp báo và đặc biệt trên phương tiện truyền thông đại chúng ngày nay. Thế nhưng ở nước ta gần đây, một số người lại không coi biệt danh “con bù nhìn” là một danh từ để sỉ nhục. Gần đây, trong nhiều phiên tòa xử một số đại gia gây ra các vụ án kinh tế chấn động, nhiều bị cáo có chức sắc thống thiết khai trước tòa đổ lỗi cho đồng sự vì cho rằng tuy được gắn các chức danh chủ chốt (và được … lĩnh lương khủng) nhưng thật ra mình chỉ là “bù nhìn”, không trực tiếp tham gia điều hành và gây ra thiệt hại hàng nghìn tỷ tiền thuế của dân. Thật ra, khi tạo ra một “cảo nhân”, ai cũng mong nó trông “thật giống người” để dọa lũ chim yếu bóng vía. Vì vậy, trên một ý nghĩa nào đó, nhiều lúc trong cuộc sống chúng ta cũng khó xác định được rạch ròi chung quanh chúng ta ai là một “con người thật” và đâu là một “con bù nhìn”, ít nhất là theo nghĩa bóng.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, nơi mà con người đang thừa mứa phương tiện, của cải vật chất nhưng cũng đang tràn ngập nỗi cô đơn trong cuộc sống tinh thần, những con bù nhìn đang có một sứ mệnh tinh thần cao quý và nhân văn khác, hơn hẳn cái chức năng dọa nạt, xua đuổi đám “thiên dịch” gây hại mùa màng và cái chức năng làm công cụ cho các chính trị gia sát phạt lẫn nhau và để một số vị có máu mặt vin vào nhằm chạy tội trước vành móng ngựa.

alt

Đấy là trường hợp trong một ngôi làng nhỏ hẻo lánh, hoang vắng ở Nhật Bản có một người phụ nữ tên là Ayano Tsukimi đã nảy ra ý định đặt những con bù nhìn có kích cỡ như người thật khắp trong thị trấn quê hương Nagoro để nơi đó trông có sức sống hơn. Khi Ayano Tsukimi còn nhỏ, ngôi làng Nagoro thịnh vượng có hàng trăm cư dân sinh sống. Nhưng giờ đây, sau nhiều năm ly hương khi cô trở về cố hương, cả làng chỉ còn lại khoảng chục người. Ayano Tsukimi đã làm những con bù nhìn đặt khắp làng để mong xoa dịu được nỗi cô đơn. Và con đầu tiên cô làm giống hệt người cha của mình.

LVT

Suy nghĩ đôi chút về ý niệm sáng tác Haiku

Trong khái niệm cơ bản của Shofu, đi vào bản chất khi sáng tác Haiku (hay Haikai) gồm có Sabi, Wabi, Siori, Hôsomi, Omomi và Karumi.

alt

Những khái niệm sabi wabi (buồn, tĩnh lặng), Shiori (yêu kiều, dư âm), Hôsomi (rung cảm tinh tế). Còn Karumi (Khinh bạc, đòi thường) là khi thi sĩ quay về với ngôn ngữ thông tục đời thường. Cuối đời Basho coi đây là một khái niệm mĩ học cơ bản trong sáng tác Haikai (thời sau Shiki gọi là Haiku). Cuối đời Basho chuyên tâm với quan niệm này, như nhà tu hành đã tu đủ và “thõng tay vào chợ” trong 10 bức tranh “chăn trâu” vậy! Tuy vây ông và các đệ tử thân thiết cũng biết là khó. Đây ý niệm cuối đời của ông sau khi hoàn thiện ý nịêm Sabi. Ông khá đắc ý với câu “ki no motowa shiru mo namasumo Sakura kana”「木の本は 汁も膾も桜かな」 (dưới gốc cây/nào canh nào cá/ đầy hoa Anh Đào-LTB tạm dịch). Coi là có tinh Karumi!

Ông nói dù bao giờ, vật đổi sao rời bản chất của Haikai vẫn không thay đổi (Fueki). Mùa đông năm Genroku 2 (1689) Basho bắt đầu viêt về ý niệm sáng tác Haikai. Ông quan niệm rằng: Chính tính phổ biến (Ryukosei) tạo nên tính bất biến của Haikai Shofu gọi là fuekiryukosei. Và hai ý niệm này mâu thuẫn - thống nhất với nhau. Trong nội bộ những người theo trường phái này (Shomon) cũng thống nhất như vậy. Basho nói: Bản chất tính cách của Haikai có 2 măt là tĩnh (fueki) và động (ryuko). Haikai coi đổi mới là sinh mệnh thì tính biến động có tính lưu động (ryuko), ứng với thời đại nó biến động và chính tính biến động, đổi mới không ngừng này là bản chất bất biến (fueki) của phong cách sáng tác của trường phái Haikai của Ba sho-Tiêu phong (shofu); về bản chất hai ý niệm này không đối lập, có đổi mới (Ryukosei) thực sự thì sẽ sinh ra bất biến (fuekisei), và có bất biến (fuekisei) thật sự, triệt để thì sẽ sinh ra lưu động (Ryukosei). Nói cách khác: căn bản fueki và Ryuko là một. Lý luận này của Ông đã được các đệ tử cụ thể hóa trong các cuốn “Trích Kyorai” và “Sanjoshi”…

Nghe nói ông khen đệ tử ruột Môrikawa Kyoroku câu Haikai “judangomo kotsubuni narinu akino kaze”「十団子(とをだご)も小粒になりぬ秋の風」(mười viên bột bánh/ không bằng một hạt tấm/ gió Thu- LTB tạm dịch) là có Shiori (dư âm).

Đi tìm Tư liệu về khái niêm Karumi trong Haiku Nhật Bản, bà Kaneko Hana trong cuốn sách nghiên cứu về Karumi (cuốn thượng) bà đã trích mấy bức thư Basho gửi cho các đệ tử (như sanpu , Sora) và khuyến khích họ sáng tác những câu Haiku mang tính Karumi.

Có lẽ ta gọi là “Khinh bạc”, ngôn ngữ thông tục, đời thường. Tôi hỏi một Haijin Nhật Bản mà tôi quen thì ông ấy bảo Karumi là tiếng nói từ tấm lòng chân thật.

Ta sắp tổ chức thi sáng tác Haiku Việt tôi chỉ ngại tiêu chí chấm của Ban giám khảo sẽ khó. Thơ ngắn thì có “CLB thơ ngắn” rồi! Hay thì tùy người… khó nhỉ!

Lê Thị Bình

CLB thơ HK Việt HN

Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay33839
mod_vvisit_counterHôm qua39926
mod_vvisit_counterTất cả2452958
Hiện có 1421 khách Trực tuyến

Quảng Cáo