Khúc tam tấu haiku- Nguyễn Thánh Ngã

Bất chợt đọc chùm Haiku của Haijin Đinh Nhật Hạnh gởi, như một nghệ sĩ già bật lên tấu khúc về "tiếng lòng" rất đỗi thâm sâu.

alt

Nghe câu "thức đêm mới biết đêm dài" chính là tấu khúc thứ nhất khiến cảm giác tôi rờn rợn:

1.

"Khuya

mỏi mòn

cánh vạc"

Chỉ với năm từ tối giản, nhà thơ đã vẽ ra một bầu trời đen thẳm, cũng là bóng tối vô minh của cuộc đời. Con người, kẻ đã đến thế giới này và gánh vác trên vai mình bao thứ nghiệp nặng nề, cũng không thoát khỏi màn đêm ấy. Như cánh vạc kia bay "mỏi", bay "mòn" cả đêm khuya chỉ để kêu lên một tiếng kêu sương sầu thảm! Và nỗi vô vọng là cảm thức thẩm mỹ của tấu khúc Haiku cô độc này, chiều hướng của nó dẫn ta đến cuộc hội ngộ thứ hai:

2.

"Thủy triều tùy trăng

sóng lòng

trăng nào rọi?"

Đây là bản sonate về ánh trăng, mà nhà thơ là kẻ đứng sau khung cửa của căn nhà hoang trên bãi biển. Chúng ta biết rằng, sự thay đổi lực hấp dẫn từ mặt trăng đã tạo ra hiện tượng thủy triều lên xuống, cho nên nhà thơ mới viết "thủy triều tùy trăng", là cái tùy thuộc về khách thể mà nhân vật trữ tình đã được ẩn giấu sau tiếng sóng. Phải rồi, dùng tiếng sóng thực để ám chỉ tiếng sóng vô hình, là một gợi mở rất lý thú, cho nên nhà thơ tự hỏi:"trăng nào rọi" được đây...? Quả là câu hỏi vô cùng kỳ bí!

Vâng, bởi mang vẻ kỳ bí, tấu khúc ấy đã đưa người thưởng ngoạn đến câu trả lời. Tấu khúc thứ ba:

3.

"Quỹ thời gian vơi

như giọt lệ đá

rơi trong hang đời"

Hóa ra tiếng sóng dội trong lòng chính là cái lo toan về "thời gian". Tiếng sóng như tiếng kêu, tiếng thét gào trong biển tối, rằng thời gian như một loại quỹ để dành cho đời người, lại có nguy cơ biến mất bất cứ lúc nào, con người không thể đo đoán được... Nó như giọt lệ chắt lọc từ trong nhũ đá của hang động "đời người"... Hai chữ "hang đời" được sử dụng ở đây như một từ đắc địa, nó logic với bầu trời đêm mỏi mòn cánh vạc, và tiếng sóng lòng gào thét. Từ đây, người đọc có thể hình dung phạm trù sống của đời người tùy thuộc vào môi trường nhận thức, tức thứ ánh sáng trí tuệ đem lại cho mỗi loài linh trưởng.

Tôi cho đây là khúc tam tấu Haiku rất hay, hay không đại ngôn, hay không xảo thuật mới kỳ tài. Bởi sự dung dị là sau khi đã bí hiểm, xa vời cuộc sống...

Thật vậy, khúc tam tấu này chỉ như một khúc ca huyền ảo, được tấu lên bởi bàn tay kẻ lãng du dạn dày kinh nghiệm. Nó ngân lên rồi biến mất, nhưng người am hiểu sẽ thấy nó còn đang dội vào những hang động thăm thẳm mênh mông của đời người...

Sài Gòn tháng 2.2020

N.T.N

Luận đàm bài thơ Haiku của Đinh Nhật Hạnh- Võ Khoa Châu

alt

Mưa vẫn tầm xuân

lất phất

nắng còn say lắm hoa cau

Như chúng ta đều biết, thơ haiku có 17 âm tiết theo ngắt nhịp 5-7-5 âm, là thể thơ ngắn nhất của Nhật Bản. Thơ haiku giữ một vị trí hết sức quan trọng trong truyền thống thơ ca Nhật Bản, là một phần tài sản tinh thần trong kho tàng văn học đất nước Phù Tang, và đang tiếp tục phát triển rộng rãi tại nhiều quốc gia. Tùy vào mỗi thời đại của lịch sử phát triển, mà thơ haiku có các tên gọi khác nhau như hokku発句, haikai俳諧, haiku俳句, và cấu trúc giản lược, còn lại 8, hoặc thấp hơn 17 âm vị. Bài thơ của Đinh Nhật Hạnh – Chủ tịch CLB Haiku Việt – Đại diện Hiệp hội Haiku Thế giới WHA, có thể xem như một dẫn chứng.

Mưa vẫn tầm xuân/ lất phất/ nắng còn say lắm hoa cau

Mưa, cho ta nhiều ý tưởng - Il pleut dans mon cœur comme il pleut sur la ville - Pault Verlaine (1844 – 1896) - mưa trong tim tôi như mưa trên phố. Mưa còn là hoài niệm, là lãng mạn thi ca – Em đến thăm anh một chiều mưa (Tô Vũ), Em tan trường về/Đường mưa nho nhỏ - Ngày xưa Hoàng Thị (Phạm Thiên Thư), Nhưng “mưa” của Đinh Nhật Hạnh là “mưa tầm xuân” – mưa xanh biếc. Ở đây, tác giả dùng chữ “vẫn”, xem như một dụng ý tạo ngữ “nhãn tự”. Nếu giả sử chúng ta bỏ đi âm tiết “vẫn” này, thì câu thơ trở nên bình thường. Vì chữ “vẫn” có nghĩa nó là như thế, cái đang là, sự tiếp nối, tính muôn thưở của “mưa vẫn tầm xuân” trong thơ Đinh Nhật Hạnh. Cũng có thể là “mưa bay lất phất và mây tím giăng giăng” (Trần Thiện Thanh)…

Mưa lất phất – it’s springkling - hạt mưa bụi rơi rất nhẹ và tựa như bay nghiêng theo chiều gió. Lất phất - hình ảnh lay bay – lay phay không những tạo tính vận động nhẹ nhàng cho toàn thể 12 âm tiết quý ngữ (mùa xuân), mà còn “làm dáng”, làm đẹp câu thơ chỉ với hai âm ngữ định vị. Tác giả đặt “chỗ đứng” thứ hai trong bài thơ ba câu nói trên, là một sự chọn lựa nghệ thuật thi ca Haiku.

“Nắng còn say lắm hoa cau” – Nắng. cho ta hàm ý của dung nhan. Nắng rực rỡ, nhưng rồi sẽ tàn, cũng như dung nhan, một ngày nào đó cũng phai sắc theo thời gian. Nhưng nắng ở đây - trong câu thơ của tác giả là cái nắng “còn say lắm”, là cái nắng vẫn đang say màu “hoa cau rụng trắng bên thềm”, của vườn quê Việt - “Một cõi vườn cao vút những thân cau”. (Vũ Quần Phương)

Ta cũng nên để ý nhà thơ Đinh Nhật Hạnh sử dụng từ “lắm” trong “say lắm”, thật ý vị. Đó là một cái say thanh khiết, thắm thiết, tao nhã nồng nàn xuân. Ý vị ở chỗ không phải là say đắm. Vì say đắm, là cái say “lụy”, một sự say chìm đắm vào…

Thơ Haiku kiệm lời mà ý thơ sâu sắc, thâm trầm, nhu nhuyễn; vì thế cho nên tác giả luôn hết mực cẩn trọng “cân đo” tự vựng, chọn lọc âm tiết, đa tầng ngữ nghĩa. Bài thơ trên của Đinh Nhật Hạnh đã nắm bắt được cái “quý ngữ”,và sự tinh lọc văn chương xứ sở Mặt Trời mọc

Để minh chứng thêm điều này, lời viết mượn những bài thơ sau đây của các tác giả Haiku đã đạt giải cao trong các kỳ thi thơ Hai ku, làm một xác tín.

Xó chợ/ chiếc lon trống/hạt mưa mồ côi (Nguyễn Thánh Ngã – tp Hồ Chí Minh)

Người đàn bà/ neo minh lên khói bếp/ đêm xuân (Mai Trinh Phượng Uyên – Bạc Liêu)

VKC

Say thơ Haiku với bạn vong niên- Dương Quang Minh

“Nhà thơ Haikư Việt đang ở phương trời nào đó?” – qua điện thoại, tôi cất tiếng gọi. “Mình đang ngắm hoa ở Chợ Hoa Tết Trương Định đây. Mời bạn đến nhà chơi nhé. Mươi phút nữa gặp nhau nhé” - Bác Đinh Nhật Hạnh U 100, bạn vong niên của tôi đáp. Thế là chúng tôi lại thêm dịp ngồi bên nhau  thưởng thức trà ngon, đàm đạo thế sự. Trong niềm vui tiễn năm Kỷ Hợi (2019) đón năm Canh Tý (2020), bác Hạnh trao tặng tôi cuốn Tuyển tập thơ Haikư Việt của Câu lạc bộ Hakư Hà Nội. “Quý hóa quá, đẹp quá” - tôi reo lên đón báu vật có tên “12 năm ấy” (bằng 3 ngôn ngữ Việt, Anh, Nhật), Nhà xuất bản Văn Học ấn hành.

alt

Theo thói quen, tôi đọc ngay lời tựa ở trang đầu ấn phẩm, liền được tiếp nhận thông tin từ nhà thơ Nhật Chiêu: “Thơ Haikư dù ban đầu mang tính đặc trưng Phù Tang, nhưng càng ngày càng mang tinh quốc tế. Không ai tính nổi trên thế giới đến thời điểm này có bao nhiêu người  sáng tác thơ Haikư. Đủ màu da cho thơ Haikư. Đủ phong cách cho thơ Haikư. Đủ lứa tuổi, đủ đề tài…”. Tiếp đến, nhà thơ ngợi ca sự đóng góp và thành công của các nhà thơ Haikư Việt từ năm 1975 đến nay. Lật mở trang mục lục, tôi đếm được 59 tác giả cung cấp tới 590 bài thơ (mỗi người 10 bài) kết thành ấn phẩm dày tới 220 trang.

“Bác Hạnh ơi - tôi ngỏ lời - Em hiểu với thơ Haikư, người đọc phải suy ngẫm từng câu từng chữ, chứ không thể “cưỡi ngựa xem hoa”. Dù vậy, vừa lướt qua ấn phẩm thôi, em có duyên bắt gặp bài hợp với ý mình”, rồi giải bày: “Với 8 từ “Đậu - gió vẫn thổi - đôi cánh vẫn rung” bài thơ của Mai Văn Phấn  mang đậm tính thời sự. Những kẻ tham nhũng, hư hỏng thời đương chức, những tưởng khi về hưu sẽ thoát búa rìu pháp luật. Thực tế diễn ra không thế, họ run rẩy, lo sợ. Đã gây tội thì phải đền tội. Cuộc sống thật công bằng”. Thấy bác Hạnh gật đầu, tôi hào hứng nói tiếp: “Em còn thích bài cũng chỉ 8 từ “Con giun – chui xuống vườn – đất bao la” của Phan Hữu Cường”. Được bác Hạnh hỏi lý do, tôi thưa: “Bài thơ ấy chứa bài học lớn. Ai hiểu rõ mình, hiểu rõ môi trường xã hội, môi trường thiên nhiên nơi mình sống, ắt hành động phù hợp và luôn luôn thấy mình thênh trang, hạnh phúc”. Nhận thêm cái gật đầu của người bạn vong niên, tôi nồng nhiệt trải lòng: “Bác Hạnh ơi! Em thú lắm khi đọc bài thơ của Lê Đình Công 3 dòng, đều đặn mỗi dòng 4 từ  “Mông lung đêm dài – chợt vang gà gáy – ô kìa ban mai”. Phải chăng nhà thơ  diễn tả tâm huyết của những vĩ nhân, luôn luôn mang tinh thần tìm tòi khám phá vì sự nghiệp chung. Khi ánh sáng trí tuệ bùng phát, các vị ấy sung sướng  đến cao độ, do khẳng hoạch định được bước đường thành công phía trước. Em xếp bài này vào mục “Gương sáng nhân tài”, liệu có được không ạ?”. Bác Hạnh thủng thẳng nói: “Nước gặp họa thì xuất hiện tôi trung để ứng cứu! Cổ nhân từng tổng kết!”, rồi thêm lời gợi ý: “Nhà báo ơi! Viết thành văn ngay đi những suy tư buổi đầu anh vừa nói khi mới lướt qua “Tuyển tập thơ Haikư - 12 năm ấy”, và nhớ đọc kỹ, viết tiếp về những điều hay ý đẹp ẩn mình trong mấy trăm bài thơ Haikư khác nữa nhé”. Tôi liền đáp “Em xin sẵn sàng”.

DQM

Con chuột máy- Hồ An Thạch

alt

Click...click...

tiếng chuột giao thừa

mở toang

(Nguyễn Thánh Ngã)

Cuối năm, sau nhiều bề bộn cuộc lữ, tôi lại có dịp gặp thơ, đọc nhau nghe những sáng tác mới. Không thể không động bút, khi có bài thơ hay lay động tâm hồn. Bài haiku của Nguyễn Thánh Ngã là một bài như vậy, làm tôi đặc biệt chú ý. Anh gởi tôi mảnh giấy, đọc qua một lần là tôi nhớ không thể nào quên. Bởi bài thơ lạ lắm! Nghe thì hay đấy, cũng khó hiểu đấy...

Tôi về thư phòng ngẫm ngợi, tiếng chuột kêu trên xà nhà "chút chít", gần với tiếng click , tức lá cái nhấp chuột của máy tính. Phải rồi, kèm theo chiếc laptop là con chuột, kích hay bấm chuột, tiếng Anh gọi là click...

Vâng, thuật ngữ con chuột làm tôi liên tưởng đến dáng dấp của động vật nhỏ bé, linh hoạt, hẳn con chuột máy tính cũng vậy, nhanh nhẹn để con người thao tác. Và đoạn dây điện cũng giống cái đuôi chuột, tôi thầm khen ai đó đã nghĩ ra cũng thật hay. Đã vậy, câu thơ :"tiếng chuột giao thừa", là nói về thời khắc năm cũ chuyển dần sang năm mới, cách nhau một tiếng chuột kêu thôi...

Chỉ cần một động tác click, cánh cửa tri thức của nhân loại sẽ được mở toang. Và chân trời mới xuất hiện...

Bài thơ có năng lực ghê gớm, đã mở ra thời đại ánh sáng cho con người chiếm lĩnh không gian internet.

Thơ haiku kiệm, kín, nhưng cũng mở toang, nếu ta biết kích vào con chuột thông minh trên vỏ não. Nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã đã làm công việc kích thích trí tò mò của người yêu thơ, để cuối cùng vỡ òa trong sự đồng cảm bao la...

H.A.T

Haiku Việt- Bản hòa ca của tâm hồn Việt- Nhật

Thơ haiku là sản vật trân quý của xứ sở Phù Tang. Thơ haiku giống như loài hoa bồ công anh, đẹp một vẻ đẹp dung dị, đơn sơ, khiêm nhường, và khi vào độ chín, theo gió bay đi muôn phương. Những hạt giống haiku Nhật dù ở mảnh đất nào cũng nảy nở, sinh sôi thành vườn thơ đẹp bất chấp những hàng rào ngôn ngữ, văn hóa… Có một vườn thơ haiku như thế trên mảnh đất Việt Nam. Hạt giống haiku Nhật Bản được gieo trồng trên mảnh đất của xứ sở mà con người từ ngàn đời nay vẫn dành trọn tình yêu cho thi ca nên chẳng bao lâu đã đơm những nụ hoa, kết những trái ngọt đầu mùa. Kể từ những bỡ ngỡ buổi đầu khai sinh đến nay, haiku Việt do Câu lạc bộ haiku Việt Hà Nội sáng tác đã trải qua mười hai mùa hoa với rất nhiều thành tựu. Hoa trái đầu mùa của haiku Việt kết tinh những hạt phù sa tâm hồn Việt, tỏa một hương sắc rất Việt Nam. Đọc haiku Việt, độc giả được sống giữa một không gian thiên nhiên, một không gian văn hóa, gặp gỡ những tâm hồn rất đỗi Việt Nam.

alt

Vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người và văn hóa Việt Nam

Thơ haiku Nhật Bản cổ điển thường viết về đề tài thiên nhiên qua bốn mùa được gọi là quý đề (kidai). Để biểu đạt mùa, thơ haiku thường dùng quý ngữ (kigo). Đó có thể là những từ trực tiếp chỉ mùa (gọi là quý ngữ trực tiếp) hoặc những hình ảnh, âm thanh đặc trưng biểu tượng cho mùa (gọi là quý ngữ gián tiếp). Quý ngữ chỉ mùa xuân trong haiku Nhật Bản thường là hoa anh đào, hoa mai, hoa mơ, hoa mận, liễu xanh, chim oanh, chim yến…, mùa hạ là tiếng ve, chim quyên, hoa diên vĩ…, mùa thu là trăng, sương, tiếng dế, tiếng côn trùng, lá phong…, mùa đông là cây tùng, tiếng ngỗng hoang, tuyết, cánh đồng hoang… Tiếp thu tinh thần ấy, thơ haiku Việt cũng viết về thiên nhiên bốn mùa nhưng là những cảnh sắc thiên nhiên Việt Nam, là những hình ảnh, âm thanh rất đỗi thân thương đối với mỗi người dân Việt. Những âm thanh, hình ảnh dung dị của làng quê Việt từ Bắc vào Nam, từ miền núi, đồng bằng đến miền biển… chợt hiện lên trước mắt nhà thơ và bước vào trong thơ hết sức tự nhiên.

Vẻ mĩ lệ của những chân ruộng bậc thang lúa đang thì con gái xanh tươi trên vùng núi phía Bắc đã lay động tâm hồn lữ khách phương Nam Mộng Hòa. Liên tưởng thú vị những khu ruộng bậc thang với “thang ai bắc / lúa lên trời’ của nhà thơ đã giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng cũng như sức mạnh sáng tạo trong lao động của những con người nơi vùng cao:

Ruộng xanh

thang ai bắc

lúa lên trời (Mộng Hòa)

Cũng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của núi rừng, nhà thơ Lê Khắc Huy lại rung động trước một cánh cò trắng về tổ lúc chiều muộn trên nền núi tím biếc. Hai hình ảnh đối lập về kích thước, về màu sắc: ngọn núi hùng vĩ tím biếc – cánh cò trắng nhỏ bé, mong manh gợi lên một vẻ đẹp cô liêu. Hai chữ “thân cò” trong thơ xưa giúp nhà thơ thể hiện được nỗi niềm xót xa cho những chút phận lênh đênh, nhọc nhằn:

Núi tím biếc

chấm trắng lớn dần

thân cò về muộn (Lê Khắc Huy)

Sapa – “thành phố trong sương” - làm say đắm nhà thơ Lê Thị Kim bởi vẻ đẹp của một thiếu nữ cuộn mình say giấc nồng trong tấm chăn bông mây núi, bởi rượu được chưng cất từ táo mèo đặc biệt lên hương.

Sapa cuộn mây

táo mèo ủ rượu

thơ ngả nghiêng say (Nguyễn Thị Kim)

Nhà thơ mượn những câu thơ say để nói lên nỗi niềm say đắm của lòng mình. Phan Vũ Khánh, Nguyễn Kì Anh dẫn người đọc đến với những đêm hội của đồng bào vùng cao với bếp lửa trên nhà sàn, điệu hát then hòa trong tiếng đàn tính, với vườn đào bừng nở khoe sắc cùng thiếu nữ sơn cước:

Bếp lửa nhà sàn

rung ran đàn tính

điệu then mướt đồi (Phan Vũ Khánh)


Củi cháy

hồng má em cô gái vùng cao

đào ngoài vườn bung nở (Nguyễn Kì Anh)

Hà Nội – chốn kinh kì hào hoa, thanh lịch bậc nhất – giờ đây đã hiện đại hóa hơn nhưng cũng trở nên xô bồ, náo nhiệt hơn. Những người vốn gắn bó với Hà Nội xưa như Phùng Gia Viên luôn hoài niệm về hình ảnh Hà Nội ngày cũ. Một chiều thả bộ trên cầu Long Biên, nhà thơ như ngược chiều cuộc sống ồn ào tìm về một Hà Nội xưa êm đềm:

Cầu Long Biên

lối bộ hành

ngược chiều xe cộ (Phùng Gia Viên)

Nếu cầu Long Biên là cây cầu tiêu biểu của Hà Nội thì cầu Tràng Tiền lại là biểu tượng của xứ Huế mộng mơ. Cây cầu sáu vài mười hai nhịp trong tưởng tượng của nhà thơ làng quê Nguyễn Bính đẹp lãng mạn và trữ tình, mang thần thái của đất kinh kì xưa: “Cầu cong như chiếc lược ngà / Sông dài mái tóc cung nga buông hờ”. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi lữ khách Hồng Đào ngẩn ngơ trước vẻ đẹp của cây cầu huyền thoại, cây cầu đã góp phần hoàn thiện vẻ diễm lệ u hoài của xứ Huế:

Tràng Tiền

Sáu nhịp cầu cong

ngẩn hồn lữ khách (Hồng Đào)

Vẻ đẹp của biển quê hương cũng đi vào thơ haiku Việt. Đi đón mặt trời trên biển sớm mai, nhà thơ Phương Anh bắt gặp một hình ảnh rất gần gũi, thân thương mà cũng rất lung linh thơ mộng:

Ban mai

sóng nắng

tròn căng cánh buồm (Phương Anh)

Nắng mai chiếu trên mặt biển sóng gợn tạo thành ngàn lớp sóng nắng lấp lánh rực rỡ. Cánh buồm no gió đưa thuyền về đất liền. Bình dị mà đẹp nao lòng!

Quan sát cửa biển, Minh Trí có một phát hiện thú vị:

Cửa biển

sông tìm ra khao khát

tàu về bến bình yên (Minh Trí)

Cửa biển - đó là nơi những dòng sông hòa nhập vào biển lớn, thỏa nỗi khát khao suốt một đời sông từ lúc khởi sinh trên núi biếc. Nhưng đó cũng là nơi bình yên để trở về của những con tàu sau những ngày lênh đênh trên biển mà hiểm họa luôn rình rập. Cùng một sự vật, hiện tượng nhưng sẽ được cảm nhận theo những cách khác nhau bởi những chủ thể khác nhau.

Một bến sông trong hàng ngàn bến sông quê Việt Nam đẹp như trong cổ tích, qua nét vẽ đơn sơ của Hồ Phương, hiện lên như một bức tranh thủy mặc có thể đặt tên là Thủy nguyệt. Bức tranh ấy hội tụ những nét đẹp mà mĩ học Nhật đề cao như sự tĩnh lặng (tịch - sabi), đơn sơ (đà - wabi) và hài hòa (hòa). Trong bức tranh ấy, vạn vật trong trạng thái tĩnh tuyệt đối; soi chiếu và hòa hợp với nhau.

Hoàng hôn

bến vắng

trăng soi (Hồ Phương)

Nắng chói chang trên sa mạc khô cằn là đặc điểm nổi bật của những vùng đất Nam Trung bộ. Nhưng Lương Thị Đậm vẫn chắt chiu tìm được vẻ đẹp riêng của miền quê ấy. Đó là những bông hoa xương rồng màu đỏ rực như lửa trên cát cháy. Hình ảnh ngọn lửa như là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt, và ý chí kiên cường của con người trên vùng đất thiên nhiên khắc nghiệt này:

Nắng chói chang

sa mạc khô cằn

hoa xương rồng rực lửa (Lương Thị Đậm)

Vẻ đẹp trong lao động của những con người bình dị cũng là một đề tài đáng trân trọng trong thơ haiku Việt. Nếu trong thơ Basho, hình ảnh người nông dân gánh khoai sọ giống đi bán vào lúc hoa anh đào nở rộ vẫn mang một vẻ lãng mạn:

Gánh đi bán

Khoai sọ giống

Vào lúc anh đào nở rộ. (Basho – 1690 – Lê Thị Bình dịch)

thì trong haiku Việt, nhà thơ tái hiện hình ảnh người lao động vất vả, cay đắng với tất cả hiện thực như nó vốn vậy:

Nụ cười trên mặt nạ

nước mắt sau cánh  gà

tiếng vỗ tay. (Lê Vũ)

Bài thơ của Lê Vũ thể hiện sự thấu hiểu, cảm thông của anh đối với những người lao động nghệ thuật. Để có những màn diễn xuất thần, nhận được tiếng vỗ tay tán thưởng của khán giả, người nghệ sĩ phải giấu đi biết bao nỗi niềm, nhiều khi là cay đắng. Tuy nhiên, công việc của những người lao động, dù là ở ngành nghề, lĩnh vực nào, cũng đều chứa đựng một ý nghĩa hết sức lớn lao. Giọt mồ hôi của người nông dân đổ xuống đánh thức đất đai, sinh thành những mùa màng bội thu:

Giọt mồ hôi

giật mình

đất thức. (Lại Duy Bến)

Những người lao công làm công việc quét rác đêm thầm lặng đem lại những ban mai trong lành cho phố phường:

Hai người quét rác

tạm biệt nhau

ngày mới bắt đầu (Nguyễn Hoàng Lâm)

Những cô giáo vùng cao cắm bản, vượt qua rất nhiều khó khăn để mang đến tri thức cho các em thơ:

Cô giáo cắm bản

trò chân đất vượt núi đồi

tìm cái chữ (Ngọc Vân)

Những người lính từ biệt gia đình, quê hương, dấn thân vào gian khổ, hiểm nguy vì độc lập dân tộc, hòa bình cho nhân dân:

Đoàn quân xa đi ngang

nhớ câu thơ cũ

lá rụng từ cành ngụy trang (Nghiêm Xuân Đức)

Vẻ đẹp của con người Việt Nam còn thể hiện trong những tình cảm nhân bản như tình yêu ông bà, tình yêu cha mẹ, tình yêu đôi lứa... Khói bếp gợi nhớ đến hương rơm rạ từ bếp của bà, gợi nhớ đến đôi mắt nhuốm màu sương:

Khói quẩn thơm

nhớ hương rơm rạ

mắt bà sương pha (Thu Sang)

Haiku Việt cũng nhắc nhớ nhiều về mẹ - hình tượng mang những phẩm chất tiêu biểu cho con người Việt Nam. Hình ảnh mẹ trong thơ haiku không phải là những tượng đài kì vĩ mà nhỏ bé, dịu dàng, chịu thương chịu khó, âm thầm hi sinh, hết lòng vì con. Trong thi ca, tấm lòng, tình cảm bao la mà lặng lẽ của người mẹ thường được so sánh với vô tận nước trong nguồn: “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” (Ca dao), với mênh mông thăm thẳm biển:

Ôi! Biển khơi

Khi tôi nhìn thấy biển

Mẹ tôi ơi! (M. Basho)

Trong thơ Thiện Niệm, hình ảnh nước suối nguồn trong trẻo tận tụy vượt qua bao ghềnh thác lại được liên tưởng tới mái tóc màu mây trắng của mẹ - mái tóc lặng im không lời mà thổ lộ rất nhiều về những vất vả, hi sinh thầm lặng của người mẹ:

Nước trong nguồn

qua bao ghềnh thác

tóc mẹ màu mây. (Thiện Niệm)


Mẹ cõng nắng mưa

trên đồng lúa chín

gió trưa thì thầm (Thanh Vân)

Nhìn di vật đơn sơ của mẹ, Vũ Phượng xót xa:

Cơi trầu còn đó

hồn trong gió

mẹ tôi (Vũ Phượng)

Vật còn đây mà người thì đã phiêu du cùng mây gió. Bài thơ gợi nhớ nỗi niềm của M. Basho khi cầm trên tay di vật của mẹ là nắm tóc có pha những sợi bạc:

Tóc mẹ còn đây

Tan trong lệ nóng

Sương mùa thu bay. (M. Basho – Nhật Chiêu dịch)

Tình yêu trai gái là một đề tài mới mẻ, chỉ xuất hiện trong haiku Nhật hiện đại, hình thành nên dòng thơ tình haiku. Thơ tình haiku Nhật Bản có phần thiên về vẻ đẹp nhục cảm:

Bóng tối nhoà

Nàng buông xiêm áo

Diên vĩ nở hoa

Thơ tình haiku Việt thiên về những rung động tâm hồn, có khi mới chỉ là những rung động dịu dàng trước một hình bóng thiếu nữ thướt tha:

Thướt tha dáng hoa

tim ai

lạc lối (Ánh Thu)

là nỗi nhớ bâng quơ mà bồi hồi một đêm trăng trong khu vườn lấp lánh. Nỗi nhớ ngổn ngang, chồng chất đan dệt thành vòm lá dát ánh trăng:

Lá trăng

đan vòm nhớ

bồi hồi đêm (Phương Anh)

Cũng có khi là tình yêu nồng nàn đến độ hòa quyện bóng hình trong một đêm trăng:

Đêm trăng

hai người

chung một bóng (Phan Phượng Uyên)

hay là sự trở lại của tình yêu như hoa nở trong mùa đông sau những ngày lạnh giá:

Sự tĩnh lặng của mây

hoa vẫn nở trong mùa đông

anh đã trở lại yêu em (Như Quỳnh de Prelle)

Những người lính biển có cách thể hiện tình yêu thật giản dị, mộc mạc. Anh gửi rất nhiều lời yêu thương chưa kịp nói trong những cánh hoa bàng vuông – loài cây mạnh mẽ, có sức sống kiên cường, mãnh liệt - biểu tượng của Trường Sa:

Tặng em yêu

chỉ có hoa Bàng vuông

người lính đảo (Lê Thị Bình)

Nhà thơ Lí Viễn Giao lại thổ lộ nỗi chông chênh cô đơn khi “người ấy” sang ngang qua hình ảnh sóng vỗ chênh chao nơi bến nước cuối làng. Tình yêu không thành bao giờ cũng để lại dư ba buồn bã, trống vắng mãi không nguôi như thế:

Người ấy sang ngang

bến nước cuối làng

chênh chao sóng mãi. (Lí Viễn Giao)

Những vấn đề xã hội Việt Nam đương đại

Nếu haiku cổ điển Nhật Bản chỉ viết về thiên nhiên qua bốn mùa thì đến thời kì hiện đại, sau những cách tân của nhà thơ Shiki (1867-1902), haiku đã viết về những đề tài khác như đề tài xã hội, tình yêu… Haiku Việt đã tiếp thu tinh thần hiện đại của haiku Nhật mà đề cập những vấn đề nóng hổi trong đời sống xã hội Việt Nam. Những bài thơ haiku nhỏ bé là nơi các nhà thơ trải tấm lòng nhiệt huyết, những suy tư, trăn trở về vận mệnh đất nước, dân tộc mình, về những nỗi niềm của con người nhỏ bé trong xã hội hiện đại.

Chủ quyền biển đảo là một trong những vấn đề khiến các nhà thơ trăn trở nhất. Bằng nhiều hình thức khác nhau, các nhà thơ bày tỏ suy tư, tình cảm của mình đối với vùng lãnh hải của Tổ quốc. Hình ảnh “biển Đông cuộn sóng” trong thơ Lê Thị Bình gợi lên nhiều tầng ý nghĩa. Đó là biển dậy sóng hay là sóng dậy trong lòng người?

Lưỡi bò liếm

biển Đông

cuộn sóng (Lê Thị Bình)

Mượn hình ảnh ẩn dụ “bóng cú vọ đen ngòm trên biển đảo”, nhà thơ lão thành Đinh Nhật Hạnh bày tỏ thái độ căm giận trước những thế lực hắc ám rình rập xâm chiếm vùng lãnh hải và mong muốn giữ cho biển đảo quê hương vĩnh viễn mùa xuân:

Mùa xuân

giữ bằng được mùa Xuân!

bóng cú vọ đen ngòm trên biển đảo (Đinh Nhật Hạnh)

Nhà thơ Minh Trí gửi tấm lòng của đất liền tới những chiến sĩ đang canh giữ hải đảo của Tổ quốc qua những cánh thư. Những cánh thư như nhịp cầu nối ánh mắt yêu thương, tình cảm thương nhớ mong của người hậu phương với biển đảo xa xôi:

Đảo xa

cánh thư giăng mắc

ánh mắt người đất liền (Minh Trí)

Nhà thơ Đỗ Tuyết Loan lại gửi đến các chiến sĩ tấm lòng thương mến bao la mà thầm lặng của một người mẹ. Thương con, mẹ ngày đêm nguyện cầu, vỗ về biển cả gió yên sóng lặng để những người con bớt đi phần gian khó, hiểm nguy:

Sóng dữ lặng nào!

gió bão êm nào!

con tôi đang giữ đảo (Đỗ Tuyết Loan)

Biển hiền hòa “cho ta cá như lòng mẹ” (Huy Cận) nhưng biển cũng như mụ phù thủy cay nghiệt đã hàng ngàn năm nay biến nhiều thiếu phụ thành những Vọng Phu hóa đá chờ chồng. Có một Vọng Phu như thế trong thơ của Phương Anh:

Bão tan

người mẹ bồng con trên cát

khát một cánh buồm (Phương Anh)

Hình ảnh người mẹ bồng con nhỏ đăm đăm hướng ra biển cả tìm kiếm, mong chờ một cánh buồm sau cơn bão làm tim ta nhói đau.

Trong những năm qua, hiện tượng đô thị hóa tại các thành phố lớn diễn ra với tốc độ chóng mặt. Một mặt, nó mang lại cho con người cuộc sống văn minh, hiện đại, tiện nghi hơn; nhưng mặt khác, nó cũng khiến đô thị trở nên bức bối, ngột ngạt, khiến con người ngày một xa cách với thiên nhiên hơn. Có lẽ, đó là cảm giác chung, thường trực trong tâm trí nên nhiều nhà thơ haiku, không hẹn mà nên, thổ lộ trong thơ. Ngọc Căn, Hồ Hoàng Hoa, Nguyễn Đăng Minh bâng khuâng luyến tiếc vẻ đẹp của đường chân trời, của ráng chiều, của cánh đồng lúa chín đã bị mất đi trước sự xuất hiện của những tòa cao ốc chọc trời:

Toà nhà mới dựng xong

ta mất

một chân trời thăm thẳm. (Ngọc Căn)

Gợn sóng hồ Tây

nhấp nhô cao ốc

khuất cả ráng chiều. (Hồ Hoàng Hoa)

Đêm chìm trong sương lạnh

Khu chung cư lấp đồng lúa chín

tiếng cuốc xưa vọng về. (Nguyễn Đăng Minh)

Đô thị hóa cũng có nghĩa là những con đường quê rợp mát bóng tre, những mảnh ruộng quê màu mỡ bờ xôi ruộng mật biến mất, chỉ còn trong kí ức, thay vào đó là sự xuất hiện của những con đường bê tông, đường nhựa nắng rẫy vô hồn:

Ngõ quê xưa

lắt lẻo chìa vôi

trượt dài đường bê-tông (Nguyễn Kì Anh)

Con đường lớn chạy qua

Hương rạ rơm kí ức

Nền ruộng mật chìm sâu (Cao Ngọc Thắng)

Ánh đèn xanh đỏ nhấp nháy loang loáng từ hàng quán, từ ánh đèn cao áp chói gắt trên đường nơi phố thị đã át đi ánh sáng trong trẻo, dịu dàng của trăng. Giữa phố thị sáng choang, vầng trăng trở nên lạc lõng, nhạt nhòa, rồi rơi vào quên lãng:

Làng lên phố

ai nhớ

trăng quê? (Nguyễn Hoàng Lâm)

Làng lên phố nhưng dường như những hình ảnh thân thương của làng quê xưa êm đềm, an hòa giữa thiên nhiên tươi đẹp, giản dị trong tình người mộc mạc vẫn hiện hữu trong hoài niệm của những người yêu quê. Đó có thể là hình ảnh cổng làng dưới tán đa cổ thụ xe ngựa chạy qua:

Đưa con về quê cổng làng

dưới tán đa cổ thụ

xe ngựa thoáng qua (Trần Chiến)

là con sông quê nơi ta đùa vui với sóng mỗi chiều, có bến sông “nơi ta ngồi ngóng mẹ” (An Thuyên):

Sông quê

tuổi thơ

đùa vui với sóng (Mộng Hòa)

là triền đê thanh bình tràn đầy sức thanh xuân với tiếng chim hót, sóng cỏ thầm thì dưới bước chân thôn nữ:

Bờ đê chim hót

cỏ non thầm thì

bước đi thôn nữ. (Thạch Lựu)

Nếu nhà thơ Thu Sang bâng khuâng trước hình ảnh nón trắng chênh chao nghiêng trong gió trên đồng quê rất đỗi nên thơ, lãng mạn:

Nón trắng

chao nghiêng

vạt gió đồng. (Thu Sang)

thì tác giả Lương Sơn lại rung động, ấn tượng trước vẻ đẹp khỏe khoắn trong lao động của những thiếu nữ giữa hiện thực đời thường:

Trên đồng thôn nữ cấy mạ non

sông chở phù sa

nuôi lúa đơm bông (Lương Sơn)

Đôi khi, những thức quà quê đơn sơ, chứa đựng hương vị, ân tình quê nhà mà ta từng đắm mình trong đó thuở ấu thơ cũng gợi biết bao nhớ thương. Củ khoai, củ sắn, bát cơm, ấm chè dân dã đã đánh thức những tình cảm cội rễ nhân bản trong trái tim mỗi người. Đó là tình yêu quê hương, nguồn cội:

Khoai lang, sắn luộc

đưa ta về

kỷ niệm tuổi thơ (Hồ Hoàng Hoa)


Cơm chiều

đất khách

lòng quê (Lê Đăng Hoan)


Quanh ấm chè quê

mọi người ngồi

dệt tình yêu gốc rễ. (Nguyễn Đức Thiêm)

Xã hội hiện đại cũng dẫn đến một hệ lụy là tình trạng cô đơn của con người nhất là người cao tuổi ngày một nặng nề hơn. Con người không giao lưu, tiếp xúc với nhau trong thực tại mà chìm vào một thế giới ảo. Đây không chỉ là hiện trạng ở Việt Nam mà còn là thực trạng chung của các nước trong xã hội hiện đại:

Trên xe buýt

đám đông cô đơn

dán mắt vào màn hình điện thoại (Lê Văn Truyền)

Tình trạng này càng trở nên phổ biến và nặng nề hơn đối với những người cao tuổi. Phần lớn các thành viên Câu lạc bộ Haiku Việt Hà Nội là các cán bộ từng công tác trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau nay đã đến tuổi nghỉ ngơi. Các cụ đã nói lên nỗi niềm của mình, cũng là nỗi niềm của một lớp người già trong một đô thị hiện đại:

Gác cao

người già cô đơn

ong đến làm tổ (Ngọc Căn)

Chân yếu, sức khỏe hạn chế nên các cụ chỉ còn biết giao lưu chia sẻ với bạn bè qua facebook:

Tuổi già yếu chân

Facebook nối gần

Bè bạn (Lê Đình Công)

Tuy vậy, qua những vần thơ, những nhà thơ cao niên vẫn hết sức lạc quan. Mượn hình ảnh ẩn dụ chỉ một quy luật tất yếu “bình minh đợi phía bên kia”, Lê Đình Công đã thể hiện niềm tin tưởng vào những điều tốt đẹp đang chờ đợi phía trước:

Tôi đi về hoàng hôn

ráng chiều rực rỡ

bình minh đợi phía bên kia (Lê Đình Công)

Trong truyện ngắn Trăng sáng, nhà văn Nam Cao đã từng khẳng định sứ mệnh của nghệ thuật rằng: “Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là những tiếng đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than”. Những tiếng đau khổ của những kiếp lầm than đã vang lên trong haiku Việt, thể hiện tâm hồn nhạy cảm và trái tim chan chứa yêu thương dành cho những số phận bất hạnh của các nhà thơ. Giọng hát chua khàn của một em bé dắt mẹ đi hát rong trên đường phố:

Bé cầm tay dắt mẹ

giọng hát nghe chua khàn

nón chao nghiêng hè phố (Phan Hữu Cường)

tiếng cười ngu ngơ của một em bé thiểu năng trí tuệ - nạn nhân của chất độc màu da cam - trong tiếng khóc lặng lẽ của người mẹ:

Thằng bé cười ngu  ngơ

Bà mẹ khóc lặng lẽ

nỗi đau màu da cam (Vũ Tam Huề)

là những âm thanh trầm buồn trong bản nhạc haiku nhiều cung bậc.

Sống hòa hợp với thiên nhiên, yêu cái đẹp bé nhỏ, mong manh là một đặc điểm nổi bật của người phương Đông. Người phương Đông không coi thiên nhiên là nô lệ, phải phục tùng, cung phụng con người mà là một người tình của con người:

Người nghệ sĩ không phải là ông chủ mà là người tình của thiên nhiên

(R. Tagore).

Tô Thức (Tô Đông Pha) thương hoa, tiếc vẻ đẹp của hoa chả mấy mà phai tàn nên đã thắp đèn ngắm hoa:

Canh khuya những sợ rồi hoa ngủ

Khêu ngọn đèn cao ngắm vẻ hồng. (Hải đường – Tô Đông Pha)

Nguyễn Trãi không dám động tay chèo vì sợ làm tan vỡ ánh trăng, không dám quét hiên vì sợ làm tan tác hoa tàn, nâng niu bợ cây:

Viện có hoa tàn chăng quét đất,
Nước còn nguyệt hiện sá thôi chèo
(Mạn thuật 10 – Quốc âm thi tập)

Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén

Ngày vắng xem hoa bợ cây. (Ngôn chí 10 – Quốc âm thi tập)

Người Nhật yêu thiên nhiên, trân trọng những tạo vật nhỏ bé bởi họ tôn thờ kami – linh hồn của vạn vật - khái niệm then chốt của Thần đạo. Kami tồn tại trong mỗi con người, trong cỏ cây hoa lá… Mặt trời là kami mà bùn đất, muông thú cũng là kami. Thơ ca Nhật Bản, từ thể đoản ca (tanka) trong Vạn diệp tập đến thơ haiku đều thổ lộ tình yêu ấy. Các nhà thơ haiku Việt dường như đồng điệu với các thi sĩ Nhật Bản ở tâm hồn nhạy cảm trước vẻ đẹp đơn sơ của cỏ cây hoa lá. Một nụ hoa vàng tỏa hương dưới đám cỏ xanh:

Dưới đám cỏ xanh

nụ hoa vàng

tỏa hương. (Kiều Lam)

một cánh bướm nhẹ rung trong làn sương lạnh buốt:

Sương lạnh buốt

cánh bướm rung rất nhẹ

rét cóng hay say hoa? (Ngô Ngọc Liễn)

một nụ hoa đào bé xinh gắng nở trong gió đông:

Gốc đào rét hại

gắng nở nụ hoa

ngượng ngùng cánh nhỏ. (Đỗ Tuyết Loan)

một làn hương hoa vương vấn trong gió heo may:

Heo may thầm thì

người đi

vương hương hoa sữa. (Phạm Ngọc Liễn)

cũng khiến nhà thơ xúc động, cúi đầu:

Im lặng

ta cúi đầu

ngưỡng phục mùi hương. (Nguyễn Thánh Ngã)

Đó là cái cúi đầu trước cái đẹp – cái cúi đầu cao khiết của Cao Bá Quát trước hoa mai: “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”.

Tuy nhiên, cái đẹp lại thường mệnh yểu mong manh dễ tàn phai, và vì vậy, thường gợi lên trong lòng người nỗi buồn luyến tiếc. Bâng khuâng trước cái đẹp bình dị thoáng qua là một mĩ cảm mà người Nhật gọi là mono no aware – niềm bi cảm nhân sinh. Đó là nỗi buồn, là niềm luyến tiếc cái đẹp tàn phai ở đỉnh cao của nó. Thi tuyển đầu tiên trong văn học Nhật Bản Vạn diệp tập (Manyoshu) tràn ngập cảm xúc này:

Ôi mưa xuân

Đừng mưa như thế

Vì gặp mưa

Những cánh anh đào rơi lặng lẽ

Mà tôi thì buồn khi hoa rơi. (Manyoshu – Thái Bá Tân dịch)

Đọc những bài thơ trong thi tuyển Mười hai năm ấy này, độc giả sẽ thấy sự gặp gỡ, đồng điệu giữa tâm hồn Việt Nam với tâm hồn Nhật Bản nhạy cảm, luôn tiếc ngọc thương hoa. Nhà thơ Lê Đình Công bâng khuâng khi một bông hoa giấy rụng nhẹ nhàng đậu xuống vai:

Một bông hoa giấy đổ

Bay xuống đậu vai tôi

không lời (Lê Đình Công)

Ngô Ngọc Liễn thương lá vàng lìa cành, cũng thương cả cỏ xanh nơi lá rụng, sợ lá làm cỏ đau:

Chiếc lá úa vàng

rơi nghiêng lìa cành

e đau cỏ xanh (Ngô Ngọc Liễn)

Qua lăng kính của Nguyễn Đức Thiêm, gió như người yêu hoa, mải miết nhặt những đóa hoa rơi trên mặt nước, gom góp, chi chút cái đẹp lìa cành:

Mặt nước

gió thổi qua

gom hoa rụng. (Nguyễn Đức Thiêm)


Những suy tư, triết lí, những tư tưởng triết học sâu sắc mà gần gũi, bình dị

Haiku Nhật Bản thoát thai từ thể thơ liên ca hài hước (haikai no renga) nhưng chính chiều sâu tư tưởng triết học Thiền tông đã nâng haiku thành một thể thơ lừng lẫy trên thi đàn thế giới. Thơ haiku Việt cũng bộc lộ những suy tư, triết lí, những tư tưởng triết học sâu sắc thể hiện cảm quan chung của nhân loại về vũ trụ, cuộc sống và con người.

Hình ảnh bông lúa quen thuộc trong thơ Lưu Đức Hải hàm chứa một triết lí, một lời nhắn nhủ nhẹ nhàng: con người càng chín chắn, càng hiểu biết bao nhiêu thì càng khiêm nhường bấy nhiêu:

Bông lúa

ngẩng mặt lúc còn xanh

cúi đầu khi đã chín (Lưu Đức Hải)

Đinh Trần Phương, Nhã Trúc là những nhà thơ trẻ nhưng thơ họ có chiều sâu suy tư, chiêm nghiệm lại có những tứ thơ độc đáo, mới mẻ thể hiện những đam mê tìm tòi, vì thế, không hề dễ cảm nghiệm. Cũng hình ảnh dòng sông, con thuyền nhưng trong thơ Đinh Trần Phương, chúng hiện lên với một diện mạo mới lạ:

Một con thuyền che giấu

sự rỗng không

lơ đãng của dòng sông (Đinh Trần Phương)

Có phải con thuyền cùng dòng sông như một cặp bài trùng, con thuyền làm nên vẻ đẹp, sự sinh động cho dòng sông? Có phải thiếu con thuyền, dòng sông sẽ trở về với sự rỗng không, lơ đãng của nó? Độc giả sẽ là người điền vào những khoảng trống của bài thơ. Còn bài thơ của Nhã Trúc lại có ý vị tư tưởng nhân sinh của triết học Phật giáo:

Qua cơn mê

chiều nay giũ bụi

phong sương ta về (Nhã Trúc)

Con người luôn mê chấp lầm tưởng về cái tôi, từ đó mà nảy sinh thói vị kỉ, ý thức tư hữu, cá nhân. Đó là mảnh đất màu mỡ cho tham, sân, si khởi sinh rồi mọc ra nhánh cành đau khổ. Muốn hết khổ, con người phải thức tỉnh khỏi cơn mê ngã chấp, giũ hết mọi bụi bặm trần tục, trở về với bản ngã nguyên sơ:

Theo quan niệm của Thiền tông, vạn vật và con người tồn tại trong một mối tương giao, hòa hợp. Chúng hài hòa, soi chiếu, tương tác và chuyển hóa lẫn nhau. Biển đêm thực sự là một bức tranh hòa hợp, tương tác lên nhau của vạn vật. Những vì sao soi mình trên mặt biển thành một tấm chăn lấp lánh. Thủy triều dâng lên như kéo tấm chăn lộng lẫy đắp lên lồng ngực đất:

Biển kéo tấm chăn sao

đắp lên lồng ngực đất

thủy triều dâng cao (Mai Liên)

Ban mai, giọt sương đọng trên những chiếc lá đang lay động trong gió được ánh nắng mặt trời soi chiếu lấp lánh sinh động như đang khiêu vũ điệu tăng-gô:

Mặt trời

hạt sương

điệu tăng-gô trên lá (Lưu Đức Hải)

Không chỉ hài hòa, tương tác lên nhau, vạn vật còn chuyển hóa lẫn nhau trong một chu trình vô cùng bí ẩn và kì diệu. Giữa những sự vật tưởng chừng như không có mối liên hệ nào thực ra vẫn có liên hệ, tương tác, thậm chí có thể chuyển hóa thành nhau. Tư tưởng biện chứng sơ khai này bắt nguồn từ Lão Trang và được các nhà thơ haiku Nhật Bản say mê thể hiện. Quả ớt đỏ thon dài chắp thêm đôi cánh là thành chuồn chuồn ngô:

Quả ớt

Chắp đôi cánh

Chuồn chuồn ngô. (M. Basho)

Giọt sương đọng trên cành hồng thêm chút nắng là thành hạt kim cương:

Giọt sương đọng

trĩu cành hồng

hóa hạt kim cương (Nguyễn Sương)

Mảnh gỗ tích tụ trong mình thời gian triệu năm có thể hóa đá:

Lặng câm

mảnh gỗ hóa thạch

nói lời triệu năm (Lương Thị Đậm)

Quy luật vô thường là một phát hiện của Phật giáo về bản chất vốn có của tự nhiên. Hoa nở, chim hót, mây bay, nước chảy..., tất thảy đều không ngừng biến đổi theo quy luật thành, trụ, hoại, không. Con người thức ngộ lẽ vô thường để an nhiên, thường lạc trước mọi thăng trầm, đổi thay của cuộc sống:

Mây thiêng Yên Tử

hóa giọt sương bậu trên mi mắt

thức ngộ lẽ Vô Thường. (Lê Văn Truyền)

Con người cũng không nằm ngoài quy luật vô thường. Một buổi chiều trên bước đường hành hương, ngắm cánh chim sa nơi cuối trời, M. Basho không khỏi giật mình thảng thốt:

Mùa thu năm nay

Sao tôi chóng già quá

Chim sa ở mây trời. (M. Basho – Vĩnh Sính dịch)

Bước qua tuổi cửu thập, nhà thơ lão thành Đinh Nhật Hạnh cũng không khỏi ngỡ ngàng khi thấy thời gian trôi đi nhanh quá. Nhưng nhà thơ không buồn bã, bi lụy khi tuổi già ập đến mà cảm thấy hạnh phúc vì “tre già măng mọc”, bốn thế hệ cùng chung sống đầm ấm, hạnh phúc dưới một mái nhà. Quả là một giấc mơ trong đời sống đô thị hiện đại vốn thiên về xây dựng gia đình hạt nhân:

U100 rồi ư!

bốn thế hệ chung mái nhà

ngỡ như mơ, mà thật (Đinh Nhật Hạnh)


Những tương đồng và những thể nghiệm cách tân nghệ thuật

Về mặt hình thức, haiku Việt, cũng tương tự haiku Nhật ở chỗ đều toát lên vẻ đẹp của một cô gái giản dị, ít đeo đồ trang sức mà thần thái ngút ngàn. Nhưng haiku Việt có nhiều cách tân so với haiku Nhật để phù hợp với ngôn ngữ Việt Nam. Trước hết là sự phá vỡ cấu trúc 5/7/5 của haiku Nhật. Rất ít bài haiku Việt xuất hiện với cấu trúc này. Ngay cả bài từ thế chi ca của nhà thơ Chế Lan Viên học tập nghiêm ngặt haiku Nhật mà viết:

Anh chỉ là nắm tro trong bình

Em ơi em! Đừng khóc

Ngoài vườn hoa cỏ mọc.

thì cấu trúc cũng đã thay đổi. Toàn bài vẫn bao gồm 17 âm tiết nhưng trật tự không phải 5/7/5 mà là 7/5/5. Đa số các bài haiku Việt trong thi tuyển này có số lượng âm tiết ít hơn 17 nhưng vẫn diễn tả rất trọn vẹn ý thơ.

Cũng có những thể nghiệm thú vị về cấu trúc mới cho haiku Việt. Haiku Nhật với cấu trúc 5/7/5 rất kiệm lời, không bài nào có nhan đề. Tuy nhiên, người Nhật vẫn dùng câu đầu gọi thay tên bài thơ, chẳng hạn:

Ao cũ

con ếch nhảy vào

tiếng nước. (M. Basho)

sẽ được gọi là bài thơ Ao cũ. Nhà thơ Mai Văn Phấn vẫn viết những bài thơ ba câu nhưng thêm cho mỗi bài một câu ở đầu như thể thêm nhan đề cho bài thơ đó:

Mặt trăng sau mưa

Được rửa sạch

gác lên tán lá

còn ướt


Ngắt trái bưởi

trên cây

quay lại nhìn


Trên đường

Gặp hoa cúc trắng

chưa hẹn trước

không dám nhìn lâu (Mai Văn Phấn)

Haiku Nhật có vần nhưng không đòi hỏi nghiêm cẩn nhất thiết phải có. Vần trong haiku Nhật là cước vận, cứ hai dòng bắt vần với nhau không nhất thiết là dòng nào. Vần giúp bài thơ luân chuyển nhịp nhàng, như mạch nổi (cùng với mạch ngầm là mạch cảm xúc) kết nối toàn bài thơ thành một tổng thể hài hòa. Haiku Việt cũng có nhiều bài thơ tuân thủ luật gieo vần chân của haiku Nhật:

Chiều đông

mắt bếp lửa hồng

chờ mong (Lê Vũ)


trọ nhân gian

chỉ vầng trăng sáng

cùng ta đêm tàn (Nhã Trúc)


Hơi mưa mát lạnh

nỗi lo xa xôi

heo may đến rồi (Nghiêm Xuân Đức)

Tuy nhiên cũng có tác giả phối cước vận với yêu (eo) vận khiến bài thơ man mác âm điệu của lục bát:

Mẹ cõng nắng mưa

trên đồng lúa chín

gió trưa thì thầm (Thanh Vân)

Sử dụng quý ngữ - từ chỉ mùa - là một yêu cầu bắt buộc của haiku Nhật cổ điển. Quý ngữ là hình ảnh tiêu biểu cho mùa. Quý ngữ thể hiện tình yêu thiên nhiên, sự gắn bó với thiên nhiên bốn mùa của con người. Qua quý ngữ, haiku Nhật cho thấy con người – không gian – thời gian là một thể thống nhất gắn bó hữu cơ. Quý ngữ giúp con người thấy mình tồn tại trong không gian và đang vận động trong thời gian:

Một tiếng ve

rụt rè

mở hạ (Đinh Nhật Hạnh)

Qua quý ngữ, con người cảm nhận bước đi của thời gian vô hình qua cái hữu hình hiện hữu trong không gian. Bầy chim én cho ta cảm thấy mùa xuân:

Cáp treo du xuân

bồng bềnh gió mây

chào bầy chim én! (Vũ Tam Huề)

Đóa sen trắng cho ta nhận thức mùa hạ:

Vườn kiểng lung trời

đóa sen trắng nở

ngôi sao ban ngày. (Vũ Tam Huề)

Màu tím thạch thảo báo hiệu thu đã rất thật là thu:

Lang thang đồng hoa

màu tím thạch thảo

mùa thu xa nhà (Vũ Tam Huề)

Sắc vàng nhạt phai của hoa dã quỳ giúp ta biết mùa đông đã tàn:

Đông tàn

sắc vàng nhạt phai hoa

dã quỳ nở muộn (Vũ Tam Huề)

Cứu cánh tối thượng của Thiền tông là chứng ngộ Phật tính. Phật tính là kho tàng riêng sâu thẳm trong mỗi người. Ai trong chúng ta cũng có Phật tính. Cũng không giới hạn trong loài người, cỏ cây hoa lá chim muông cầm thú cũng đều có tính Phật. Vạn vật bình đẳng với nhau trong ánh sáng Thiền. Xuất phát từ tinh thần “vô sai biệt” đó, thơ haiku cổ điển Nhật Bản chủ yếu viết về những cảnh vật đơn sơ, những con vật nhỏ bé: một con dế hiền lành giữa đám tôm cá, tiếng ve thấm vào đá, một cánh chuồn ngô mong manh, một ánh đom đóm lập loè trên chiếc chuông chùa, một cánh bướm say giọt sương trên hoa cúc, một con châu chấu dưới chiếc mũ chiến binh, thậm chí là cả bọ chét, chấy, rầy, hay nước đái ngựa…

Đầu giường

Nước đái ngựa

Rận và bọ chét (M.Basho - Lê Thị Bình dịch)

Tương truyền, câu này M.Basho sáng tác khi nghỉ lại nhà một người lính già vào ban đêm. Phòng của ông cách chuồng ngựa khoảng chục mét nên không thể có nước đái ngựa ở đầu giường được. Tuy nhiên, do rất thích bầy ngựa của gia đình nên nhà thơ mấy lần chạy xuống ngắm. Cảm hứng sáng tác bài haiku trên xuất hiện từ đây. Qua bài thơ, Basho muốn nói con người hay con ngựa, rận và bọ chét cũng đều là những sinh vật cùng sống dưới một mái nhà, có gì khác nhau đâu. Đồng điệu với cảm hứng trân trọng, nâng niu sự vật nhỏ bé của haiku Nhật, các tác giả Việt đã đưa vào trong thơ những sự vật bị coi là hèn mọn, nâng chúng lên tầm cao bát ngát trong ánh sáng Thiền:

Nằm trong màn

tôi với đôi chân co

vo ve chú muỗi (An Hải)


Sườn núi đá khô cằn

nở chùm hoa dại

dịu hẳn nắng (Thạch Lựu)

Bên cạnh những hình ảnh dung dị được tái hiện chân thực như thể chúng đang tồn tại ngoài cuộc sống, các thi sĩ haiku Việt cũng dùng các thủ pháp tu từ nghệ thuật, khiến hình ảnh hiện lên mới mẻ, độc đáo và thú vị, thể hiện năng lực liên tưởng dồi dào. Ngắm bờ biển trong một ngày gió, Lương Thị Đậm thấy tàu dừa như chiếc lược cài lên mái tóc sóng, biển trở thành một thiếu nữ rất dễ thương:

Gió tạt ngọn dừa

những chiếc lược thưa

cài tóc sóng (Lương Thị Đậm)

Ngắm trời đất trong một ngày mưa, Nguyễn Hoàng Lâm thấy mưa như vô số chấm than vạch từ vô định. Một hình ảnh so sánh thôi mà chất chứa bao nỗi niềm:

Mưa!

vô số chấm than

vạch từ định (Nguyễn Hoàng Lâm)

Ngắm cây tỏa ra nghìn cành, nghìn lá, Nguyễn Thánh Ngã có liên tưởng thú vị đến nghìn cánh tay, nghìn con mắt của Phật bà đã cứu độ bao mùa quả:

Lá nghìn mắt

Cành nghìn tay

cứu độ bao mùa quả (Nguyễn Thánh Ngã)

Ngắm những cánh én chao liệng gắn bó thiết tha với bầu trời, Phạm Đạo thấy tương đồng với niềm say mê công nghệ cao, say mê được sống trong một thế giới phẳng:

Chim én say bầu trời

tôi say máy tính

thế giới phẳng (Phạm Đạo - 1940)

Yêu thiên nhiên, tương thông với thiên nhiên, con người nhận thấy thiên nhiên có những tương đồng với con người. Thủ pháp nhân hóa đã thổi linh hồn vào vạn vật khiến vật vô tri bỗng trở nên sống động, đáng yêu. Vầng trăng tựa một thiếu nữ xinh đẹp thẹn thùng, bẽn lẽn bước vào nhà qua ngòi bút nhân hóa của Lưu Đức Hải:

Gió đẩy

mành xao

trăng vào bẽn lẽn. (Lưu Đức Hải)

Vầng trăng đang tỏa sáng trên mặt biển, chợt mây kéo đến che khuất được nhân hóa trở thành thiếu nữ ngắm mình trong gương nhưng thấy mình vẫn còn khiếm khuyết nên ngượng ngùng kéo mây che. Thiên nhiên qua cái nhìn trìu mến trở nên duyên dáng, đáng yêu biết nhường nào:

Trăng soi gương biển

chợt thấy mình còn khuyết

ngượng ngùng kéo mây che. (Mai Liên)

Với cái nhìn vạn vật tương giao và hòa hợp, các nhà thơ haiku sử dụng nhiều ẩn dụ chuyển đổi cảm giác – dùng từ ngữ vốn chỉ cảm nhận của giác quan này để chỉ cảm nhận của giác quan khác trên cơ sở mối quan hệ tương đồng nào đó. Hoa cỏ may ven những con đường mòn - nơi hò hẹn buổi ban đầu – thường gợi những hoài niệm về tình đầu dang dở:

Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may
Áo em sơ ý cỏ găm đầy
Lời yêu mỏng mảnh như màu khói
Ai biết lòng anh có đổi thay
(Hoa cỏ may – Xuân Quỳnh)

Tìm về lối cũ, những bông hoa cỏ may găm đầy trên áo nhưng nhà thơ lại thấy như là nỗi trống vắng găm đầy. Hoa cỏ may hữu hình biểu đạt cho nỗi trống vắng vô hình: hoa cỏ may vẫn vô tình găm vào vạt áo như những ngày hò hẹn cũ mà người xưa không còn:

Lối cũ tìm về

mùa hoa cỏ may

găm đầy trống vắng (Vũ Tam Huề)

Nỗi nhớ cũng vốn vô hình nhưng lại được cảm nhận với nhiều hình hài khác nhau:

Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ,
Em thử quay xem được mấy vòng.
Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ,
Em thử lào xem được mấy thưng!
(Nhớ I – Nguyễn Bính)

Cao Ngọc Thắng đã hình tượng hóa nỗi nhớ, gom lại gửi vào vầng trăng. Tứ thơ hay diễn tả được nỗi nhớ bâng quơ, không thể kìm giữ trong lòng mà cũng không biết chia sẻ cùng ai:

Đêm thu

Gom nhung nhớ

Thả vào trăng mộng mơ (Cao Ngọc Thắng)

Mai Văn Phấn là một nhà thơ có sức sáng tạo không mệt mỏi, năng lực liên tưởng, tưởng tượng dồi dào. Bài thơ:

Gần sáng

ngủ say không biết

nằm cạnh mùa hè (Mai Văn Phấn)

sử dụng ẩn dụ chuyển đổi cảm giác tạo nên một hình tượng độc đáo để diễn tả cảm nhận về một mùa hè chợt đến. Nguyễn Kiên cũng có một liên tưởng táo bạo trên cơ sở ẩn dụ chuyển đổi cảm giác:

Một cánh chim

sa vào tầm mắt

chia đôi trăng rằm (Nguyễn Kiên)

Trong thực tế, vầng trăng không thể xẻ làm đôi, nhưng cánh chim sa vào tầm mắt tạo thành một vết đen do hiệu ứng ngược sáng nên nhà thơ có cảm giác như vầng trăng bị chia làm hai nửa.

Đặt hai hình ảnh đối lập cạnh nhau trong mối quan hệ nhân quả:

Đất nước giàu hạt nhân

cho dân

nghèo hạt gạo! (Lê Đăng Hoan)

Lê Đăng Hoan đã bày tỏ quan điểm cá nhân phê phán chủ trương tăng cường hạt nhân của các quốc gia. Sử dụng năng lượng, vũ khí hạt nhân… có rất nhiều mặt trái. Hạt nhân là nguyên nhân gây ra những thảm kịch kinh hoàng cho nhân loại: bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagazaki của Nhật (1945), thảm họa Trecnobyl ở Nga (1986), thảm họa điện hạt nhân ở Fukushima, Nhật (2011)… Vậy nhưng, nhiều chính phủ vẫn theo đuổi chính sách phát triển năng lượng hạt nhân. Đó là một trong những nguyên nhân khiến cuộc sống người dân đói nghèo.

Người Việt trên cơ sở tiếp thu một thể thơ độc đáo của Nhật Bản đã biến đổi phù hợp với ngôn ngữ và cảm thức Việt Nam, để ca hát về vẻ đẹp Việt Nam, về cái đẹp của thiên nhiên gấm vóc, của tâm hồn, tính cách và tình cảm con người Việt Nam trọng tình, trọng nghĩa, yêu thiên nhiên và cái đẹp. mNhiều phẩm chất, tính cách và tình cảm của con người Việt Nam thể hiện trong thơ haiku có sự đồng điệu với con người Nhật Bản. Vì thế, có thể nói thơ haiku Việt là bản hòa ca tâm hồn Việt – Nhật. Những âm giai Nhật Bản và tâm hồn Việt Nam hòa quyện tạo thành một bản “hòa âm” mới “đa thanh”, đem đến cho con người tình yêu và niềm tự hào về quê hương, đất nước mình.

ハイクーベトナム・日本の心の歌

俳句は日本人の貴重な独特の物産であり、たんぽぽのように謙遜で簡易な綺麗で、日本人が大好きな花で、熟になると各方に飛んで何処にも日本のたんぽぽの核は元気に育て、世界の何処にも綺麗な花公園になり、どの言語にもどの文化にも発展され、ベトナムに入っても同じです。ベトナムは元々詩を愛する民族なので 12 年を経過して 今かなり成長しています。ベトナム語俳句を読めばベトナムの心一杯。ベトナムの故郷の自然がはっき表され、人々が ベトナムの自然と文化の雰囲気を厚く感じられる。昔の俳諧は四つのシーズンを主題として「季題」であり、日本人の俳句は シーズンを指す言葉、「季語」は必ずあることです。日本の俳句は常に春を指す言葉なら桜の花、スモモの花、梅の花、ツバメの鳥、鶯の鳥など、夏を指す言葉なら蝉の声、あやめの花、子規の鳥など。秋なら月、露、昆虫の声、紅葉。 冬なら松の木、野生のガチョウの声、雪など。ベトナムの俳句もその精神でベトナムの四季を歌い、国の自然、人間などを歌う。ベトナム詩人にとって、北から南まで、山岳から平野までの田舎の各地方の色、音声、型、姿など 詩に大変自然的に入ります。

ベトナム人にとって さぎの姿は 生活のために困難で犠牲的で不安定な生活の表現であり、普通女性の運命である。

次はマイ・リエン博士は 自分の観点を証明するために選集のベトナム俳句と ベトナムの有名な詩人の詩や日本の有名な俳人である松雄芭蕉の通訳文を幾つ発表した。

結論として、マイ・リエン博士は 日本の俳句とベトナムの俳句は一緒に人間の心と自然を歌う、互いに調和して互いに補完している。ベトナムの俳句は ベトナム人の言語と情感を表すことで日本の俳句と調和し自然と綺麗さを歌うことである。

和訳(大略)者:レー・テイ・ビン


Thơ Haiku 12 mùa xuân- Nhật Chiêu

Thơ Haiku dù ban đầu mang tính đặc trưng Phù Tang nhưng hiện thời càng ngày càng mang tính quốc tế. Không ai tính nổi trên thế giới đến thời điểm này có bao nhiêu người theo đuổi sáng tác thơ haiku. Đủ màu da cho thơ haiku. Đủ phong cách cho thơ haiku. Đủ lứa tuổi, đủ đề tài...

alt

Sau 1975, bắt đầu giới thiệu thơ haiku, viết haiku, đến nay tôi cũng không ngờ thể thơ này lan truyền nhanh đến thế ở Việt Nam. Được đưa vào trường học và hàng loạt thơ haiku ra đời, tất nhiên trong đó có Câu lạc bộ Haiku Việt Hà Nội tiếp ngay sau Sài Gòn.Mười hai năm ấy biết bao nhiêu tình. Trong đó có bao nhiêu là tìm tòi lay động, bao nhiêu điều tự làm mới mình, bao nhiêu ra sức đưa thể thơ xa lạ kia vào tâm hồn Việt cho nhuần thấm. Đó là công sức nhiều người ở cả ba miền mà Câu lạc bộ Haiku Việt Hà Nội có đóng góp lớn lao.

Bài haiku sau đây của nhà thơ U100 Đinh Nhật Hạnh có thể kết đọng tình hình thơ haiku ở Việt Nam:

“Mưa vẫn tầm xuân

lất phất

nắng còn say lắm hoa cau”

Phải, thơ haiku vẫn còn non tơ tầm xuân nhưng đã ấm nồng say đắm nắng. Và hoa cau Việt đã đi vào thơ haiku. Tình tứ thế. Tuyển tập thơ Haiku 12 năm đáng yêu đáng quý!


VIETNAMESE HAIKU THROUGH 12 SPRINGS

Nhat Chieu

Haiku, originally typical of Japanese, is now becoming more and more globalized. It is not known to us how many people the world over write haiku now. No doubt, it has been written by people of all skin colours and age groups with various styles and in many topics.

I have been writing haiku ever since 1975, when it was first introduced into Viet Nam. I cannot believe that haiku is so popular here now. It has been brought to schools and clubs have come into being, first of all, Sai Gon Vietnamese Haiku Club followed by one in Ha Noi.How much feeling there has been during those twelve years! Much exploration, much renewal, much effort has been made so that the strange haiku style is imbued with Vietnamese soul. This is shared by poets from Northern, Central and Southern parts of Viet Nam of which Ha Noi Vietnamese Haiku Club is in the lead.The present status of haiku in Viet Nam can be seen in this poem by U100 poet - Dinh Nhat Hanh:

Eglantines still / in sprinkles of rain / areca flowers in drunk sunlight

Indeed, young Vietnamese haiku is now flourishing. Vietnamese areca-flowers go into haiku in such a subtle way!The haiku collection entitled “Those Twelve Years” is so lovable and valuable!


「俳句選集その12年間」

ニャト・チエウ

俳句は初め日本の独特の詩ですが現在段々国際化され、今、誰も計算できない程世界の何人が俳句作るか? あらゆる肌の色、黒人、白人、黄色の人、インディアンの人など、あらゆる年齢、男婦老幼も俳句作る。その内容も豊かである。その俳句もあらゆる風、性格をもつ。そのタイ目もあらゆるです。

日本の俳句は1975年にベトナムで紹介は初めとした。私も想像できない程、今、ベトナム語で俳句作る人は素早く広げた。学校に導入して、(サイゴン)ホー・チ・ミン市の俳句クラブの直後、ベトナム語俳句ハノイクラブも生まれている。

その12年間はいくらの情があるそうであるが知らない俳句という詩をベトナム人の心にしみ込むためにいくら工夫、いくらの発見が出て自分を新しくするか。それはベトナム全国、北部、中部、南部の努力で、ベトナム語俳句ハノイの大きな貢献である結果でもあった。

100歳近いデイン・ニャト・ハインさんの次のベトナム語俳句はベトナムの俳句発展の現状を反映している。

雨はあいかわらず春を探す/

ぷらぷらした

日光はすでにビンろの花を大変酔うかな

そうである。ベトナム語俳句の歴史はまだ若く、春を探しているがすでに温かい日光が酔う。そしてベトナムのビンろの花は俳句と言う詩に入る。思情溢れたな。12周年間の選集は本当に貴重なです。

NC

Xuân vẫn là- Cao Ngọc Thắng

Basho [1644-1694], từ thế kỷ XVII là người tiên phong khẳng định haiku là một thể thơ độc lập giữa rất nhiều thể thơ truyền thống của Nhật Bản, khi giới thiệu tuyển tập thơ haiku Đất Hoang (Arano) lần đầu tiên xuất bản năm 1690, đã viết: “Tại tỉnh Owari, bên tả ngạn sông Hôrai, thầy Kakei miền Kyubôkudo đã dệt nên tuyển tập mang tên Đất Hoang này. Vì sao lại là đất hoang, quả tình tôi không rõ”. Basho cho biết, tuyển tập ban đầu định đặt tên là Những ngày mùa đông, nhưng “dưới bầu trời lộng lẫy của vầng trăng tháng hai, tháng ba, gấm vóc lệ liễu và hoa anh đào đua khoe sắc huy hoàng, bướm và chim tuân theo bản năng, bên chân lý thẳm sâu ấy có phần nào nhạt phai, biến đổi? Như những làn sóng nắng mông lung, tim ta lãng du giữa hư và thực, sắc sắc không không, như bông huệ kia phất phơ không điểm tiết, như cánh sơn ca nọ lạc giữa trời bao la, cũng như trên nẻo đường ngập cỏ hoang không tiên lộ, hẳn người ấy sẽ mong đặt vào cột mốc và vì thế nên chăng gọi ông là người gìn giữ trảng đất này”.

alt

Basho vinh danh việc tiên phong tuyển những phiến khúc haiku của Kakei là một buớc đầy ý nghĩa trong bối cảnh nền thơ Nhật Bản đương thời với nhiều khuynh hướng và trào lưu khác nhau. Kakei mong và đã “đặt vào cột mốc” ấy một sự kiện quan trọng của tiến trình khẳng định haiku như một thể thơ chính danh. Vì thế, Basho gọi Kakei “là người gìn giữ trảng đất này”, một mảnh đất còn hoang vu cần được canh tác để tiến tới thâm canh. Cái sự “quả tình không rõ” của Basho thực ra là đã sáng tỏ. Ông đồng cảm với Kakei những suy tư để làm sao xác định những đặc trưng cơ bản của thơ haiku, hướng người làm thơ và người thưởng thức thơ haiku đi đến sự đồng điệu cảm xúc về mối quan hệ nhân-quả không thể tách rời giữa con người và thiên nhiên. Thiên nhiên luôn luôn đẹp và cũng luôn luôn biến đổi. Sự mong manh của cái đẹp hiện hữu trong thiên nhiên đòi hỏi con người phải giữ được cái tĩnh lặng trong tâm hồn, để tinh tế cảm nhận thật sâu sắc, đi đến tận cùng của chân-thiện-mỹ. Điều đó cũng có nghĩa rằng, con người luôn cần thức nhận về sự hòa quyện trong bản thân cả hai: duy cảm và duy lý khi đứng trước thiên nhiên kỳ vĩ. Ranh giới giữa hư và thực, giữa sắc và không đều chẳng dễ gì phân biệt. Chỉ hoàn duy cảm hay chỉ toàn duy lý, con người không có đủ khả năng cần thiết để nhận ra lằn ranh chấp chới đó. Cái khoảnh khắc ta có thể nắm bắt sự biến chuyển ấy chỉ là tích tắc, nếu tâm thế không sẵn sàng nó vụt biến mất ngay lập tức. Vì vậy, khi được biểu hiện, những phiến khúc haiku như một lát cắt mỏng manh, chớp lấy cái ánh sáng lóe lên trong chốc lát và cũng trong chốc lát nhòe vào vô cùng tận. Sự biểu hiện ở mỗi phiến khúc haiku đồng thời thức tỉnh rằng trong tâm hồn nguời đã xuất hiện cái gì đó lớn lao bắt đầu cựa quậy và lớn lên, dịch chuyển về hướng trong trẻo, an lành, tự tại, nhi nhiên, điều mà cũng khiến cho người đọc cùng ngẫm suy về những gì đang tồn tại và cả những gì đã và sắp mất đi trong không gian bao la, theo thời gian dằng dặc.

Chỉ có ba hình ảnh làm nên tứ thơ mà sao mỗi phiến khúc haiku lại làm nguời ta xao xuyến để rồi ngẫm ngợi. Trong Tuyển tập Đất Hoang, Kisei “chớp” được hình ảnh, quen thuộc đấy mà cũng thật bất ngờ:

Mạng nhện

Mưa xuân

Đính đầy giọt ngọc

Kisei khiến người đọc phải” “lục lại” trong ký ức quan sát của mình và so sánh mưa xuân với mưa ở các mùa còn lại trong năm. “Mạng nhện” và “Mưa xuân” là hai hình ảnh, hai sự vật và hai hiện tượng khác nhau, quan sát của người đã kéo chúng lại gần nhau, hiện lên nét chấm phá cho một bức tranh sắp hiện ra. Bức tranh ấy chỉ hoàn thiện khi một quan sát khác có khả năng tạo nên một mảng màu hài hòa, nhòa đi sự tương phản, là “giọt ngọc”. Cái “mạng” kia hoàn toàn chẳng ai muốn để ý, vì nó giăng ra chỉ có tác dụng săn mồi của chú nhện, một làn gió hơi khác thường đã có thể làm nó rách. Nhưng, mạng nhện này thật may mắn, bởi nó “gặp” mùa xuân, tiết trời ấm áp, mưa lất phất, gió khẽ khàng. Mưa xuân chứ không phải mưa ở mùa khác, trở thành tác nhân cho mối kết duyên giữa “mạng nhện” và “giọt ngọc”. Đọc từng cặp câu: “Mạng nhện/ Mưa xuân”  (dòng 1 và 2) ta thấy hình ảnh mô tả sự vật/ hiện tượng này trong/ sánh đôi cùng sự vật/ hiện tượng kia; chuyển sang cặp tiếp theo: “Mưa xuân/ Đính đầy giọt ngọc” (dòng 2 và 3) hình ảnh mô tả đã dịch đến một trường cảm nhận thú vị hơn bởi cái đẹp bất ngờ hiện lên. Cái đẹp ấy chỉ có mưa xuân mới tác thành nổi. Hơn nữa, là mưa xuân mới đính được nước thành “giọt”, chứ không phải “hạt”, tiết xuân mới đem đến cái lung linh, huyền ảo hiện vào giọt nước thành “giọt ngọc”. Nhưng, khi ta đọc cặp câu “Mạng nhện/ Đính đầy giọt ngọc” (dòng 1 và 3), tưởng chừng chúng ở cách nhau thì hóa ra biến thành bện chặt; mạng nhện, không chỉ vẻ đẹp của nó được nhân lên, mà còn biểu hiện một “sức khỏe” khác thường – cưu mang những giọt nuớc trên sợi mảnh tang, điều chẳng bao giờ có khi nó gặp mưa mùa hạ, mùa thu hoặc mùa đông. Diễn giải nôm na là: mưa xuân đã đem đến cho người ta hình ảnh mạng nhện đính đầy giọt ngọc, một sắc thái thuần khiết, đẩy thi tứ, vừa hoài niệm vừa hiện hữu, trào dâng trong tâm hồn Kasei, và ông cho ra đời phiến khúc haiku súc tích, khơi gợi sự liên tưởng ngọt ngào từ ký ức và tiếp tục tiếp diễn.

Một tác giả khác có thơ trong Tuyển tập Đất Hoang là Shôhô cũng đã góp phần vào sự canh tác “trảng đất” còn hoang vu này. Phiến khúc haiku của ông có một cách nhìn, một góc nhìn “kéo” ba hiện tượng và sự vật rất khác nhau vào một tình huống ít người để ý:

Lèn gió thoảng qua

Chim ưng rạp xuống

Khi cành liễu nghiêng

Hình dung theo chiều xuôi (đọc từ trên xuống) hay theo chiều ngược lại (đọc từ dưới lên), đều cảm nhận một điều: ba hiện tuợng và sự vật này có chung giá trị thông báo trong mối quan hệ kết hợp đồng điệu ở một nơi xác định – lèn (hẻm núi hai bên vách đá cao), trong thời điểm nhất định – mùa xuân, mùa xuất hiện chim ưng và cây liễu sau khi mùa đông lạnh lẽo đã tan nhường chỗ cho cảnh và vật hân hoan giao hòa (người Nhật coi chim ưng và cành liễu là quý ngữ chỉ mùa xuân). Cảm thấy được gió thoảng qua lèn là nghĩ ngay tới cánh chim ưng chao từ núi cao xuống thấp, và những cành liễu nghiêng theo chiều chim bay. Cũng vậy, nhìn thấy chim rạp cánh hoặc cành liễu nghiêng chắc chắn lèn núi kia không còn im phăng phắc, khiến cả không gian chuyển động, thoát xác khỏi im lặng mông lung. Trong phiến khúc này, các cặp câu 1-2, 2-3 và 1-3 đều có “ý thức nâng đỡ nhau”, tôn vị thế của nhau. Và, ở mỗi câu đều có một từ rất động: “thoảng”, “rạp”, “nghiêng”, gây cảm xúc ý vị và xôn xao.

*

“Trảng đất hoang” mà Kakei và các đồng sự xới lên, được Basho khuyến khích và tôn vinh, sang thế kỷ sau tiếp tục được đông đảo haijin (người làm thơ haiku) bồi đắp thêm màu mỡ, trong đó Buson (1716-1783) là một đại diện xuất sắc. Thơ Buson làm nổi bật tâm thế và phận đời của con người giữa thiên nhiên, từ đó và mượn nó phát biểu nhân sinh quan của mình đối với hoàn cảnh đương thời.

Chua sót cho mình phận đắng cay

Lên giuờng nằm vậy

Đêm xuân này!

Buson không hề than thân trách phận và cũng chẳng trách hoàn cảnh, mà ông trải nỗi cô đơn trước mọi người. Cái tôi bản thể trong ông trỗi dậy. Tâm trạng “chua xót, đắng cay” của ông “rơi” ngay vào “đêm xuân”, cái đêm mà đáng lẽ lòng người hà tất phải co ro trong xó nhà. “Này” đi liền sau “đêm xuân”, có thể hiểu là một đêm nhất định, nhưng cũng có thể là những đêm của một mùa xuân nào trong cuộc đời nặng cô đơn của ông? Ông “mượn” chiếc giường, cũng là một vật cô đơn, nằm khoèo trên đó, vắt tay lên trán mà ngẫm ngợi, mà suy tư về nỗi niềm của mình, của nhân tình thế thái. Ở câu 2, nằm nhưng không hề tĩnh bởi nó được phận mình và đêm xuân bao bọc. Các cặp câu 1-2, 2-3, 1-3 tạo thế liên hoàn cho toàn bài và gợi mở nhiều ngẫm suy. “Đêm xuân này!” là một cái kết định vị sự quy chiếu của thi sỹ về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, hoặc ngược lại.

“Tựa” vào mùa xuân Buson biết nương vào và học được từ thiên nhiên hào phóng, một thiên nhiên biết tự điều chỉnh mình theo quy luật của riêng nó, để tự điều chỉnh mình cân bằng cùng thiên nhiên. Vẫn cùng trạng thái tâm tư ấy, Buson an nhiên bộc bạch:

Phải chăng hoa mơ

Xông huơng đỉnh trời

Thành quầng trăng xuân?

Quầng trăng xuân” trong tâm niệm Buson đuợc dệt nên bởi bản thân “hoa mơ” hay “hương” của nó? (có lẽ cả hai). Điều đó không quan trọng, chỉ biết rằng, một cảnh đẹp, “quầng trăng xuân” ấy, đã hiện hữu, đã in vào tâm khảm thi nhân, đã để lại dấu ấn ám ảnh về nỗi cô đơn của con người trước bao la trời đất. Cái ánh sáng mờ ảo nhìn thấy từ “quầng trăng xuân” có màu trắng tinh khiết, có cả hương vị ngọt ngào của hoa mơ, thì cái ánh sáng ấy đã chứa đựng cả tâm hồn rộng mở, một tình yêu cuộn trào trong cơ thể nhỏ nhoi, ẩn khuất. Nhà thơ thực hiện sự quan trắc độc lập và độc đáo để nhận biết, để thể hiện sự độc lập và độc đáo của hiện tượng thiên nhiên biến thiên liên tục. Đó là tầm vóc của một thi nhân lớn. Cả bài thơ là một câu hỏi không có câu trả lời xác thực, chỉ biết rằng sự tĩnh của tâm hồn thi sỹ mới thu nạp đầy đủ và sâu sắc cái biến dịch muôn màu muôn vẻ và không ngừng nghỉ của thế giới tự nhiên mà con người khó thoát khỏi sự cưu mang và ràng buộc của nó.

*

Trong truyền thống, thi sỹ Buson viết nhiều bài thơ haiku về các mùa trong năm, trong đó chủ đề mùa xuân ông có nhiều phiến khúc haiku độc đáo.

Đêm xuân

Tâm tư ai cũng thế

Bay xa khỏi mái nhà

Bài thơ 3 câu, 12 chữ. Đọc rồi phải ngẫm. Ngẫm rồi đọc lại. Đọc nhiều lần mới dần dần cảm được. Cảm sự tinh tế. Cảm triết lý sâu xa. Cảm cái tình người rất người. Người thơ trải nghiệm. Và, người thơ nói lên tiếng nói không còn của riêng mình. Nói cái điều của quy luật hiển nhiên, nhi nhiên, mà phải đâu nhận thức ngay được.

Đêm xuân” là một ước lệ. Nhưng ước lệ ấy có chủ ý. Bởi, mùa xuân, tâm trạng con người ta thư thái hơn. Mùa xuân là dấu hiệu một vòng quay mới của đất trời. Con người cũng bước vào một tuần hoàn mới của tư duy, của nhận thức, của khát khao, mơ ước. Trạng thái, tâm tư của con người hòa hợp với cảnh sắc, với sự trỗi dậy của muôn loài, với thiên nhiên cựa quậy đầy sức sống. Ban đêm, khi lắng xuống mọi điều vất vả, lo toan, là lúc thức dậy những trằn trọc, trở trăn. Nhưng đêm xuân, nỗi trằn trọc, trở trăn ấy không bị dằn vặt, vật vã, đối đầu với cuộc mưu sinh, giảm bớt sự toan tính tầm thường. Đêm xuân, ánh sáng của trí tuệ bừng lên, thả bay trong lãng đãng, mơ màng về cõi nào đấy của thanh thản, trầm lắng. May ra, chỉ có “đêm thu” mới có thể sánh được với “đêm xuân”, nhưng “đêm thu” trí tuệ thiên về việc “gói” lại để trầm ngâm những gì đã qua nhiều hơn (?).

Tâm tư ai cũng thế” là sự khái quát của một tâm hồn thơ, vừa nhân tình, nhân tính, vừa nhân văn, nhân loại. Cá thể người thơ thấu hiểu tâm sự chung nhiều người.

Thật bất ngờ khi người thơ “buông” câu kết rất… bất ngờ: “Bay xa khỏi mái nhà”! Cái gì bay xa khỏi mái nhà? “Đêm xuân” hay “tâm tư”? Và, tại sao lại phải bay đi? Câu thơ này khiến tôi bật nhớ lại. Nhiều lắm những ví dụ từ thực tế cuộc sống. Ngồi một mình hay cùng bầu bạn quây quần, những suy nghĩ, những câu chuyện cứ dần dần loang ra, loang ra đến lúc các thứ trước mặt ta bỗng nhòa đi, biến mất, nhường chỗ cho những thứ xa tắp mù khơi. Thực tại chỉ còn bóng dáng mờ nhạt. Quá khứ, ẩn náu nơi nào, được khơi dậy. Thì tương lai thả sức bung ra trong tưởng tượng. Chuyện của trí nhớ và chuyện của trí tưởng tượng đan cài, móc nối, thành thử “chuyện nọ xọ chuyện kia”. Ban đêm, nằm một mình, dĩ chí nằm bên vợ/chồng, thì ý nghĩ càng không dừng lại ở thực tại. Biết bao chuyện ập tới. Tâm tư không còn ở dạng trạng thái nữa. Nó đã thoát xác, bay khỏi thân thể tới thế giới khác. Mái nhà chỉ là một ước lệ. Thực tại cũng ước lệ mà thôi. Không có khuôn khổ nào, ranh giới nào ngăn cản nổi sức bay của tưởng tượng, của ước mơ và khát vọng. Không gian rộng lớn mới là nơi gặp gỡ, giao hòa, cảm thông và tiếp tục nâng cánh những bay lượn đó, để tạo nên miền cực lạc/thượng giới, mà con người thực tại hướng tới như một thiên đường để kết thành niềm tin.

Bài thơ haikư của Buson, vào thế kỷ XVII, khiến người đọc ngày nay “tương tư”, đặc biệt câu kết. “Đêm xuân” hay “tâm tư” vừa bay vừa không bay, đó chỉ là “điểm tựa” cho tư duy, cho tưởng tượng bay lên hòa vào không gian vô định.

Hai phiến khúc haiku của Buson viết về mùa xuân dưới đây cũng rất đặc biệt:

Xuân đang qua

chầm chậm, ngập ngừng

trên những cánh anh đào nở muộn

Một gốc anh đào

xem chừng lơ đễnh

khi mùa xuân sang

Hai bài thơ trên đây đều có hình ảnh mùa xuân-hoa anh đào và một tâm trạng ẩn sâu trong đó.

Ta chưa nói tâm trạng đó là gì.

Trước hết, cả hai bài thơ đều đem đến cho ta “cái nhìn thấy được”. Ở bài thứ nhất: “xuân đang qua” – đang dần đi đến kết cục, chuẩn bị chuyển mùa, khác với “khi mùa xuân sang” ở bài thứ hai – sự bắt đầu của tiếp diễn. Hai khung cảnh khác nhau về thời điểm, nhưng vẫn là xuân – mùa sinh sôi nảy nở của muôn loài, mùa của tươi xanh mơn mởn, của sức sống trỗi dậy. Dù đọc riêng từng bài, ta vẫn thấy cả không gian và cả thời gian dịch chuyển, bởi ở từ đang hoặc từ khi. Đó chính là cái khoảnh khắc của thiên nhiên (đối tượng) mà thi sỹ “thấy có vấn đề” để ghi nhớ vào tâm khảm của mình. Chỉ khác một điều, khoảnh khắc xuân ấy được cảm nhận lúc mở đầu (bài 1) hay khi kết thúc bài thơ (bài 2).

Dụng ý của nhà thơ đặt vào “cái thấy được” tiếp theo: “cánh (hoa) anh đào” và “gốc (cây) anh đào” – một hình ảnh của tươi non, còn hình ảnh kia nhắc tới già cỗi đến gần. Cả hai hình ảnh đều có thật, song không phải ai cũng để ý, cũng “chớp” được. Chúng cũng là những khoảnh khắc khuấy động tâm hồn thi sỹ trong Buson.

Xuân đang qua/…/trên những cánh anh đào nở muộn” và “Một gốc anh đào/…/khi mùa xuân sang” là những hình ảnh khi đặt vào cấu trúc mỗi bài thơ đã chuyển hóa các đối tượng trong mối quan hệ ràng buộc, tạo nên “tứ” sinh động, có sức liên tưởng sâu xa. Nếu, xuân đang qua trên gốc cây anh đào, hoặc mùa xuân sang trên những cành anh đào, thì chẳng có gì để bàn, vì nó thông thường đến thông tục, và, nếu như vậy sẽ không bật ra tâm trạng nhà thơ.

Vì không có “cái nếu” ấy nên mới có câu thứ hai trong mỗi bài thơ với các cụm tù “ngập ngừng” hoặc “lơ đễnh”. Chính câu thứ hai trong mỗi bài là nơi thi sỹ gửi gắm cái tình, cái tâm trạng và có vai trò “đưa đẩy”, gắn kết các ý thơ thành bài thơ hoàn chỉnh.

Ở bài thứ nhất, cái “chầm chậm, ngập ngừng” chia cho cả hai: mùa xuân và cành anh đào. Xuân cũng ngập ngừng không muốn/không thể trôi nhanh, mặc cho sự kết thúc đang hối thúc, vì “nó” không nỡ để những cành đào nở muộn kia chưa kịp vươn tới đỉnh cao của sắc đẹp mà cả loài anh đào được hưởng. Những cánh anh đào, vì nở muộn, cũng ngập ngừng, không biết xuân có đợi mình không, có hiểu cho nỗi chậm chạp của mình không. Chỉ một khoảnh khắc, hai đối tượng - mùa xuân và những cánh anh đào, hiện ra đã khiến nhà thơ rung động và bật ra trạng thái tâm tư lan tỏa cả ba dòng thơ.

Ở bài thứ hai, trạng thái “lơ đễnh” cũng thật đặc sắc. Gốc anh đào cũng lơ đễnh. Mùa xuân cũng lơ đễnh. Thực ra cả hai, xuân và gốc anh đào, đều cần đến nhau, cần nương tựa vào nhau để xác định giá trị đích thực của mình trước người mẹ thiên nhiên. Song, cái “lơ đễnh” ấy nảy sinh bởi sự thờ ơ, có thể đi đến hắt hủi trong thế sự, trong nhân tình thế thái. Ở đây, hai từ “xem chừng”, tức là chưa khẳng định sự lơ đễnh, đã xóa đi cái mặc cảm “hắt hủi” ấy.

*

Những phiến khúc haiku trên đây của thi sỹ Buson cách chúng ta hơn ba thế kỷ - người tiếp tục thi sỹ Basho khẳng định vị thế thể haiku trong nền thơ Nhật Bản và vươn ra thế giới - cho thấy sự thâm trầm, sâu sắc của thể thơ haiku. Dù ngày nay thơ haiku đã nhiều cải tiến, nhưng cách cấu trúc ba dòng (hay ba ý, hoặc ba hình ảnh) vẫn thu hút sự sáng tạo hướng tới sự tinh tế. Cách cấu trúc này, mà câu thứ hai – cũng là một ý độc lập, luôn là chất kết dính hai ý bên cạnh thành bài thơ hoàn chỉnh, vững vàng. Nó, câu thứ hai, có giá trị làm bật lên tâm trạng chung của cả bài thơ mà nhà thơ gửi một cách kín đáo vào từng ý/từng dòng/từng câu thơ.

Phân tích một vài phiến khúc haiku trên đây mới hay rằng, thể thơ haiku, trong một giới hạn xác định về câu chữ, nhưng rất khoáng đạt trong cấu tứ, lấy điểm nhìn và xúc cảm trong một khoảnh khắc tĩnh tâm để khai thác triệt để vẻ đẹp từ thiên nhiên một cách chân thực và diễn tả nó thật diễm ảo. Đặc tính này của thể thơ haiku rất gần gụi với tâm lý và thi pháp của người Việt thể hiện trong thể thơ lục bát, khác chăng là ở cấu trúc ngôn từ. Trong khi haiku nghiêng nhiều về phía duy lý thì lục bát đậm chất trữ tình (duy cảm), mặc dù cả hai đều hướng về triết lý nhân sinh. Một đằng (haiku) thiên dùng quý ngữ để chỉ mùa, hạn chế dùng tính từ, một đằng (lục bát) nghiêm cẩn về luật bằng-trắc, gieo vần và, vì thế, sử dụng tối đa điệp vần, láy tiếng, làm bật lên sự bóng bảy, nhuần nhuyễn của nhịp và điệu. Mỗi thể thơ của mỗi dân tộc đều có mặt mạnh và mặt hạn chế: ba câu haiku (một phiến khúc) trong cấu trúc 5-7-5, gồm 17 âm tiết (truyền thống), nay đã biến cải, làm “bong” ra ý-định rõ rệt trên bề mặt ngôn từ, có khả năng chuyển (dịch) sang ngữ khác; nguợc lại, cặp câu lục bát, gồm 14 tiếng theo nhịp chẵn hay lẻ, lại ẩn chứa sự bóng bảy, thực và hư trộn hòa, xen lẫn, cũng là ẩn chứa khó khăn cho công việc chuyển ngữ, nhất là khi muốn giữ được thể loại đúng với dạng ban đầu vốn có (điều mà thực tế đã nhiều lần chứng minh).

Tiếp nhận thơ haiku của người Nhật, người Việt muốn ứng dụng một thể thơ ngắn, hàm súc, có sức liên tưởng mạnh, bổ sung cho tư duy thơ của mình thêm phong phú, đa dạng, mong muốn hội nhập hồn thơ Việt vào các nền thơ của thế giới một cách nhanh chóng mà vẫn giữ được cốt cách, bản sắc một cách bền-vững. Sự tiếp nhận ấy, với dụng ý ấy, tất đòi hỏi một quá trình chọn lọc, biến cải không chỉ ngày một ngày hai, cũng không chỉ ở một nhóm người làm thơ theo kiểu haiku, mà thơ haiku mang tâm hồn Việt cần thời gian thấm vào người đọc như thơ Đường luật, thơ Pháp đã từng thâm nhập và trải qua quãng đường tiếp biến lâu dài như từng thấy. Những gì mà hai lần tiếp biến trước đã từng trải nghiệm, là những bài học trực tiếp và gián tiếp cho lần tiếp biến thứ ba này. Học hình thức và niêm luật thơ Đường, người Việt sáng tác “kiểu” thơ không còn nệ vào điển tích, mà bộc lộ tình cảm và lý trí một cách trực tiếp, khỏi cần những chú thích, giải nghĩa dài dòng, luẩn quẩn. Tiếp thu thơ Pháp (và thơ phuơng Tây nói chung), người Việt thổi hồn của mình bằng lối riêng, lý lẽ riêng để thể hiện cấu trúc tự do theo tư duy và phong cách thơ với tiếng nói đa tầng, nhiều nghĩa, nêm chặt câu bằng những gián cách, tạo khoảng trống cần thiết mà vẫn giữ được vần và nhịp trong điệu thức hoàn chỉnh của cấu tứ, không đóng lại trường liên tưởng của người đọc.

Dịp xuân mở đọc thơ xuân càng thấm thía chất xuân, tình xuân trong tâm hồn thi nhân. Mùa xuân vẫn là và mãi mãi vẫn là đối tuợng, chất liệu không thể thiếu cho cảm xúc tuôn trào cùng sự giao hòa của trời đất, gió mây: “núi dìu dặt núi-sông luồn vào sông” (thơ Cao Ngọc Thắng), mở ra tầm nhìn, tầm nghĩ cho thơ bốn mùa, quanh năm đượm hương ngọt ngào, thi vị và tinh tế…

CNT

...

Những bài thơ haiku trong bài bình luận này do Đinh Nhật Hạnh chuyển ngữ sang tiếng Việt từ các bản tiếng Pháp hoặc tiếng Anh.

Niềm cô đơn lộng lẫy- Nguyễn Thánh Ngã

alt

"về thôi

bờ sông níu gió

chân trời níu mây"

(Lương Thị Đậm)

Đọc tập thơ của Lương Thị Đậm, tôi nhận từ phố biển những tiếng reo của sóng. Tiếng reo thì thầm trong vỏ ốc.

Lòng chùng lại khi nghe sóng gọi :"Về thôi"!

Biết là ai cũng về thôi, nhưng "về thôi" của Lương Thị Đậm dâng lên một nỗi buồn. Buồn mà mạnh mẽ. Một cái cớ có ý thức, có xác tín rõ ràng, chứ không bi lụy vì ngán ngẫm cuộc chơi.

Về là tự dặn lòng, như một mệnh lệnh. Hãy buông những gì không phải của mình, không thuộc về mình.

Đúng vậy, ai mà không về tay không!

Về với nội tâm đã kiên định, về với chính mình để nghe nỗi buồn kia trong sáng lạ. Một nỗi buồn mà chỉ có sự trải nghiệm đớn đau mới dám mở lòng...

Nhất định rồi, đang sống tức là đang về...

Thơ haiku luôn chạm vào cái khoảnh khắc, để từ khoảnh khắc bật lên niềm xung động hương thơm. Thơ Lương Thị Đậm có làn hương đó, làn hương của yêu thương dang dở...

Nơi "bờ sông níu gió" là níu vào hương xưa. Những kỷ niệm khó phai mờ còn dành hương cho một thời mộng đẹp.

Đọc mà không cầm lòng được, ắt phải níu gió mà hỏi bờ sông sao vắng người? Chợt nhớ một vầng trăng lệch, thì hãy níu chân trời cho cân bằng trạng thái. Yêu cũng làm ta mất cân bằng, như cánh chim trúng thương chới với, chơi vơi...

Giá mà trên chiếu chèo, thì người ta có cớ níu vạt áo người thương mà tỏ:

"Người ơi, người ở đừng về!..."

Đằng này...

"chân trời níu mây" ra đời trong tâm thế đó. Một nỗi cô đơn được đẩy đến tận cùng lộng lẫy!

Đà Lạt tháng 01/2020

N.T.N

Nhà khoa học đen- Lê Văn Truyền

alt

tạo hai bé gái chỉnh sửa gen

“nhà khoa học đen” ngông cuồng

định “thế thiên hành đạo”

Lê Văn Truyền

Ngày 29 tháng 11 năm 2018, trên Associated Press, Hạ Kiến Khuê, Phó Giáo sư di truyền học tại Đại học Khoa học và Công nghệ Hoa Nam Trung Quốc tuyên bố rằng ông ta đã cho ra đời hai bé gái sinh đôi Lộ Lộ và Na Na được chỉnh sửa gen bằng kỹ thuật CRISPR. Và vẫn đang còn một bà mẹ mang thai chỉnh sửa gen chờ ngày lâm bồn.

Ngay ngày hôm sau, 30 tháng 11 năm 2018, hơn 100 nhà khoa học Trung Quốc đã cùng ký vào một bức thư được phát hành trên trang mạng xã hội Weibo lên án thí nghiệm chỉnh sửa gen trên người của Hạ Kiến Khuê. Ký tên vào bức thư còn có cả các nhà khoa học đến từ những trường đại học hàng đầu thế giới như Massachusetts Institute of Technology (MIT - Hoa Kỳ). Hạ Kiến Khuê được mạng xã hội phong tặng ngay lập tức danh hiệu “nhà khoa học đen” và ông đã biến mất một cách kỳ bí sau đó. Có nhiều nguồn tin cho biết, có thể Hạ Kiến Khuê đang bị chính quyền Bắc Kinh quản thúc nghiêm ngặt. Sau đó, ngày 21 tháng 1 năm 2019, Tân Hoa Xã chính thức thông tin: Theo một nhóm điều tra viên “Hạ Kiến Khuê và những người tham gia vào thí nghiệm này sẽ bị trừng phạt theo pháp luật Trung Quốc”.

Hôm nay vào những ngày cuối cùng của năm 2019, Tân Hoa Xã và Reuteurs đã công bố một thông tin mà đa số nhân loại và những nhà khoa học chân chính chờ đợi: Tòa án thành phố Nam Sa (Quảng Đông) tuyên án nhà khoa học sửa gene người He Jiankui (Hạ Kiến Khuê) ba năm tù và nộp phạt 3 triệu NDT (430.000 USD). Zhang Renli và Qin Jinzhou, đồng phạm của He, cũng nhận án tù và phạt tiền nhưng ở mức thấp hơn. Zhang Renli bị kết án 2 năm tù và nộp phạt một triệu NDT (143.000 USD). Qin Jinzhou nhận mức án 18 tháng tù và nộp phạt 500.000 NDT (71.500 USD).

"Ba bị cáo không có chứng chỉ hành nghề y hợp pháp. Nhằm đạt được danh tiếng và tiền bạc, họ đã vi phạm các quy định nhà nước về nghiên cứu khoa học và điều trị y tế", tòa tuyên bố. Âu đó cũng là cái giá cho sự ngông cuồng.

LVT

Mai Trinh- Phan Phượng Uyên miệt mài và tài hoa

Lần đầu tiên tôi biết Mai Trinh- Phan Phượng Uyên là ngày 05/12/2018, khi chị từ quê hương Bạc Liêu xa xôi ra Hải Phòng “ẵm” giải thưởng cuộc thi HAIKU Việt lần thứ II- Hải Phòng 2018

alt

Đây là bài thơ được trao giải thưởng của chị:

-Người đàn bà

neo mình trên khói bếp

đêm xuân

Phan Phượng Uyên

Thực tình nhìn người phụ nữ trẻ trung, xinh đẹp, duyên dáng và ở vùng sát cực Nam (Bạc Liêu) của Tổ quốc này. Tôi tưởng chị chỉ “nở một bông hoa tình cờ” trên thôi, còn việc đi xa là khó…

Nhưng không ngờ sau giải, chị liên tục cho đăng thơ HAIKU của mình trên trang wed của HAIKU Việt. Tôi chú ý đọc và thấy thơ chị tiến bộ không ngừng.

Gần đây, tháng 11/2019 chị “tung” một chùm HAIKU 10 bài thì tôi đã phải … chép lại ra giấy để đọc cho kỹ. Nào là:

Ngọn gió đông/buốt bờ vai/khát bàn tay ấm

Trong đáy tim/phôi pha tình ngỡ cũ/ heo may về mơn man

Bên ly cà phê đắng/khuấy chút ngọt tình người/ chao chát lạnh bờ môi

v.v…

Cả chùm 10 bài, bài nào cũng hay hoặc được, tôi không thể viết hết ra đây, xin mời bạn vào mạng.

Còn đang “say sưa” với chùm thơ tháng 11 thì ngày 05/12/2019 Phan Phượng Uyên lại “tung” ra một chùm mới cũng 10 bài và cũng không ít bài hay:

Chiều buông/giọt nắng qua vai/nỗi lòng goá phụ

Phố lên đèn/ trăng thức/ tha hương phận người.

Mừng cho làng Haiku Việt đã có thêm một cây bút nữ còn trẻ (Phan Phượng Uyên, sinh năm 1983) sung sức, tài hoa, hứa hẹn còn đi xa …

Hẹn lần khác sẽ bình một vài bài tiêu biểu của chị.

16/12/2019

Ngọc Căn

Tâm hồn hoan lạc- Nguyễn Thánh Ngã

alt

” Nuit dans les champs

je cours après le silence

d’une luciole”

- Đêm trên cánh đồng

tôi thả hồn theo cánh bay im lìm

của con đom đóm

(Zlatka Timenova - Đinh Nhật Hạnh chuyển ngữ)

Nữ GS.TS Zlatka Timenova sinh năm 1949, người Bồ Đào Nha, được biết là khách thơ quý mến của CLB Haiku Hà Nội. Ông bà đã đến Việt Nam, thăm danh lam thắng cảnh Thủ đô, và để lại nhiều cảm tình trên đất nước chúng ta. Mới đây, bà đạt giải ba danh giá Cuộc thi thơ Haiku Châu Âu của Unicef năm 2019, với bài thơ trên....

Bài thơ là một thử thách, bởi nó đem đến cho người thưởng ngoạn chút ngỡ ngàng, khó hiểu của hàng rào ngôn ngữ, và người dịch cũng là một thử thách! Nhưng với tình yêu bao la, thơ đã giúp tôi vượt qua tất cả, để chìm vào không gian văn hóa của nước bạn, mà nhận ra sự gần gủi của ý thơ. Đó là niềm hạnh phúc, vì thơ đã đưa chúng ta xích lại gần nhau hơn, cảm thấu nhau hơn.

Với "đêm trên cánh đồng", đã mở ra bầu không khí thoáng đãng, chất thơ có cơ hội bay vào vũ trụ, hòa vào thiên nhiên. Chính lúc đó, trong chiếc lều lẻ loi giữa cánh đồng mênh mông, người thơ đã trông thấy con đom đóm khi hướng mắt lên bầu trời đêm...

Vâng, bầu trời đêm là những khoảng tối vô tận, con người cảm thấy nhỏ bé trước thiên nhiên kỳ vĩ. Vị sứ thần thứ nhất mang ánh sáng cho thế gian là Mặt trời, đã chìm vào giấc ngủ, chìm vào dải thiên hà lạnh lẽo thâm u, không một lời để lại. Cảm giác thật cô đơn, nhưng cũng đầy thơ mộng, nhà thơ liền tự nghĩ: "Tại sao ta không thả hồn bay theo con đom đóm tự do kia, để bầu bạn nhỉ"? Ý nghĩ của thi nhân thật lãng mạn, và nhanh như chớp, ý nghĩ đó đã bám lấy vị thiên thần tuyệt mỹ của đêm đen. Là loại thơ kiệm lời, haiku đã giúp nhà thơ thực hiện một phép lạ: "xuất hồn" để bay theo một sinh vật khác mà không cần phải lý giải gì thêm...

Vấn đề nằm ở chỗ này, thơ có cao kiến hay không đều ẩn vào tứ thơ, là sự quán sát sâu xa. Thơ haiku với mật độ con chữ ít ỏi, ý tứ lại càng sâu xa hơn. Điều đó khiến ta phải nghĩ đến sự kiến tạo từ. Và "từ" đã làm nên âm thanh, âm thanh của cánh bay im lìm của con đom đóm. Chính "im lìm" mới là thứ âm thanh vắng lặng, mà chỉ có thơ mới diễn tả nổi, và người thơ tinh tế mới nghe được. Đó gọi là tri âm, và đó phải chăng, cũng là niềm hoan lạc của một hồn thơ đạt đến cảnh giới lắng tâm trong cõi vô vi?...

Quả thật, khi biết yêu thiên nhiên, người ta sống hòa hợp với thiên nhiên, và nhận được niềm hoan lạc vô biên trong tâm hồn...

N.T.N

Haikư Thế giới nữ- Tiếp theo kỳ trước

alt

Người xưa nói quả không sai “Thơ Haikư thiên về chất nữ”.Trải nghiệm lý thú này trên kho tàng đồ sộ của Hiệp Hội Haikư Thế Giới (WHA) trong gần 20 năm thành lập 2000-2019 trên hơn 6.000 khúc haikư gồm 78 quốc gia và vùng lãnh thổ mà chúng tôi có may mắn sở hữu và dịch thơ đã chứng minh điều đó.Nhân dịp kỷ niệm lịch sử “20 năm thành lập WHA” vừa tổ chức tại Tokyo tháng 9-2019, xin hân hạnh trích đăng dần một số tác phẩm xuất sắc của các Nữ Haijin Thế giới-trong đó có các Haijin Nữ Việt Nam- 20 năm qua trong tổ chức này và trong nước gần đây, để mời các bạn thưởng thức và thẩm định thêm tính chất nữ mềm mại,duyên dáng nhưng kín đáo -tâm tình thủ thỉ mà không ngại đề cập đến thế sự xô bồ,ly tán đầy hiểm họa của thời kỳ cầu nối “Hậu chiến tranh-Tiền chiến tranh” bùng nổ cuộc chạy đua chết chóc của chiến tranh nguyên tử hủy diệt;kín đáo bộc lộ thế giới nội tâm sâu lắng và cả thế giới quan nhiều khi bức xúc ,cũng như về thế sự muôn màu của nửa phần nhân loại kiều diễm, tế nhị này trong thế giới biến động đầy mâu thuẫn ghê gớm của đầu Thế kỷ XXI bằng những phiến khúc Haikư cực ngắn,sâu lắng mà mênh mông…

Lời Biên tập

HAIKƯ NỮ THẾ GIỚI

(tiếp theo kỳ trước)

Zlatka Timenova (1949-) Bồ đào nha

1-Après tant d’automnes

le violon

pleure

- Đã bao mùa thu qua

tiếng vĩ cầm

còn nức nở


2-Le chat et moi

devant la page blanche :

Inspiration

-Con mèo và em

trước trang giấy trắng

Thi hứng đâu rồi!


3-Parfum d’herbes

le passé

lent et chaud

- Hương cỏ

thời qua

chầm chậm, ấm lòng


Fethi Sassi (1962-) Tunisie

1-On the ladder of dreams

I go up to the sky

the moon is waiting for me

Trên thang cao mơ mộng

em leo lên trời

Chị Hằng đang đợi


2– Wherever I sleep

with my language

I give birth to a poem

-Bất kỳ nơi đâu nằm ngủ

với tiếng quê mình

em đều sinh hạ vần thơ


Radosh -Lilia-Ratcheva (1943-) Bulgaria

1-The mask says

much more

than the face

-Chiếc mặt nạ

nói nhiều hơn

bộ mặt thật


2-Bitter wine

swears …

to love

-Rượu vang chát

thô lỗ…

hứng tình


2-A slice of melon

sweetly

crawls the sky

Một khoanh dưa hấu

ngọt lừ

đang trườn bò trên bầu trời


Emi Takeuchi (1926-) NhậtBản

1-One after another

peaces of music

flow from a sleepless body

-Hết bản nhạc này sang bản nhạc khác

tuôn ra

từ một người mất ngủ


2-Terrorism,terrorism

and terrorism !

All us are children of God and brothers!

- Khủng bố ,khủng bố ,lại khủng bố !

Chúng ta là tôi con của Chúa

và đều là anh em!


Shizumi Takahashi (1973-) Nhật Bản

1-At the beginning of the World

the palm of the hand

must be hot

-Thuở Trái Đất mới ra đời

lòng bàn tay người

chắc hẳn nóng


2- I’m the deep sea

listening to

the grandmother heart’s beats

Em như vùng biển sâu

đang lắng nghe

nhịp tim bà nội đập


3-A silent wind

coming to

an owl’s night

-Một làn gió vô thanh

đang thổi đến

từ một đêm cú rúc


Rikido Tomikawa (1963-)Nhật Bản/Nội Mông

1-Drinking in my despair

in the night

the rain gets drunk,too

Đêm chán đời ,vô vọng

rượu một mình

mưa gió cũng say theo


2-Sorry moon !

Already

I gave up drinking –

-Xin tạ lỗi vầng trăng!

Mình cai rượu rồi

không còn say xỉn nữa!


3-Too many rituals

praying for rains

the God of the Sky all tired out

Quá nhiều

nghi thức cầu mưa

khiến Thượng đế mệt nhoài


Judith Vihar (1944-) Hungary

1-Walls were built

Walls fell

walls are growing up again !

-Tường xây lên

tường sập đổ

những bức tường khác sẽ lại mọc lại thôi!


2-A wanderer beneath the tree

a policeman drives him away

A willow weeps

-Một kẻ lang thang đứng gốc cây

anh công an xua đi nơi khác

Một cây liễu xụt xùi


3-Early in the morning

we are in bed comfortably

a bomb explodes

-Mới sáng tinh mơ

mọi người đang yên giấc

bom bỗng nổ bất ngờ


Ivanka Yankova (1936-)Bulgaria

1-Nuit de Décembre

il n’y a que

nos ombres qui brillent

Đêm tháng Chạp

chỉ bóng chúng mình

còn loang loáng sáng thôi!


2-Automne dans le parc

entre 2 bancs

l’ombre de maman

Công viên mùa Thu

giữa 2 chiếc ghế

thấp thoáng bóng Mẹ tôi


3-Pleine lune

des griottiers ont fleuri

dans mon sommeil

-Trăng rằm lung linh

Hoa anh đào nở rộ

tưng bừng trong mơ


Alenka Zorman (1947-)Slovenia

1-butterfly sucks nektar

my eyes get drunk

on his colors –

- Bướm hút nhụy hoa

mắt em say đắm

cánh thắm sắc màu


2-After the mass

father and son

with rainbows umbrellas

Sau Lễ Misa

con trai và bố

đội ô cầu vồng


3-Global crisis

even snow

isn’t as white as before

- Khủng hoảng toàn cầu

ngay cả bông tuyết

không còn trắng được như xưa


Sheila K.Barsdale (1957-)Anh

1-Slowly

through lilies of the valley

toad at noon

Chậm rãi tiếng cóc kêu

vẳng từ đồng hoa huệ

thung lũng buổi trưa hè


2-One dragonfly

replacing another

bend out the moat

Chuồn chuồn

thay phiên nhau đậu

làm cong cả bờ hào


3-This a cold rain

has stiffend five fingers

and one scar

-Cơn mưa này lạnh thế!

làm tê cứng bàn tay

và vết sẹo của mình


Izumi Sato (1945- )Nhật Bản

1-As a spotlight

the eyes of God

lighten you,now

-Như ánh đèn pha rọi

đôi mắt Chúa rạng ngời

soi sáng mình ngay thôi!


2- God has been saving

silver star coins

in the night sky

- Kìa Chúa đang dành dụm

những đồng tiền bạc ròng

trên bầu trời đêm đen


3-For God’s eyes

this world is monochrome

shoot the burning arrow

-Trong đôi mắt Chúa Cha

thế gian này đơn sắc

mũi tên đỏ rực rời cánh cung


Shin’ichi Suzuki (1957-)Nhật Bản

1-The afterwar becomes

the before - war now-

lingering summer heat

Thời hậu chiến vừa qua

trở thành thời tiền chiến

phảng phất rực nóng hè


2-A finger stuck up

is a finger lonesome –

summer dusk

Một ngón tay giơ lên

là ngón tay cô độc-

Hoàng hôn mùa hè


3-A titled nuclear reactor

no support

from the summer sky

-Một lò phản ứng hạt nhân

lửng lơ không bệ

trên bầu trời mùa hè

(Còn tiếp nhiều kỳ)

***

Tham khảo: Nguồn WHA Reviews-No 13-2017

Đinh Nhật Hạnh Sưu tầm-Dịch thơ và giới thiệu

Hà Nội-Tháng 11-2019.

Haiku tình yêu phương Tây- Lê Văn Truyền

alt

CẢM THỤ HAIKU

HAIKU TÌNH YÊU PHƯƠNG TÂY

(WESTERN LOVE HAIKU)

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt - Hà Nội

Khi thưởng thức haiku truyền thống của Nhật Bản, trong các “quý ngữ” người đọc hiếm thấy có chỗ cho chủ đề tình yêu hoặc nhục cảm. Mặc dù, như trong bài viết trước đây, khi giới thiệu “chi lưu” haiku tình yêu, điểm qua một số khúc haiku của các đại thụ haiku Nhật Bản, ta có thể thấy một số bài “luyến ca” đề cập đến tình yêu và vẻ đẹp nhục cảm của người phụ nữ một cách nhẹ nhàng, đầy tính ẩn dụ.

Khi haiku lan tỏa sang các nước phương Tây rồi dần dần có một vị thế quan trọng và đặc thù trong nền thi ca tây phương, người ta thấy các haijin đã đưa vào haiku các chủ đề quen thuộc của văn hóa tây phương, trong đó không thể thiếu chủ đề về tình yêu và nhục cảm. Khi tiếp cận với haiku, nhiều nhà thơ Anh, Mỹ … đã phát hiện ra rằng, tuy rất ngắn gọn, chỉ bao hàm trong 17 âm tiết, nhưng thể thơ ngắn haiku của Nhật Bản vẫn có khả năng thể hiện một cách cô đọng, hoặc trực tiếp hoặc ẩn dụ, các sắc thái tình yêu mạnh mẽ nhất, nồng nàn nhất với tất cả các cung bậc khác nhau của tình yêu và nhục cảm giữa người nam và người nữ. Các haijin phương tây đã tìm thấy trong bản sắc và khả năng của haiku – có thể gợi đến “cái vô tận” của thời gian thông qua “một khoảnh khắc”, thấy cả “vũ trụ” trong một “giọt nước”, phát hiện cái “đại ngã” trong “bản ngã” của mỗi con người, nhận thức được quy luật “thiên nhân hợp nhất” – một thế mạnh để ghi lại những khoảnh khắc thăng hoa, nắm bắt những tia chớp huyền diệu khi người nam và người nữ đắm mình trong tình yêu và nhục cảm.

Đúng thế, có những “khoảnh khắc tình yêu” ở phương Tây có thể mô tả bằng câu chữ trần trụi nhưng ở phương Đông chỉ có thể biểu thị bằng những ẩn dụ, những hình ảnh để người đọc “tự diễn dịch” theo “gu” thẩm mỹ, sự cảm thụ và trải nghiệm của mình mà thôi.

Ishibani Hideno dùng hình ảnh những nụ hoa mận bừng nở chạm vào nhau trong buổi hoàng hôn mùa đông như là một ẩn dụ về sự đụng chạm và giao hòa thể xác giữa nam và nữ:

the winter blooming plum

buds touching one another

in the twilight

hoa mận mùa đông bừng nở

cọ vào nhau

buổi hoàng hôn

Nhưng với Ruth Yarrow, nữ haijin tuổi thất thập cổ lai hy, bậc thầy haiku của Đại học Cornell (Hoa Kỳ), phút giây giao hòa nhất thiết phải thể hiện như trong khúc haiku sau đây:

warm rain before dawn

my milk flows

into her unseen

mưa ấm trước bình minh

dòng sữa tôi

trút vào nàng sâu thẳm

Tả vẻ đẹp của người đàn bà khỏa thân, bậc thầy haijin Nhật Bản đồng thời là ni cô Chiyo – ni sử dụng biểu trưng đóa cúc bạch tinh khôi:

moonflowers -

when a woman’s skin

is revealed

đóa cúc bạch

khi làn da người đàn bà

phát lộ

và cũng Chiyo – ni viết tiếp trong một khúc haiku khác:

moonflower in bloom

when a woman skin

gleams through the dusk

đóa cúc trắng bừng nở

khi làn da đàn bà

ánh lên trong hoàng hôn

Các haijin phương tây mạnh bạo hơn khi sử dụng hình tượng và màu sắc, không chỉ là một màu trắng trinh bạch, mà gần như tất cả các sắc màu mạnh mẽ, ấm áp, rực rỡ của các loài hoa để biểu trưng cho nữ tính của người phụ nữ. Trên khắp thế giới, khi đến với người yêu các chàng trai thường trân trọng mang theo một bó hoa. Nhưng hầu như các cô gái ít khi mua hoa tặng người yêu vì trong mình cô đã có cả một vườn hoa. Alexis Rotella đã rất tinh tế và có chút hài hước, theo tinh thần haiku Nhật Bản, khi phát hiện ra điều đó:

late August

I bring him the garden

in my skirt

tháng tám mới rồi

tôi đem tặng anh

cả một vườn hoa trong váy

Đúng rồi, nếu đã sở hữu cả một “vườn hoa địa đàng” thì không có lý do gì nàng lại phải đem tặng chàng chỉ một nhành hoa hay thậm chí một bó hoa!

Với haijin này chắc chắn đó không phải là bông hoa cúc bạch mà phải là một đóa hồng đen:

dark rose

the sun lights it

as you undress

mặt trời rọi sáng

đóa hồng đen

khi em trút xiêm

Nhưng trong trí tưởng tượng của haijin khác, đó lại là những cánh hoa tulip đang nở bung khoe sắc trong một gian phòng ẩm ướt:

steamy room

the tulip petals

spread wide

gian phòng ẩm ướt

cánh tulip

mãn khai

Bộ ngực phụ nữ, nguồn sữa nuôi dưỡng cả nhân loại là một chủ đề không thể thiếu trong “erotic haiku”. Với Brynne Mc Adoo bầu sữa đã được nhân cách hóa một cách thật sinh động và cũng không kém phần hài hước. Vầng trăng non nhũ hoa của người yêu len lén ngắm chị Hằng trên bầu trời trong đêm nguyệt thực, chắc để tự so mình với chị Hằng xem ai hấp dẫn hơn chăng:

lunar eclipse

a nipple peeks

over her dress

nguyệt thực

nhũ hoa hé nhìn

qua làn áo mỏng

Michael Dylan Welch cảm nhận vị ngọt ngào quyến rũ của đôi nhũ hoa:

the taste of honey

on your nipple

the symphony’s crescendo

vị mật ong

trên đôi nhũ hoa em

cao trào bản giao hưởng

và cũng Michael Dylan Welch cảm nhận một khía cạnh khác, khía cạnh nhục thể của đôi nhũ hoa:

moonlight surf …

your nipple hardens

against my tongue

sóng trào ánh trăng soi

nhũ hoa em săn cứng

chạm vào đầu lưỡi anh

George Swede cảm nhận vẻ đẹp của bộ ngực phụ nữ dưới đôi mắt của một nhà điêu khắc hoặc một họa sỹ:

night begins to gather

between her breast

bóng đêm đọng lại

giữa đôi vú nàng

Và một haijin khác:

by the lamp

the curve of her breast

in silhouette

ánh đèn rọi bóng

đôi vú

em cong

Ram Krisna Singh, bậc thầy haiku Ấn Độ, cảm nhận bộ ngực người phụ nữ như một “thực thể sống” với tất cả sự sinh động tạo nên vẻ khêu gợi của họ. Người phụ nữ trong khúc haiku sau đây chắc chắn phải có một vẻ đẹp trẻ trung, mạnh khỏe, phồn thực vì vậy bộ ngực của nàng mới kiêu hãnh vươn lên và dám thách thức cả vầng trăng:

with her breasts bobbing

up and down she challenges

the moon as she walks

đôi vú nàng bập bềnh

thách thức cả vầng trăng

mỗi khi nàng cất bước

Và, bộ ngực cũng sống động theo chu kỳ của người phụ nữ:

through erect nipples

feeling the warmth of your body

days of abstinence

đôi núm vú săn cứng

tấm thân em nóng bỏng

những ngày kiêng khem

Những cung bậc khác nhau của tình yêu và nhục cảm được các haijin phương tây thể hiện từ nhẹ nhàng đến táo bạo trong muôn vẻ khúc dạo đầu. Tình yêu vốn kiệm lời, chỉ cần tiếng thầm thì của người yêu bên tai, hai tâm hồn đã hiểu nhau và … tình yêu tới.

Michele Langlo nói lên mong muốn đơn sơ của người yêu:

my whispers escaped
in the silence you heard me
and then I knew love...

trong yên lặng

anh nghe tiếng em thầm thì

ấy là lúc tình yêu đến

Và một nụ cười dịu dàng của người yêu nhiều khi còn có sức mời gọi nhiều hơn những lời nói hoặc cử chỉ gợi tình. Ram Krisna Singh thấy chỉ nụ cười của người yêu đã đủ khởi động mạnh mẽ nhục cảm:

her smile triggers

fire in the loins

sunbathing nude

nụ cười nàng

đốt lửa thắt lưng tôi

tấm thân trần tắm nắng

Với June O'Reilly chỉ cái ôm dịu dàng âu yếm của chàng đã đủ mang lại cho tâm hồn mình bao điều kỳ diệu:

touch me with your love

feed my mind with your wonder

tomorrow starts today

hãy âu yếm dịu dàng

ban tặng em những điều kỳ diệu

ngày mai bắt đầu từ hôm nay

Trong lúc Jennifer lại muốn tan chảy trong vòng tay mạnh mẽ của người yêu:

dreamy stars at night
your kisses melted my heart
your arms held me tight

những ngôi sao đêm kỳ ảo

nụ hôn làm tan chảy tim em

trong tay anh ghì chặt

Hàng bao ngàn năm trôi qua nhưng các nhà thơ trên trái đất chưa bao giờ thôi ca ngợi về “hương vị” của tình yêu. Đã có những thi phẩm tuyệt diệu về mùi hương người đàn bà, trong đó có hai câu thơ đẹp, tương truyền của đấng quân vương – thi sĩ Tự Đức lãng mạn của Vương triều Nguyễn:

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng

Xếp tàn y lại để dành hơi

Khoa học hiện đại, đặc biệt là ngành hóa học và sinh học, đã thành công trong việc chứng minh mùi hương hấp dẫn của tình yêu chính là các phân tử hóa học “pheromone”, chất dẫn dụ sinh học (và cũng là chất gây nghiện) của con người (và cả một số loài động vật), để gợi tình, để quyến rũ, để “đánh dấu” bạn tình và để duy trì mối quan hệ tình cảm lâu dài.

Nhưng tình yêu không chỉ có “hương” mà còn có cả “vị” nữa. Nhiều khi, chỉ chút vị mặn mòi của mồ hôi trên làn da người yêu cũng đủ để đánh thức trong ta niềm khao khát khôn nguôi.

Ram Krisna Singh là một kẻ “khát tình” trong khúc haiku sau đây:

craving for a lick

of the salt on her skin

to become one with her

khao khát nếm vị muối

trên làn da nàng

muốn giao hòa làm một

Raymond Roseliep, một thầy tu Hoa Kỳ và vừa là bậc thầy “erotic haiku” rất tài hoa đã dám viết:

her breath

and the rose

caught in my mouth

hơi thở nàng

và đóa hồng

mắc kẹt trong miệng tôi

Và haijin Steve Mount là một người tình tham lam:

tasting salty wet
still thirsting, my tongue pursues
her hot sweat again

nếm vị mặn vẫn khát

lưỡi tôi lại đi tìm

giọt mồ hôi nóng bỏng

Omond thật tự do trong rừng sâu khi chỉ có hai người yêu nhau:

in forest we taste

each other in evergreens

hot dews on the moss

trong rừng sâu

nếm giọt sương ấm của nhau

trên thảm rêu

Lisa Marie Darlington, nữ haijin từ Vương Quốc Anh, rất thích thú khi được người yêu nghịch ngợm “rong chơi” trải nghiệm vị mặn mòi trên làn da của mình:

your tongue walks

heavily, up against

the surface of my naked skin

lưỡi anh rong chơi

trên làn da em

trần trụi

Và hai tâm hồn thấu cảm trong im lặng:

speaking in tongue

my body understands

every words

lưỡi anh chuyện trò

thân em thấu cảm

từng lời của anh

Nhiều khi, lời yêu đương cần phải lặng để nhường tiếng cho đôi bàn tay quý báu của chúng ta đã được Trời Đất và Mẹ Cha ban tặng. Jack Jordan cảm thấy những ngón tay người yêu đang lướt trên làn da mịn màng như đang mời gọi những sợi dây đàn trong cơ thể cất lên tiếng nhạc thổn thức, tưng bừng:

your fingers make

music from the instrument

that is me

những ngón tay anh

gọi cơ thể em - cây đàn

rung lên tiếng nhạc

Nhưng cuối cùng, rồi cũng phải đến lúc toàn bộ hình hài của chúng ta lên tiếng. Ngắm những cành kim ngân quấn quýt, Raymon Roseliep liên tưởng đến sự giao hòa cơ thể:

0ur body

honeysuckle

knots

thân thể chúng ta

nhành kim ngân

giao hòa quấn quýt

Và, khi “ngôn ngữ cơ thể” lên tiếng thì mọi ngôn từ khác đều phải im tiếng:

rocking on the porch

the couple have nothing left

to talk about

lắc lư ngoài balcon

đôi tình nhân

lặng yên không có gì để nói

Lisa Marie Darlington:

her slender body
curved to the couch
back arched out in pleasure.

thân hình nàng mảnh dẻ

tấm lưng cong ưỡn lên

trong cơn khoái cảm

Và khi đó đôi tình nhân chỉ còn thấy đang đắm chìm trong niềm đam mê hừng hực:

hot fire

kindling, the passion

that burns like Hell

lửa tình nóng bỏng

đam mê bốc cháy

lò lửa Địa Ngục

Khi người ta yêu nhau thì nắng mưa, giông bão không còn là vấn đề, mà nhiều khi thiên nhiên còn xúc tác cho cuộc tình thêm ý vị. Roben O. nghe tiếng mưa rơi trên mái tôn vang lên dịu dàng như một bản dạ khúc tiếp sức cho đôi tình nhân vào cuộc tình không có hồi kết:

awakned vigor

rain on tin roof’s serenade

our storm has no end

khúc nhạc mưa rơi trên mái

đánh thức sức mạnh đôi ta

trong cơn bão tình bất tận

June O'Reilly lại thấy hạt mưa như cùng ngọn gió xuân đem lại tình yêu:

rain down into me

enter as the wind my love

spring into my heart

mưa rơi trên mình

ngọn gió mùa Xuân

đem tình yêu tới

Ruth Yarrow chớp được khoảnh khắc của cuộc tình và nguồn cảm xúc cao trào tột đỉnh của bản giao hưởng tình yêu:

hoa hồng dại

quằn mình run rẩy

dưới cánh ong bay**

Và đôi môi hé mở của người yêu chợt lóe lên ánh sáng của niềm khoái lạc tựa tia chớp trên bầu trời đêm trong cơn bão tình:

sâu thẳm

tôi vào trong

răng nàng hé sáng**

Alexis Rotella cảm nhận sự tiếp xúc ấm áp của người yêu:

lying in the wet grass

him still beating

inside me

nằm dài trên cỏ ướt

anh vẫn đập

trong em

Thị giác bất lực trong bóng đêm nhưng cần gì, Steve Mount vẫn thấu cảm được giòng điện khoái lạc và nghe được tiếng thổn thức của niềm hạnh phúc:

hard flesh meets soft flesh

electric arcs of pleasure

in the dark, a cry

Linga gặp Yoni

giòng điện khoái lạc

một tiếng rên trong đêm

Anita Virgil rộn ràng trong tâm hồn khi cảm nhận sự giao hòa nhục thể:

Em đang giữ anh

bên trong em nồng ấm

tiếng chim sẻ vang lừng**

Vâng, hàng ngàn năm trước khi nữ haijin hiện đại Anita Virgil cảm nhận được tiếng chim sẻ vang lừng, rộn ràng trong tim mình thì kinh Kama Sutra (Dục Kinh Ấn Độ) cổ đại đã mô tả “con chim sẻ” nô đùa như thế nào và sẽ còn nô đùa trong vĩnh cửu mai sau để loài người tồn tại:

Khi Linga ở trong Yoni

đó là trò chơi của chim sẻ

Niềm hạnh phúc giao hoan vang lên như tiếng ríu rít của những con chim sẻ đang rộn ràng trong tâm hồn chúng ta, là “chỉ dấu sinh tồn” cho ta biết rằng mình vẫn đang còn được tồn tại trên Trái Đất và trong Cõi Đời nhiều bất hạnh, đau thương này.

Để kết thúc, người viết bài này xin mượn lời Alexis Rotella khi bình khúc haiku của Anita Virgil về bài ca chim sẻ, khúc haiku đã đạt giải nhất trong cuộc thi “Erotic Haiku” toàn thế giới năm 1983 do Tạp Chí Haiku “Cicada” (Con ve sầu) tổ chức:

Yoni và Linga, Âm và Dương, Tiểu ngã và Đại ngã – cả vũ trụ này há chẳng phải đã sinh ra từ “cái trò chơi chim sẻ” ấy hay sao?”.

CHÚ THÍCH

*Các phiến khúc haiku tiếng Việt trong bài này được tác giả bài viết dịch qua bản Tiếng Anh. Kính mong quý thi hữu thông thạo Anh ngữ và Nhật ngữ kiểm tra và cho ý kiến chỉ giáo.

** Các bài haiku chưa tìm thấy nguyên bản tiếng Anh, xin mạn phép sử dụng bản dịch của các tác giả khác

*** Giới thiệu một số haijin được trích dẫn trong bài viết:

Ishibani Hideno (1909 – 1947): Một nữ haijin hiện đại nổi tiếng của Nhật Bản. Đã thọ giáo các nữ bậc thầy haiku như Kyoshi và Akiko Yosano. Bà kết hôn với nhà phê bình haiku nổi tiếng Kenkichi Yamamoto (1907 – 1988). Hideno mất ở Tokyo năm 1947 vì bệnh lao và vết thương chiến tranh. Tác phẩm duy nhất của bà là tuyển tập “Sakura Koku” (Cherry Blossom Deep) đạt giải thưởng “Kawabata Bosha”. Haiku của bà đã được Makoto Uedo dịch ra tiếng Anh trong tác phẩm “Haiku by Japanese Women”

Ruth Yarrow: Haijin Hoa Kỳ, sống ở Rainier Valley. Bà là Thạc Sỹ về Sinh Thái Học ở Đại Học Cornell. Ruth Yarrow sáng tác haiku từ những năm 1070’ khi bà giảng dạy ở Đại Học Stockton (New Jersey). Bà là tín đồ của giáo phái Quaker, là nhà hoạt động vì hòa bình và thành viên phong trào “Thầy Thuốc vì Trách Nhiệm Xã Hội” (Physicians for Social Responsibility). Ruth Yarrow quan niệm:” Sáng tác haiku là để tự trau dồi nhận thức”.  Sáng tác nhiều khúc “love haiku/erotic haiku” nổi tiếng nhưng bà cho rằng: “Thật nguy hiểm khi viết quá nhiều “sweet haiku”, nếu không nghĩ đến thực tế là một cá nhân không thể bao quát được toàn bộ kinh nghiệm của con người” (There’s a danger writing a lot of sweet haiku, to not think one can’t encompass the whole human experience).

Chiyo - ni (1703 - 1775): Một trong những nữ haijin lớn nhất của Nhật Bản. Sinh trưởng trong một gia đình làm giấy, bà thọ giáo cùng hai môn đệ của Basho và trở thành một ni cô đồng thời là một bậc thầy nổi tiếng về renga, hội họa. Bà xuất bản hai tuyển tập: “Chiyo – ni Kushu” (Chiyo – ni’s Haiku Collection: Tuyển Tập Haiku của Chiyo – ni) và “Matsu no Koe” (Voice of the Pine: Tiếng Vọng của Rừng Thông).

Ram Krisna Singh (1950 - …): Sinh năm 1950 tại Ấn Độ, ông là nhà nhà phê bình văn học, nhà thơ đương đại Ấn Độ và là một trong những haijin Anh ngữ xuất sắc. Ông có học vị Thạc Sỹ Văn Học Anh năm 1970 và từ 1993 là Giáo Sư Văn Học Anh. Các tuyển tập haiku của ông gồm có: “Từng Giọt Đá Cuội” (Every Stone Drop Pebble, 1999),“Những Giấc Mơ Vụn Vặt” (Peddling Dreams, song ngữ Anh/Italia, 2003), “Giòng Sông Trở Lại” (The River Return, 2006),“Cảm Thức & Tĩnh Lặng: Tuyển Tập” (Sense & Silence: Collected Poems, 2010)”, “Tanka và Haiku tuyển chọn” (New and Selected Poems: Tanka and Haiku, 2012), và“Tôi không phải là Đức Chúa Trời và các bài Tanka và Haiku tuyển chọn” (I Am No Jesus and Other Selected Poems: Tanka and Haiku, song ngữ Anh/Crimean Tatar, 2014). Haiku của ông đã được dịch ra 23 thứ tiếng trong đó có: Pháp, Tây ban Nha, Roumanie, Trung Hoa, Serbia, Croatia, Tiệp Khắc, Nhật Bản, Đức, Bulgarie, Italia và Esperanto (Quốc tế ngữ) …

Alexis Rotella: Nhà thơ Hoa Kỳ gốc Nga, hiện đang sống ở thành phố Slavic (Pennsylvania). Bà tốt nghiệp Đại Học “Five Branches Institute” ở Santaz Cruz và có bằng Thạc Sỹ về Châm Cứu và Dinh Dưỡng của Học Viện “Five Element Acupuncture” ở Maiami, Florida. Là một nhà sáng tác haiku và haiga nổi tiếng nhưng phần lớn thời gian bà dành cho châm cứu và chữa bệnh. Sáng tác haiku từ những năm 20 tuổi, thơ của bà được in trong nhiều tạp chí trên thế giới và đạt được nhiều giải thưởng haiku quốc tế. Năm 2007, bà đạt Giải thưởng lớn (Grand Prize) trong cuộc thi haiku hàng năm “Kusamakura Annual Contest” (Kumamoto, Nhật Bản) khi cùng chồng du lịch tới Nhật Bản. Bà được công nhận như là một trong những haijin hàng đầu của Hoa Kỳ hiện nay. Kasuo Sato, giáo sư ở Đại học Waseda Tokyo viết “Alexis Rotella là một trong những haijin hiện đại hàng đầu ở Hoa Kỳ. Bà là người bẩm sinh có thể nắm bắt được những khoảnh khắc của thiên nhiên và của con người để sáng tác những khúc haiku. Nếu bà được sinh ra ở Nhật Bản, bà có thể đã là một trong những bậc thầy haiku hàng đầu của Nhật Bản”.

Anita Virgin: Nguyên Chủ Tịch Hiệp Hội Haiku Hoa Kỳ (The Haiku Society of America). Haiku của bà đã được công bố trong nhiều tạp chí và tuyển tập haiku từ 1969. Gần đây, bà bắt đầu sáng tác và công bố các bài tanka. Từ 2004, các tác phẩm của bà thường xuyên xuất hiện trên mạng Internet.

Raymon Roseliep (1917 – 1983): Sinh năm 1917 tại Farley (Iowa). Năm 1939, Raymon Roseliep tốt nghiệp Cử Nhân Văn Chương sau đó nhận bằng Thạc Sỹ Văn Chương tại Đại Học Công Giáo Hoa Kỳ (1948). Năm 1954, ông nhận bằng Tiến Sỹ Văn Học Anh ở Đại Học Nostre Dame. Raymon Roseliep được thụ phong linh mục năm 1943 tại Nhà Thờ Raphael’s Cathedral, Dubuque, Bang Iowa. Ông đã được Giải Thưởng Harold G. Henderson của Hiệp Hội Haiku Hoa Kỳ (Haiku Society of America: HAS) vào các năm 1977 và 1982. Là linh mục công giáo sáng tác haiku, Raymon Roseliep để lại một gia tài haiku đồ sộ. Dù là một tu sỹ, ông không hề thấy có gì mâu thuẫn khi sáng tác “love haiku”: “Haiku tình yêu giúp tôi cảm thấy tràn trề sức sống, trẻ trung, tỉnh táo; và luôn luôn thấy rằng đó là những gì sâu sắc và thiêng liêng nhất trong tất cả chúng ta” (It keep me alive and young and remembering; and always with feelings that are deepest and most sacred in all of us).

LVT

Cảnh và tình của Buson Taganuchi- Lê Văn Truyền

alt

CẢNH VÀ TÌNH

Cho người ra đi

cho người ở lại

hai mùa thu riêng …

Buson Taganuchi, Yosa (1716-1783)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Phiến khúc haikư của Buson nói về một cuộc chia tay, không biết có phải là của hai bạn trẻ yêu nhau hay là của một đôi bạn già tri kỷ. Trong một buổi sáng mùa thu trong sáng, khi tiễn bạn đến nơi phải dừng bước để một người ra đi và một người ở lại, Buson bỗng nhận ra tâm trạng của mỗi người bỗng khác nhau. Cùng là một cảnh sắc mùa Thu, người ở lại bỗng cảm thấy mùa thu lạnh lẽo, cảnh sắc ảm đạm vì người sắp chia xa, lòng còn vương vấn những ngày vui bên nhau. Người ra đi đang hướng đến những cuộc gặp gỡ với bạn tri kỷ, tri âm mới, háo hức những điều mới mẻ đang đợi chờ trong sắc Thu vàng.

Chia tay, ly biệt là lẽ thường tình của cuộc sống. Du Vũ Minh (Trung Quốc) trong tản văn sâu sắc và đầy tính triết lý nổi tiếng của mình “Chỉ có thể đi cùng bạn một đoạn đường” đã viết: Sau cơn mưa vào ngày xuân hôm ấy, người bạn tốt của tôi ngỏ lời từ giã. Tôi kiên trì đòi đưa bạn ấy ra đến trạm xe. Bạn ấy ngăn cản tôi:Đưa người ngàn dặm, cuối cùng rồi cũng cách biệt (Tống quân thiên lý, chung hữu nhất biệt), dù thế nào đi nữa thì bạn cũng chỉ có thể đưa tôi đi chỉ một đoạn đường, thôi thì chỉ đưa tôi đến cửa hãy ngừng bước nhé”.

Du Vũ Minh đành tôn trọng ý kiến của bạn và ngộ ra rằng mỗi con người đều chỉ đan xen vào một giai đoạn trong cuộc sống của người khác. Điều chắc chắn vĩnh viễn là chỉ có thể đưa người đi cùng một đoạn đường.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt Hà Nội

Thẳng cánh cò bay- Đinh NHật Hạnh

Câu chuyện nhỏ về một sự kiện khá lớn bắt đầu từ 10 năm trước,khi CLB Haikư Việt-Hà Nội lần đầu tham gia “Ngày Thơ Việt Nam” tại Văn miếu Quốc tử giám-Hà Nội.Họa sĩ Phan Vũ Khánh,các nhà thơ Cao Ngọc Thắng ,Lê Đăng Hoan,Lê thị Bình ,Nghiêm Xuân Đức và người viết bài này họp bàn cách trang trí Quán thơ mà nội dung rất cần có logo chính thức.

alt
(Thiết kế mẫu: Hs Phan Vũ Khánh; Thực hiện: Ts Haijin Lê Khắc Huy)

CLB Haikư Việt năm 2009 đó ,may mắn bắt thăm được vị trí đắc địa ngay bên trái cổng vào Văn miếu.Phác họa của HS Phan Vũ Khánh ngay hôm sau đã được các Hội viên đồng thuận với ý tưởng sáng tạo :“Cánh cò Việt khoan thai chở phôi thơ mới từ Xứ sở Mặt Trời Mọc về lũy tre xanh Việt”.Rồi từ năm 2009 đáng nhớ ấy,cánh cò thanh thản ấy đã sải đôi cánh rộng chở Haikư Việt ra thế giới bao la qua trung gian Hiệp Hội Haikư Thế Giới WHA,dự Đại hội WHA lần thứ 8-Tokyo,sang Bồ đào nha,Bulgary,Colombia, Nhật Bản,Thụy Điển,Đan Mạch,Australia,Algeria,Marocco…ca tụng đất nước Việt Nam tươi đẹp, yêu hòa bình-hữu nghị.Cánh cò Thơ Haikư Việt trẻ trung,thuần Việt mà thấm đượm cốt cách haikư cổ điển mang hơi thở hiện đại ,thể hiện Chân -Thiện- Mỹ hòa đồng và hữu nghị ra đời từ đó,ở Thủ đô 1000 năm văn vật.

alt

Năm nay,2019 Haikư Việt-Hà Nội tổ chức Kỷ niệm “12 năm hình thành và 10 năm thành lập 2009 – 2019” tấm huy hiệu chính thức của Haikư Việt-Hà Nội mang logo “Cánh cò “ nói trên đã được trang trọng trao cho các Hội viên CLB Haikư Việt nhân ngày “Kỷ niệm Đại sư Haikư cổ điển Nhật Bản Matsuo BASHO” tại Trụ sở số 1 Kim Mã,Quận Ba Đình Hà Nội.

alt

Hy vọng “Cánh chim Việt bay trên lũy tre xanh đất Việt” sẽ tiếp tục tỏa cánh rộng ,mang đến muôn phương những khúc Haikư thuần Việt ,ca tụng đất nước Việt Nam tươi đẹp yêu Hòa bình-Hữu nghị. Nhân sự kiện đáng ghi nhớ này,xin chân thành cảm ơn và vinh danh Haijin Họa sỹ Phan Vũ Khánh ,tác giả huy hiệu Haikư Việt và công sức thiết kế,tài trợ của Hội viên Haikư Việt-Hà Nội TS Lê Khắc Huy.

Hà Nội ngày 31 tháng 10 năm 2019

Chủ nhiệm Haikư Việt-Hà Nội

Đinh Nhật Hạnh

Tản mạn Haikư- Nhân kỷ niệm 325 năm ngày mất của Đại sư Matsuo Basho

Đại sư Haikư Nhật Bản Matsuo Basho (1644-1694) tên khai sinh là Matsuo họ Kinsaku- xuất thân từ một gia đình Võ sỹ đạo bậc thấp tại Thị xã Ueno,tỉnh Iga - nay là tỉnh Mie.Bố là Matsuo Yozaemon.

alt

Năm 1654-10 tuổi phục vụ gia đình quý tộc của cậu chủ Todo Yoshitada năm ấy 12 tuổi, con lãnh chúa Todo Shinshichiro Yoshiki .Cùng cậu chủ bút danh là Sengin học làm thơ haikai với thầy Kitamura Kigin.Năm 1656,13 tuổi, bố mất .10 năm sau ,cậu chủ cũng mất đột ngột.Ông bèn từ biệt ra đi, vẫn tiếp tục học Haikai với thầy Kigin. …Năm 1680 dời đến Nihonbashi (Edo) sống trong túp lều tranh ở Fukagawa cách đó không xa.Chính tại đây ông đã viết phần lớn các ký sự hành trình ,lý luận Haiku chính thống nổi tiếng ,trong đó có “Con đường nhỏ hẹp tới Miền Bắc sâu thẳm

A- BASHO-AN-túp lều tranh lịch sử:

Hiện nay ,tại Bảo tàng Basho ở Tokyo-chốn hành hương mơ ước của biết bao thế hệ Haijin thế giới coi trọng như La Mecque –có ngôi lều lợp rơm rạ mô phỏng Basho-an xây trên đỉnh con dốc đá rêu phủ,bên bờ suối róc rách tạo thành một ao nhỏ trong veo, in bóng mây trời ,phất phơ cành dương xỉ mà tương truyền là nơi 333 trăm năm trước ,con ếch xưa đã nhảy vào khai sinh một dòng thơ siêu ngắn đang tắm mát bốn phương trời-Haikư…

Ao xưa

văn vắt

-Mây lộng bóng Người”

Tokyo 2-9-2015-ĐNH


Năm 1680 :Basho- an đầu tiên:

Cho đến nay ,chưa có tư liệu chính xác về địa điểm ,quy mô ngôi thảo am nguyên thủy ấy –do môn sinh giàu có buôn cá tên là Sampu ở Fukagawa xây tặng Thầy,nơi cư trú của Đại sư từ mùa đông1680 ( năm 36 t).Mùa xuân năm sau,một môn đệ khác biếu thầy một cây chuối cảnh ,đem trồng cạnh thảo am.Cây chuối tốt xum xuê nổi tiếng,bà con địa phương quen gọi tắt chủ nhân là “Ông già Chuối” và gọi căn lều là “Am Basho ” nơi Đại sư từng nhiều năm sáng tác,dạy học và tiếp xúc với các nhân sĩ,nhà thơ đương thời.Ông rất thích danh xưng mới này,lấy luôn làm bút danh và thay tên họ cúng cơm Kinsaku là Basho từ đó.

Khóm chuối trong cơn giông mùa thu-

Nằm nghe mưa

lộp độp rơi trong chậu

ST năm 1681-36T

Năm 1682 :Thảo am thứ I bị trận hỏa hoạn lớn ngày 28 tháng 12 năm 1682 thiêu rụi hoàn toàn.Ông tạm dời về tỉnh Kai,quận Yamanashi.

Học trò chung sức làm lại Basho –an mới.

Năm 1683- Basho- an thứ II- Cũng tại địa điểm cũ.Ngay sau khi chuyển về am mới , ông đã viết:

Tiếng mưa đá sầm sập

ta vẫn như xưa

-Một gốc sồi già

Mùa xuân năm 1686, ông viết tại đây:

Ao xưa

con ếch nhảy vào

–Tiếng nước

-Bài thơ nổi tiếng nhất trong các siêu phẩm của ông,không ngờ đã có công lớn mở ra một thể thơ mới mà phải chờ 214 năm sau mới được Shiki định danh là Haikư.

-Năm 1689,ông rời Basho An,chuyển cư qua Genjyou-An gần hồ Biwa.


Năm 1692 :Basho-an thứ III-

Tháng 5 -49 tuổi .

Tại đây,ông viết nhân một đêm trăng đẹp :

Chờ tôi néo

tàu chuối kia lên cột

để từ lều ta ngắm trăng”

Những ngày tháng cuối đời ,ông tạm biệt Basho-An đi Kansai ,xuất bản tuyển tập “Một bì than”,thăm lại Kyoto, kịp về quê hương Ueno rồi định thăm thú Osaka thì ngộ bệnh nặng trên đường vào tháng 9,không kịp trở lại Basho –an.Mất ngày 12 tháng 10 năm 1694.Hưởng thọ 51 tuổi,

(theo tư liệu mới nhất của Bảo tàng Basho-Tokyo-2017)./.


B- Niên biểu sáng tác những áng Haiku bất hủ:

Câu 1-

On a withered branch / a crow has setteld /–Autumn nightfall -

-Cành cây trụi lá

quạ đậu

Hoàng hôn thu

Sáng tác năm 1680 - 37 tuổi


Câu 2-

An old pond / a frog dives in / water sound

Ao xưa

con ếch nhảy vào

- Tiếng nước

ST năm 1686 - 42t


Câu 3 –Stilliness/ into the rocks / sinks the voice of cicadas

-Lặng như tờ

tiếng ve

khoan đá

ST năm 1689 - 45 tuổi


Câu 4-

-Let me hang a banana leaf /on the pillar /–Moon wiewing at my hut

-Cho tôi néo

tàu chuối kia lên cột

để từ lều ta ngắm trăng

St năm 1692- 49t


Câu 5-

-Only a possession / my life is light / Like this gourd

-Chỉ sở hữu độc nhất

cuộc đời ta tênh tênh

nhẹ như bầu rượu này!

ST năm 1686-42T


Câu 6-

Clouds now and then / let them have a rest /–Admirers of the moon

-Này mây bay muôn phương

xin dừng chân tạm nghỉ

cho người say mê trăng

ST năm 1685-45T


Câu 7-

Napping on a horse/Unfinished are my dreams / Distant moon ,the smoke from making tea

- Chợp mắt trên lưng ngựa

vô tận những giấc mơ

Vầng trăng xa… khói bếp pha trà

ST năm 1685-45T


Câu 8-

I clap my hands / the day dawns with the echoes /–A summer moon

-Vỗ đôi bàn tay

bình minh ửng hồng theo tiếng vọng

Một đêm trăng hè

ST năm 1691-57T


Câu 9-

Suma Temple*/a flute unplayed is heard / in the shadows of the trees

- Trên đền Suma

nghe tiếng sáo tắt

giữa bóng ngàn cây

ST năm 1688 - 44 T


** Đền Sumadera –nghe tiếng sáo tắt ngàn xưa vọng về

Ngày xửa,ngày xưa ,ở Nhật Bản có cuộc chiến tranh sinh tử dai dẳng giữa 2 bộ tộc lớn Taira (Heike) và Gengi ,Thế kỷ XII.Trước trận cuối cùng,Thủ lĩnh phía Taira là Tairono Atsumori -vị tưóng thiếu niên 16t, con út của lão tướng Tsunemori quá già nua cầm quân thay bố.Đêm cuối cùng trước trận chiến định mệnh này,quân sĩ của Taira ca hát động viên nhau suốt đêm trên khuôn viên đền Suma rợp bóng cây,nỉ non tiếng sáo trúc.Kết cục bi thảm như đã tiên liệu , vị bại tướng thiếu niên ngã ngựa khi cố vượt sông Suma.Tướng Kumagai Naozane đại thắng cũng có con trai út 16 t ,rất thương xót và mến phục chàng thiếu niên anh hùng ở tuổi con mình,dùng dằng không nỡ giết, phẩy tay cho đi .Nhưng theo nghiêm luật Võ sĩ đạo, chàng trai này nhất thiết không chịu nhục đầu hàng,buộc lão tướng phải chặt đầu .Khi tước võ phục kẻ chiến bại theo luật định ,thấy một chiếc sáo trúc còn giắt thắt lưng chàng trai mệnh bạc. Thì ra chính cậu thiếu niên anh hùng này đã thổi sáo suốt đêm qua!Quá xúc động và cảm kích,ngay sau đó,ông đã đích thân đến trao cho người cha già xấu số kia chiếc sáo trúc rồi xin treo ấn từ quan ,nương cửa Phật.

Và từ đó,tiếng sáo ai oán ,bi hùng xưa vẫn như vang vọng những đêm trăng trên đền Sumadera, đã xúc động nhập hồn vào thơ ca của Basho (3 bài), Buson,Issa và nhiều thi sĩ Nhật Bản qua bao nhiêu thế hệ…tận bây giờ:

Mãi tận bây giờ

vẫn nghe tiếng sáo tắt

trên đền Suma! “

ĐNH


10-Câu thơ từ thế :

- Ailing on my trip– / My dreams racing / around a withered moor

- Ngộ bệnh trên đường

Giấc mơ đua nhau đuổi

quanh đồng đất hoang

ST ngày 8 tháng 10-1694- (4 ngày trước khi mất.)

……

Tài liệu tham khảo:”1020 Haikus-The Heart of Basho”- Takafumi Saito-William Nelson

“Basho Museum-Tokyo 2017”.

Kỳ sau đăng tiếp

Hà Nội ngày 25-10-2019

Đinh Nhật Hạnh

Sưu tầm-chuyển thơ và giới thiệu

Tự sự với Haiku- Luân hồi Samsara

alt

Đầm sen mùa đông

những dấu chấm than

gieo trên mặt nước

Lê văn Truyền

Ở nước ta, hoa sen được coi là một loài hoa đẹp tượng trưng cho sự cao quý. Khi thấy các nước khác có quốc hoa: hoa Anh Đào (Nhật Bản), hoa Hồi (Hương Cảng), hoa Dâm Bụt (Malaysia), hoa Nhài (Indonesia), hoa Sứ (Lào), hoa Muồng Hoàng Yến (Thái Lan), hoa Lan (Singapore), hoa Trà Mi (bang Alabama – Hoa Kỳ) … Việt Nam ta cũng không muốn tỏ ra kém cạnh. Đã có lúc trong “chiến dịch” ồn ào đi tìm một loài hoa để vinh danh là “Quốc hoa” của Việt Nam, hoa Sen từng được đề cử như là một “ứng viên tiềm năng” đắt giá (nói theo thuật ngữ của Ban tổ chức các cuộc thi tìm kiếm các “hotgirl chân dài” ở nước ta).

Bất chấp có được chọn làm “quốc hoa” hay không, vẻ đẹp và sự thanh khiết cao quý của hoa sen đã được người dân Việt Nam đưa vào ca dao từ rất lâu đời:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng, bông trắng, lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Ca dao Việt Nam

Tuy không rực rỡ, vì hoa sen thường chỉ có đơn sắc 3 màu thuần khiết hồng, vàng và trắng, nhưng theo lẽ công bằng của Trời Đất, hơn nhiều loài hoa rực rỡ khác “hữu sắc vô hương”, thiên nhiên bù lại cho hoa sen vừa có sắc lại vừa có hương. Hương sen cùng với hương nhài là hai hương thơm đã làm nên các loại trà nổi tiếng của Việt Nam: trà Sen và trà Nhài. Kẻ viết bài này cũng đã may mắn từng được đến các trung tâm trà nổi tiếng của Đài Loan, Singapore và ngay cả ở Trung Quốc … nhưng hình như ở những nơi đó trà sen không phải là “quốc trà” của họ. Trà Nhài, trà Hoa Cúc và trà Long Tĩnh, trà Ô Long … mới là những loại trà nổi tiếng của họ.

Đầm sen nở hoa trong mùa hè là nơi văn nhân, thi sĩ đến thăm thú để thỏa mãn thị giác, ngắm hoa và ngắm cả … những người đẹp lả lơi bên hoa trong những bộ váy yếm (cũng không kém phần lả lơi) cực kỳ quyến rũ. Và cũng để thỏa mãn khứu giác và vị giác khi cùng nhau nhâm nhi những tách trà sen ngát hương vừa được ủ trong búp sen đêm qua giữa những bạn tri âm, tri kỷ. Câu chuyện bên tách trà sen vì thế càng thêm thi vị.

Thế nhưng, cũng như cuộc đời chúng ta không thể thoát khỏi vòng luân hồi, loài hoa sen cũng vậy. Hết mùa hè rực rỡ, sen sẽ tàn, để lại gương sen ôm ấp những hạt sen. Rồi, gương sen già mang đầy những hạt sen và những phiến lá sen xanh tốt cũng dần khô héo, lụi tàn chỉ còn trơ lại những cọng thân sen khô quắt như những dấu chấm than (!) mầu đen gieo trên mặt đầm bàng bạc sương khói mùa đông, như tiếc thương cho thân phận của những đóa sen. Đời người chúng ta há cũng chẳng khác gì thân phận của hoa sen sao?

Tuy nhiên, có một câu ca dao cực kỳ đơn giản thể hiện sự minh triết, lạc quan và “tri thiên mệnh” của những người dân quê chân chất, hiền lành về sự luân hồi (samsara) trong giáo lý Nhà Phật thông qua hình tượng loài sen:

Đông tàn, sen lại nở hoa

Đó là khi những hạt sen già rơi xuống ủ trong bùn dưới đáy đầm, âm thầm chờ đến mùa Xuân để đâm chồi, vươn lên khỏi bùn đen và nở hoa trong mùa hè rực rỡ. Tôi còn nhớ vào thập niên 50’ thế kỷ trước các nhà khoa học Trung Quốc đã công bố một tin làm cả thế giới sửng sốt: Họ tìm thấy mấy hạt sen vùi trong một ngôi mộ cổ khoảng 1.000 năm và đã thành công cho những hạt sen này đâm chồi nẩy lộc.

Bỗng tự hỏi liệu khi cuộc đời tàn lụi, liệu chúng ta có để lại được chút dấu vết gì dù nhỏ nhoi chỉ như một hạt sen, im lặng vùi mình dưới đáy bùn sâu?

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Lễ hội Tsukimi- Ngắm Trăng trong thơ Haiku- Đào Thị Hồ Phương

Nhật Bản là một trong những quốc gia thuộc nền văn hóa Á Đông nên người Nhật cũng có tục lệ cúng trăng và ngắm trăng vào mùa thu.

alt

Nguồn gốc

Trong tiếng Nhật "Tsukimi" có nghĩa là "ngắm trăng", còn chữ "O" thường được thêm vào phía trước (Otsukimi) để thể hiện sự trang trọng. Lễ hội thường diễn ra vào ngày 15/8 âm lịch hàng năm.
Có giả thuyết cho rằng tục ngắm trăng bắt nguồn từ Tết Trung thu của Trung Quốc. Ngày lễ này được lưu truyền vào đảo quốc Nhật Bản thông qua những đoàn đi sứ nhà Đường trong thời kỳ Heian (794 - 1185). Ban đầu, Otsukimi chỉ dành cho hoàng gia và tầng lớp quý tộc, nhưng thời kỳ Edo (1603 - 1868) thì nó đã được phổ biến rộng rãi như một lễ hội dân gian. Những mùa lễ Otsukimi đầu tiên được người dân tổ chức vào giai đoạn sau khi đã thu hoạch hoa màu mùa hạ và chuẩn bị bước vào mùa gặt lúa nước, với mục đích cầu xin thần linh mang đến những vụ mùa tươi tốt cho con người. Với ý nghĩa đó, Otsukimi đã đi sâu vào đời sống tinh thần của con người Nhật Bản.


Nét đặc biệt trong Trung thu ở Nhật :
Ngoài 15/8 âm lịch, Otsukimi được tổ chức lần 2 vào khoảng 1 tháng sau - ngày 13/9 âm lịch, đêm 13 này còn được gọi là "trăng sau". Người Nhật quan niệm rằng một khi đã ngắm trăng đêm 15 thì nhất định phải ngắm trăng vào đêm 13. Bởi nếu chỉ ngắm trăng đêm 15 thì chắc chắn sẽ gặp xui xẻo hay tai họa, điều kiêng kị này trong tiếng Nhật được gọi là "Kata-tsukimi". Đây cũng là một nét khác biệt của phong tục ngắm trăng của Nhật Bản.

Ngày lễ ngắm trăng đặc biệt này còn mang một ý nghĩa khác là tạ ơn các vị thần đã ban cho người dân một vụ mùa thật bội thu, họ đã làm những mâm lễ cúng thật chu đáo bằng chính những thứ mà họ làm ra như bánh truyền thống Dango, cỏ bông bạc Susuki,...

Haiku và lễ hội ngắm trăng

Từ cổ xưa, người Nhật miêu tả tháng 8 âm lịch (khoảng giữa tháng 9 theo lịch Gregorian) là thời khắc tuyệt vời nhất để ngắm trăng, bởi vị trí của Trái đất, Mặt Trời và Mặt trăng khiến cho trăng vô cùng sáng. Vào những đêm trăng sáng, đã có một truyền thống được đặt ra, mọi người tụ tập tại nơi có thể nhìn rõ mặt trăng nhất, những cánh đồng cỏ ở Nhật, và dùng bánh gạo (được biết đến là Tsukimi dango), khoai môn, đậu ván, hạt dẻ và nhiều loại đồ ăn khác, thêm vào đó là rượu sake để dâng tặng cho mặt trăng cầu một vụ mùa bội thu.Tsukimi được biết đến như một lễ hội truyền thống của Nhật Bản nơi người ta ăn mừng mùa gặt.Đồng thời từ thời Heian, người Nhật (đặc biệt là giới quý tộc trong cung đình) đã có phong tục tổ chức ngâm thơ (Tanka) dưới ánh trăng rằm vào Tháng 8 âm lịch. Đến thời Edo, với sự phát triển của nền văn hóa, văn học đại chúng và sự ra đời của thơ Haiku thì phong tục “thưởng nguyệt, làm thơ” này tiếp tục được duy trì và có những màu sắc mới.

Sau đây xin giới thiệu một số bài thơ Haiku được sáng tác lấy cảm hứng chủ đạo là “trăng rằm mùa thu”.

1.あさむつや - 月見の旅の - 明け離れ

Asamutsu ya- tsukimi no tabi- akebareru

松尾芭蕉 (Matsuo Basho)

Tại Atsumuka

hành trình ngắm trăng

bình minh bỏ lại


2. 観月や - 高張立てて - 百花園

Kangetsu ya - takahari tatete - haykkaen

高橋淡路女 (Takahashi Awajijo)

Thưởng nguyệt

lồng đèn treo cao

bách hoa viên


3. 賑やかに - 障子開けたり - 十三夜

Nigiyaka ni - shoshiaketari - juusan yoru

星野立子(Hoshino Tatsuko)

Mở cánh cửa lùa

một cách ồn ào

đêm rằm mười ba


4. 年よりや - 月を見るにも - ナムアミダ

Toshi yori ya - tsuki wo miru nimo - namiamida

小林一茶 (Kobayashi Issa)

Có tuổi rồi

cho dù nhìn trăng

cũng niệm A Di Đà


5. はろばろと - 来て山高き - 月見かな

Horoboro to - kitetakaki tsukimi - kana

吉武月二郎 (Yoshitake Tsukijorou)

Phía nơi xa xa

Đang đến từ trên cao

trăng đó phải không ?


6. 名月は - どこでながめん - 草枕

Meigatsu wa - doko de nagamen - kusamakura

正岡子規 (Masaoka Shiki )

Trăng thu

nghiêng bóng nơi nào ?

chiếc gối cỏ

ĐTHP

Mạch nguồn thi ca truyền thống Nhật Bản trong thơ Haiku

NB được mệnh danh là “thi quốc” - đất nước thơ ca. Thơ Nhật Bản phong phú về thể loại. Bên cạnh những thể thơ du nhập từ Trung Quốc thời cổ đại, thơ Mới du nhập từ phương Tây thời cận đại, người Nhật có những hình thức thơ ca riêng của mình được gọi là waka (hoà ca) nghĩa là thơ ca của người Nhật. Nhưng thế giới biết đến nhiều hơn haiku - thể thơ được coi là linh hồn nước Nhật.

alt

Trong cuốn Đời sống và tính cách Nhật Bản trong thơ Senryu, R.H.Blyth đã viết: “Nước Nhật sinh ra cùng với Basho vào năm 1644. Ông chính là người sáng tạo ra linh hồn của Nhật Bản”1. Tuy nhiên, thơ haiku kế thừa nhiều yếu tố của thơ truyền thống Nhật Bản được tinh tuyển trong các hợp tuyển thơ nổi tiếng như Vạn diệp tập, Cổ kim tập, Tân cổ kim tập. Haiku kết tinh linh hồn Nhật Bản, kết tinh những mạch nguồn thi ca truyền thống Nhật Bản.

Tiền thân của haiku là thể thơ đoản ca (tanka)- một hình thức thơ waka2, thể thơ truyền thống của Nhật Bản. Đoản ca là thể thơ ngắn, mỗi bài có 31 âm tiết, chia làm 5 dòng: 5-7-5-7-7. Thể thơ này chiếm ưu thế trong Vạn diệp tập- một thi tuyển đồ sộ tập hợp 4596 bài thơ sáng tác từ thế kỷ IV đến VIII. Về sau chúng bị ngắt làm hai để tạo những câu thơ 5-7-5 và 7-7 âm tiết. Những câu này được kết hợp đan xen với nhau tạo thành chuỗi dài gồm 36, 100, có khi nhiều hơn nữa những mắt xích gọi là thể liên ca hài hước (haikai no renga). Chúng có thể do một nhóm thi sĩ hoặc một thi sĩ sáng tác với tư cách nhóm. Đề tài là thiên nhiên bốn mùa. Thể liên ca thịnh hành ở Nhật vào thế kỷ XIV, XV. Sau đó, các nhà thơ sáng tác những bài thơ 5-7-5 âm tiết độc lập, không đứng trong chuỗi. Đến giữa thời Edo (1600- 1868), thi pháp của loại thơ 17 âm tiết này đã được định hình vững chắc. Đến TK XVII thì đạt tới đỉnh cao và trở nên lừng lẫy trên thi đàn thế giới với thi hào M.Baso, sau đó là Y.Buson, K. Itsa, M.Siki.

Đề tài của haiku cổ điển là thiên nhiên được gọi là quý đề (kidai). Thiên nhiên trong thơ haiku gắn với nhịp luân chuyển của mùa. Nên trong thơ haiku bao giờ cũng có từ chỉ mùa, có thể là từ chỉ mùa trực tiếp (quý ngữ trực tiếp) như xuân, hạ, thu, đông, có thể là từ chỉ mùa gián tiếp (quý ngữ gián tiếp) là những hình ảnh tiêu biểu của mùa. Mùa xuân có những hình ảnh như hoa đào, hoa mai, chim oanh, chim yến, …; mùa hạ có mặt trời, tiếng ve, hoa diên vĩ; mùa thu có trăng, sương, tiếng dế; mùa đông có tuyết, cánh đồng hoang, …Tuy nhiên, đây không phải là đặc điểm riêng của haiku. Thiên nhiên là đề tài được quan tâm chủ yếu của thơ ca Nhật Bản. Từ Vạn diệp tập đến Cổ kim tập, Tân cổ kim tập, thơ viết về thiên nhiên đều có số lượng lớn. Vạn diệp tập có 20 cuốn thì có quyển 8 và 10 tập trung những bài thơ về thiên nhiên theo mùa. Cũng trong 20 quyển Cổ kim tập có 6 quyển dành cho những bài thơ theo mùa với 342 bài thơ về các mùa. Từ đây có thể thấy thiên nhiên vận hành qua bốn mùa là một đề tài chính của Vạn diệp tập, Cổ kim tập. Tuy nhiên trong Vạn diệp tập, thiên nhiên được miêu tả hoà quyện với tình yêu, là phương tiện biểu đạt tình yêu. Cánh đồng mùa đông khô nứt nẻ biểu hiện cho nỗi khát khao, nhớ nhung chờ đợi tình nhân:

Em chờ anh

Như cánh đồng trước nhà

Chờ mưa, đất khô nứt nẻ,

Cũng thế

Ôi, em chờ anh... (Thái Bá Tân dịch)

Khu vườn mùa thu đầy trăng, sương, tiếng dế được tỉ dụ với trái tim đầy nỗi buồn:

Đêm đầy trăng

Tim đầy nỗi buồn

Khu vườn

Đầy sương lấp lánh,

Tiếng dế tỉ tê trong gió lạnh... (Thái Bá Tân dịch)

Trong Cổ kim tập, những bài thơ về thiên nhiên chủ yếu nói về những cảm xúc bắt nguồn từ sự giao mùa.

Đây là bài thơ Mùa xuân của Kino Tsurayuki.

Xuân đến rồi

Gió nhẹ hơn

Nước đang tan băng

Nơi mùa hè chúng tôi giặt áo.

Trần Hải Yến dịch (bài 2, quyển 1)

Tinh thần của bài thơ rất tiêu biểu cho Cổ kim tập. Các nhà thơ Cổ kim tập không phát hiện ra một thiên nhiên mới. Họ vẫn sử dụng những hình ảnh thiên nhiên đơn sơ, bình dị, nhiều khi chỉ có ở Nhật Bản như anh đào, tử đằng, hoa xương bồ, hoa sơn chi, kim tước chi, mà không sử dụng những hình ảnh ước lệ hoặc vay mượn trong văn học Trung Quốc. Hơn nữa, họ không miêu tả thiên nhiên gắn liền với những suy tư về tình yêu như trong Vạn diệp tập. Từ đây, Shuichi Kato đó đi đến nhận định rằng: ‘’Cảm xúc mang tính Nhật Bản nổi tiếng đối với thời tiết dẫn đến đề tài mùa màng trong thơ haiku là bắt đầu từ đây (tức là từ Cổ kim tập) cũng như chủ đề thường được gọi là tình yêu Nhật Bản đối với thiên nhiên’’. ‘’Đây chính là hợp tuyển cung đình đầu tiên của thơ waka, tạo ra những khuôn mẫu cho “cảm xúc Nhật Bản về bốn mùa” và cho “tình yêu Nhật Bản đối với thiên nhiên3.

Lý tưởng thẩm mỹ của Cổ kim tập và cả thời đại Heian là niềm bi cảm nhân sinh mono no aware- nỗi buồn trước sự tàn phai của sự vật. Những nhà thơ của Cổ kim tập xúc động trước sắc màu rực rỡ của thiên nhiên như lá phong đỏ, hoa đào rụng, lá rơi, tuyết tan, sương rơi trên cỏ, bọt nước trên sóng- những sự rực rỡ gắn kề với sự tàn phai. Thi hứng thường nảy sinh: ‘’Khi họ ngắm nhìn những bông hoa lả tả trong buổi sáng mùa xuân, khi họ lắng nghe chiều thu tới trên những chiếc lá rơi, khi họ thở dài về tuyết và biển cả phản chiếu mỗi năm đi qua bằng chiếc gương soi của họ, khi họ thảng thốt nghĩ về sự ngắn ngủi của cuộc sống qua một giọt sương trên ngọn cỏ hay bọt nước trên sóng, khi ngày hôm qua tất cả đều huy hoàng và lộng lẫy, họ buột miệng thốt lên trong sự cô đơn hay khi đang yêu tha thiết mà bị hờ hững’’4. Như vậy, mọi sự vật đều được xem xét trong giới hạn tạm thời của nó. Trong dòng thời gian, mọi vật đều phù du. Thời gian của Cổ kim tập là ‘’một thời gian cát chảy’’, một thời gian luôn vận động. Cảm xúc gợi lên trong nhà thơ và độc giả là nỗi bâng khuâng về cái đẹp thoáng qua của cuộc sống, một cảm xúc buồn thấm thía về sự ngắn ngủi của cuộc đời. Xúc cảm này chúng ta cũng bắt gặp nhiều trong thơ haiku cổ điển. Ngắm trời đất trong một đêm mưa giông, Buson xúc động viết:

Hàng tre rũ

Những giọt nước loé sáng

Trong ánh chớp giăng (Thanh Châu dịch)

Những giọt nước đọng ở đầu lá tre loé sáng trong ánh chớp. Hình ảnh đẹp nhưng chẳng vĩnh hằng. Nó chợt hiện lên rồi lại mất đi như chưa từng có bao giờ. Nhưng đó cũng là bản chất của vạn vật trong vũ trụ. ‘’Vạn pháp vốn vô thường’’. Hoa nở. Chim hót. Mây bay. Nước chảy. Con người sống. Tất cả đều vận hành theo quy luật thành, trụ, hoại, không.

Trong bụi măng tre

Con chim hoạ mi cất tiếng hót

Bài hát của tuổi già. (Basho – Thanh Châu dịch)

Nếu các thi sĩ phương Tây ca tụng tiếng hót của con chim hoạ mi là bất tuyệt thì các nhà thơ haiku lại thấy trong giọng hót của nó dấu vết của thời gian. Trong không gian mùa xuân trẻ trung căng tràn sức sống: măng tre đâm chồi nảy lộc, hoạ mi cất tiếng hót líu lo, nhà thơ vẫn nhận ra rất rõ bước chân đang qua của mùa xuân. ‘’Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua/ Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già’’ (Xuân Diệu). Nhìn hoa đang nở, các nhà thơ haiku ngậm ngùi nghĩ đến khoảnh khắc hoa tàn: