Nhà thơ họ Cao- Phan Vũ Khánh

Tôi gặp Cao Ngọc Thắng khi anh 35 tuổi. Thế mà đã 30 năm trôi qua.

alt

Lần đầu gặp nhau, ngồi ở quán nước, hóa ra hai anh em cùng chờ một người bạn. Tôi mở cặp vẽ, phác họa nhanh chân dung anh. Rồi anh cũng ký họa chân dung tôi, trong cặp vẽ của tôi. Một kỷ niệm đẹp, không quên. Tôi vẫn giữ hai bức ký họa ấy. Từ đó chúng tôi thường gặp nhau.

Cao Ngọc Thắng vốn xuất thân từ nghề dạy học. Anh tốt nghiệp khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Hà Nội I (ở Cầu Giấy), năm 1976. Ra trường anh được phân công về giảng dạy ở khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Hà Nội II – Xuân Hòa, cách Hạ Nội 40 km. Anh bảo: Nếu ngày ấy khoa Địa lý ĐHSP II không giải thể, thì có lẽ anh sẽ dạy học đến khi về hưu.

Năm 1984, Cao Ngọc Thắng chuyển công tác, về làm biên tập viên của Tạp chí Kinh tế vùng (thuộc UB Phân vùng Kinh tế Trung ương) ở 48 Nguyễn Thái Học – Hà Nội. Anh trở thành nhà báo chuyên nghiệp từ ngày đó.

Ngày tôi quen Cao Ngọc Thắng, anh đang là biên tập viên của Tạp chí Thông tin thuộc Bộ Thông tin. Sau này anh thường nói vui: Mình sinh ra đúng thời kỳ nhập-tách rồi tách-nhập, cho đến tận ngày nghỉ hưu. Mà đúng vậy. Bộ Văn hóa-Thông tin-Thể thao-Du lịch hình thành, Cao Ngọc Thắng về làm ở báo Văn Hóa, rồi cuối năm 1995 anh về Đài PT-TH Hà Nội.

Thuyên chuyển nhiều chỗ, nhưng anh em bạn bầu (anh bảo đừng dùng “bạn bè”) vẫn thường xuyên gặp gỡ, trao đổi. Hai anh em giới thiệu cho nhau những người bạn mới, đều là người làm báo hay họa sĩ, nghệ sĩ. Cao Ngọc Thắng thường đăng báo những bài viết có tính ký sự, chân dung, kể cả khi anh làm phát thanh và truyền hình. Những bài viết, và cả sau này khi làm thơ, viết truyện, anh đều vận dụng nhiều tri thức địa lý. Nhiều lần anh tâm sự: Nghề báo, nghề văn rất cần những tri thức địa lý. Anh thich đi và đi nhiều, hầu như khắp đất nước. Đi đến đâu anh cũng có bài viết, bài thơ về nơi đã tới. Anh có nhiều bài thơ viết về các mùa trong năm, về Hà Nội, về ký ức làng quê. Chẳng hạn, một khổ trong bài “Hà Nội yêu”:

Nhớ Hà Nội là nhớ Hà Nội đêm

Ánh đèn vàng vàng sang cây vào lá

Tiếng dương cầm quyện nước hồ sóng sánh

Cánh tay vòng anh mềm mại lưng em

Khi CLB Haiku Việt Hà Nội chuẩn bị ra Nội san, Cao Ngọc Thắng rủ tôi: Cậu vào làm cho vui. Thế là từ đó tôi trở thành họa sĩ của CLB, vẽ tranh minh họa cho Nội san Haiku Việt và cho các hoạt động khác. Anh thường trao đổi với tôi về thơ haiku. Những bài thơ haiku do anh sáng tác cũng rất đậm màu sắc địa lý. Chẳng hạn:

* Quánh bắp chân

Soi

Dấu hỏi cấy mùa

* Đêm thu

Gom bao điều nhung nhớ

Thả vào trăng mộng mơ

* Hơi thở của gió

Gợn sóng vàng lăn tăn

Trăng run bên song cửa

Nhớ nghề dạy học, anh viết:

* con đò cập bến

người lên người xuống

chuyến mới qua sông

* mùa thu vào

phượng nở

bầy chim nhỏ ùa bay cao

* kiến thức vô cùng

chữ nghĩa chiết trung

làm người – thủy chung

Cao Ngọc Thắng là một trong những cây bút bình thơ haiku được bạn đọc Nội san Haiku Việt và trang web. haikuviet.com yêu thích, vì sự dung dị, sâu sắc. Tôi còn thích cái chất nhà giáo vẫn đậm đà trong con người thi sĩ của anh.

Nhân ngày Nhà giáo 20-11-2017

Hs P.V.K

Nỗi nhớ mưa xuân- Vũ Tam Huề

alt

Dạo chơi cùng bướm

Một trời mưa bụi

Rắc hoa lên mình

( Phương Trung )

Trong muôn vàn nỗi nhớ của những người con tha phương gửi về đất Bắc quê xưa, có nỗi nhớ mưa xuân. Trong mưa xuân vô số những hạt nước nhò li ti mong manh như bụi, như phấn, êm êm giăng mắc đầy trời. Mưa xuân làm trời xuân thêm lãng đãng khói sương, làm cho cỏ cây đâm chồi nẩy lộc, làm cho hoa lá mơn mởn non tơ. Mưa xuân lắng đọng mùi thơm của cây cỏ lá hoa, không gian luôn mơn man một làn hương dịu nhẹ phiêu bồng…

Nào ai nhìn thấy rõ mưa xuân

Tơ nhên vừa chăng sợi trắng ngần

Bươm bướm cứ bay không ướt cánh

Người đi trẩy hội tóc phơi trần.

Mùa xuân là thời gian đồng quê Bắc bộ tươi đẹp hữu tình nhất. Những cánh đồng lúa xanh non chạt thẳng tới chân trời mờ xa bóng núi. Dưới bầu trời lớt phớt mưa bụi, xóm thôn thơm nức mùi hoa bưởi, hoa cam, mùi nhang khói. Bên những bến nước, dọc các đường thôn ….hoa xoan tím rụng tơi bời. Tiếng chim ríu rít trong vườn cây mái lá, trên bãi cỏ, ruộng lúa, bờ đê…

Sau tiết xuân phân, sương phủ dăng dăng mờ mịt trên đồng ruộng xóm thôn, hứa hẹn tiết trời sẽ ấm dần lên. Những hàng xoan tưởng chừng qua bao tháng ngày giá rét, được tiết xuân lay tỉnh, vỗi vã trổ bông. Một sớm mai vừa mở cánh liếp ra sân, một làn hương ngòn ngọt, dìu dịu, ngai ngái như hòa trong hơi sương lạnh chợt òa đến, bao phủ khắp người. Hương hoa xoan đấy !...Ngước mắt trông lên ta sẽ thấy những dải hoa xoan đã phủ kín cành cao cành thấp, tưởng như những áng mây phớt tím đang lững lờ bay qua ngõ trúc. Cánh hoa nhỏ liu riu, kết thành vạt lớn vạt nhỏ, chùm cao chùm thấp, chăng mắc khắp thôn khắp xóm, quanh bờ ao bến nước, bờ ruộng đường làng…Vẻ đẹp thật rưng rưng khó tả….

Hoa xoan nở cũng nhanh tàn cũng chóng. Suốt ngày đêm những tàn xoan dịu dàng đưa hương và lặng lẽ rụng rơi trong bầu không hư ảo bụi mưa. Cánh hoa xoan nở phơn phớt hai mầu trắng và tím, buông mình lả tả rồi nhẹ nhàng vương vào mái tóc, đậu lên vai áo người qua kẻ lại.

Mùa hoa xoan tạo ra cảnh sắc như thực như mơ của bầu trời xuân của quê Chèo đất Bắc, cũng là mùa hội hè đình đám. Những đám rước lộng lẫy cờ quạt xiêm y, rộn ràng kèn trống, uốn lượn dọc theo những triền đê dài hun hút, hay vòng vèo quanh những đường làng ngõ xóm, dưới làn mưa bụi nhẹ như sương.

Ngày xuân, những cô thôn nữ tóc bỏ đuôi gà, áo tứ thân mớ ba mớ bảy đủ màu: đỏ hoa hiên, xanh quan lục, xanh nõn chuối, vàng hoàng yến…thấp thoáng dưới những rặng xoan đang nở hoa phơi phới là toàn cảnh một bức tranh quê đẹp tới nao lòng. Chiều xuân, tiếng chuông chùa khoan nhặt từ các mái tam quan cổ kính, qua lũy tre xanh vọng về các thôn xóm nghe nhẹ lâng lâng. Đêm xuân, tiếng trống chèo giục giã tới khuya bồi hồi náo nức.

Ôi tuyệt diệu làm sao ! Xin hãy ngâm nga….

…Bữa ấy mưa xuân phới phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy

Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ

Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay…

Khi đắm chìm trong không gian mùa xuân đất Bắc, ta sẽ cảm nhận từng sợi tơ lòng run rẩy với những vần thơ bất tuyệt của thi sĩ Nguyễn Bính. Không ai có thể cảm tác về mưa xuân, về vẻ đẹp của hoa xoan dưới mưa xuân, về quê Chèo đất Bắc dạt dào cảm xúc thi ca như chàng thi sĩ đồng quê này.

VTH

Năng lượng tỉnh thức- Nguyễn Thánh Ngã

alt

Mưa

Vỗ mặt bùn

Sen thức

(Phan Vũ Khánh)


Chúng ta có thể hiểu, Thiền Phật giáo là đưa tới nhận thức giác ngộ. Vì vậy, từ lâu thiền đã mang lại cho con người những tri kiến thâm sâu, khả năng đạt tới trí huệ tối thượng. Thơ thiền như mảnh vỡ của vô thức, đánh động chúng ta giữa hoài nghi cuộc sống. Haiku thời trước, cũng có lúc mang tính thiền rất cao, là thể thơ kiệt ngắn, có công năng thâm nhập mọi tầng trí tuệ, đánh thức cuộc đời. Với dáng vóc siêu nhỏ, Haiku như con chíp luồn lách và lóe sáng. Chính lúc đó, "con chíp thơ" vực thức nơi ta cảm thức về thế giới.

Điều đó cho chúng ta năng lượng tỉnh thức!

Thức là ý nghĩa cao nhất mà thơ mang lại, như mưa, thơ mang lại sự hồi sinh các tính giác, làm đâm chồi khả năng tư duy.

Đọc bài Haiku của Phan Vũ Khánh, tôi đang tắm trong nguồn mưa (mưa pháp). Nước mưa vỗ vào mặt bùn "tí tách"... Cơn khát của loài ếch nhái, vi sinh dưới bùn đã được (hay bị) đánh thức. Thối nát thì vỡ ra, héo rủ thì nhuần lại. Có tiếng kêu vô thanh từ mặt bùn thao thức. Không phải tiếng kêu của mưa va chạm bùn...

Đó là tiếng kêu của sinh linh bùn đen!

Chúng ta có thể nghe rất rõ trong tạng thức mỗi người.

Thơ Phan Vũ Khánh là gì? Là sen. Và loài sen đã thức trong tiếng kêu ấy. Vô thanh mà đầy hương vị.

Đọc bài thơ sáu từ thôi, "con chíp thơ" ấy có thể làm lóe sáng vạn vật trong "mặt bùn" chúng sinh, "mặt bùn" cuộc sống!

Nói như Thiền phiền muộn (bùn) là Bồ đề. Phần thơ là chất liệu tạo nên cuộc sống mới. Ngôn ngữ thơ làm từ chất liệu "bùn" ấy mà tỏa hương!

Dalat 2/2017

N.T.N

Nhẹ nhàng Haiku- Nhật Chiêu

Trên khắp thế giới, đông đảo người yêu thơ và làm thơ tìm đến haiku với tình yêu và đam mê, nhìn thấy ở đây một con đường của bóng mát thơ ca, một cảnh quan thu nhỏ của ba nghìn thế giới.

alt

Hình thức một bài haiku thì rất nhỏ. Phải, nhỏ và nhẹ. Thử cầm trên tay, nó nhẹ tênh. Thử nhìn vào nó, nó như bay. Và thử đi vào nó, ôi trời như tiến về chân trời. Chân trời, như ai cũng biết, là vô hạn.

Chính thi hào Bashô đề cao tố chất NHẸ (Karumi) cho thơ haiku vào những năm cuối đời, chống lại cái nặng (Omomi) của thơ ca tập cổ.
Trước mắt ta, mọi điều trôi đi không ngừng, Trôi đi (ryoko: lưu hành) như nước, như mây đưa đến tính nhẹ của sự vật.

Vì vậy, theo cách nhìn của Bashô, thơ haiku hiện thời cần phải được Nhẹ hóa, cần phải thõng tay vào đời, vào chợ, vào cõi tục, không thể nằm hoài với tịch liêu cao khiết. Cái đó nhà thơ gọi là “cao ngộ quy tục” (Kogo kizoku).

Kể từ đó, thơ haiku đi trên con đường khinh thanh, nhẹ nhàng tiêu dao, nhẹ nhàng trong ánh sáng, nhẹ nhàng trong cát bụi.

Cái nhẹ đó đem lại cho haiku một dung dáng mới: hiền minh mà như dại khờ, thông thái mà như trẻ thơ. Điều đó có thể thấy trong bài thơ haiku sau đây của Bashô:


Cánh đinh hương

đong đưa là thế

không rời giọt sương


(Shira tsuyu mo

kobosa nu hagi no

uneri kana)


Cánh đinh hương (hagi) rất nhẹ, chao đảo buông lơi trong gió. Giọt sương (tsuyu) cũng rất nhẹ, long lanh trắng ngời trong nắng. Thế mà sương và hoa vẫn ôm nhau, hiện thành cái khoảnh khắc hiện sinh kỳ diệu giữa đời.
Nhẹ hóa là thế. Nhẹ như một nụ cười. Tình yêu không đánh rơi giọt sương của mình.

Và cái nhẹ nhàng đó biến mọi cái hằng ngày, như “ăn uống sự thường” trở thành hân hoan ngây ngất. Ta có yến tiệc mọi lúc, ta có lễ mừng mọi nơi, ta chúc tụng từng ngày mới. Thơ Bashô cho thấy niềm hoan vui sâu thẳm đó:


Bóng cây thanh thanh

chén canh, dưa cải

đều vương cánh đào


(Kino moto ni

shiru mo namasu mo

sakura kana)


Dưới bóng cây, dường như có đủ “miếng ngon” dân dã, có đủ tương tác giữa con người và thiên nhiên, nghệ thuật và thực tại, trong và ngoài.
Chính vì thế mà Bashô nói: “Bắt được nhịp điệu cảm thức thơ ca khi ngắm hoa đào, tôi trao gởi cái nhẹ nhàng”. Cái nhịp điệu đó thể hiện rất rõ trong âm vận nguyên tác qua hàng loạt nguyên âm “o” (ko, no, mo, to) mà khi chuyển ngữ, chúng tôi cũng thử bắt nhịp qua âm vận “anh” (thanh thanh, canh, cánh).

Ngoài cái nhẹ, Bashô còn hướng về một phong cách gọi là “Ada” (Hồn nhiên). Đó là cái hồn nhiên trẻ thơ mà Bashô muốn đưa vào haiku và nhà thơ ân cần dặn dò môn đệ “chỉ cần quan tâm nhìn ngó cách mà trẻ thơ chơi đùa”. Không chỉ vui đùa, dung dáng nào ở trẻ thơ cũng toát ra niềm vui sống, cái vô tận hân hoan mà Bashô thể hiện trong một bài haiku đề trên cánh quạt:


Tóc để chỏm

vẫn còn thơm

mùi cỏ non


(maegami mo

mada wakakusa no

nioi kana)


Hương cỏ non (wakakusa no nioi) là hương mùi của những gì mới mẻ tinh khôi, những cái ban đầu đầy khả tính sáng tạo, hình thành, nảy nở, truyền lan…

Nhẹ nhàng haiku tương hợp với tuổi trẻ. Học tập và làm thơ haiku là hướng đến tự do trong sáng tạo và tình yêu, giải thoát mình khỏi mọi hệ lụy không cần thiết.

Đó là khi đứa trẻ bên trong chúng ta nhảy múa và ca hát, cười reo với mưa xuống và nắng lên, nhìn đâu cũng thấy điều kỳ diệu. Và thi ca là mê li.

NC

Thơ và Họa của Phan Vũ Khánh- Cao Ngọc Thắng

Là một họa sĩ, nhưng cũng đam mê thơ haiku, Phan Vũ Khánh trở thành hội viên của CLB Thơ haiku Việt Hà Nội. Vũ Khánh đảm nhận công việc vẽ minh họa cho Nội san Haiku Việt Hà Nội từ số đầu, trang trí cho “Gian Haiku Việt Hà Nội” tại Ngày Thơ Việt Nam tổ chức hằng năm ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám vào Rằm Tháng Giêng (Nguyên tiêu) và hai cuộc Tọa đàm Thơ Haiku Việt tổ chức vào năm 2014 và 2016 tại Hà Nội. Phan Vũ Khánh đã đăng thơ haiku trên Nội san Haiku Việt Hà Nội, trên trang web. Haikuviet.com và trên Tạp chí của WHA. Gần đây, họa sĩ Phan Vũ Khánh thực hiện một xê-ri tranh hoa sen trên giấy gió minh họa một số bài thơ haiku của các tác giả thành viên CLB Haiku Việt Hà Nội. Bài viết sau đây giới thiệu những nét chính về họa sĩ Vũ Khánh.

alt
(Họa sĩ Phan Vũ Khánh tặng bức thư pháp cho Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nhật Hà Nội)

Thiên nhiên muôn thuở là đối tượng biểu đạt của (các loại hình và ngôn ngữ) nghệ thuật và là cứu cánh để người nghệ sĩ tìm về sự thanh thản và hòa bình nội tâm. Bởi thiên nhiên luôn vận động trong sự tĩnh lặng và tuân theo quy luật của tạo hóa. Từ xưa đến nay, nghệ thuật đã từng và tiếp tục vai trò tìm hiểu và thể hiện cái đẹp của tạo hóa trong sự thanh thản của mỗi người nghệ sĩ theo từng cung bậc khác nhau, tùy bối cảnh lịch sử của thời đại. Hiện thân của Tạo hóa, Thiên Nhiên biến đổi khôn lường, đồng thời ẩn hiện những chân lý không đổi. Chính điều đó khiến nhận thức của con người bối rối, không chỉ đôi lần mà liên tục ngỡ ngàng, không ngừng thúc giục sự khám phá. Càng khám phá con người càng thấy Thiên Nhiên đầy bí ẩn. Bởi nghệ thuật không khi nào thỏa mãn “lòng mình”. Chỉ để lý giải mối quan hệ CHÂN-THIỆN-MỸ, nghệ thuật đã từng vấp phải biết bao cản trở do các quan niệm/học thuyết nảy nở suốt chiều dài phát triển nền văn minh của nhân loại; và, vì vậy tự mình dựng nên những nghịch lý trong biểu hiện. Ở những “quãng nghỉ mỗi cung đường”, cũng là khi xuất hiện những “đột phá” về nhận thức thế giới khách quan, người ta bỗng nhận ra: thế giới quanh ta thật giản dị!; điều cần thiết tối hậu cũng là cứu cánh cho mỗi đời người, cho xã hội loài người - đó là sự thanh thản, là hòa bình nội tâm. Chỉ có điều, sau “mỗi quãng nghỉ” người ta nhận thấy: con người lại đi chệch hướng dẫn dắt của Tạo hóa, để tiếp tục hành trình lập lại trạng thái thanh thản mới trong bối cảnh mới.

Nguyên gốc ở Bình Định, Phan Vũ Khánh sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Có thời gian xa thành phố, đủ độ cho Khánh thấm nỗi nhớ, nỗi yêu, để khi trở về đắm say nghiệp vẽ.

Phan Vũ Khánh rất say sưa vẽ Hà Nội. Ô Quan Chưởng là một “mảnh” đề tài. Mùa thu là một “mảnh” khác. Khi hai “mảnh” này áp vào nhau đã tạo nên cái riêng của Phan Vũ Khánh. Nét riêng này là sự gắn bó âm thầm và sôi nổi trong tình yêu Hà Nội mà Khánh trằn trọc nhóm ngọn lửa cho những bức họa bứt phá tông màu, đường nét.

Rất đỗi thân quen. Rồi, lại thấy có gì rất mới. Cảm xúc của người họa sĩ cho ta “cái mới” ấy; mỗi người một cách chẳng ai giống ai. Dường như màu thu của  năm tháng nén vào ký ức người trai sinh ra tại Hà Nội bỗng bật lên sắc mới. Do vậy, biểu tả “cái cũ” mà không chìm sâu hoài niệm. Ấy là bởi giọt thu sau không hề giống giọt thu ngày nào thuở trước, khiến cho tình người không cũ theo nhịp bước thời gian. Những nét, những màu không lặp lại trong các bức họa cùng chung đối tượng. Ấy là bởi cảm xúc bắt được sự chuyển hóa mềm mại của màu thu tỏa lan thành cảnh sắc. Phong cảnh mà pha “chất” tĩnh vật, rồi không tĩnh. Vẫn cảm nhận được hơi thở nồng nàn của cuộc sống, sự vận động của cuộc đời. Tranh ấm áp. Sự ấm áp vượt ra ngoài khổ tranh. Cái tình nghệ sĩ hiện ra và giữ căn cốt ẩn tàng trong tranh. Tranh sẽ lâu bền.

Thời gian ngấm vào thành phố lên rêu phong. Mùa đắp đổi thay màu áo. Và, sự cảm nhận của mỗi người lại nhân lên độ tươi rói trong mỗi góc, từng chiều ngẫu hứng. Tranh của Phan Vũ Khánh có độ ngẫu hứng cảm theo mùa. Những giọt thu Hà Nội đằm vào mảng màu hồn nhiên, có phần phóng túng mà không lấn át nét cổ kính. Ô Quan Chưởng còn đây – còn đây dấu tích của những cửa ô trên đất kinh kỳ.

Đam mê vẽ hoa sen. Hoa sen, cũng như mọi sự vật đều tuân theo quy luật nhịp điệu – có sinh có mất. Xem tranh hoa sen của Vũ Khánh, ta có cảm tưởng tác giả đang dõi tìm nguyên nhân tạo nên cái đẹp mà tạo hóa gửi gắm, từ lúc đâm chồi nụ, xòe cánh hồng tươi, tỏa thơm hương ngát, cho đến kết quả thành đài và héo tàn màu đất. Nhịp điệu mùa cũng là vòng đời của một loài hoa đặc sắc của Thăng Long – Hà Nội, nơi “chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời” như Lý Thái Tổ đã chọn làm nơi định đô. Nhịp điệu mùa của hoa sen còn mang giá trị nhân sinh, nhân bản; bởi sự tồn tại của hoa sen từ lúc nẩy mầm đến khi rục xuống đều có ý nghĩa thiết thực đối với cuộc sống con người. Thưởng thức tranh hoa sen của Vũ Khánh, người ta luôn liên tưởng tới ý nghĩa và giá trị của hoa sen đối với tâm thức, với đời sống tâm linh của người Việt.

Khác với ngôn ngữ văn/thơ, ngôn ngữ hội họa “lặp” trong cùng đối tượng biểu đạt lại không “phạm” nguyên tắc, bởi góc nhìn, bố cục, đường nét, màu sắc ở tác phẩm sau không thể “trùng” với tác phẩm trước đó, mà phần nào “tả” được sự biến chuyển, đổi thay của đối tượng qua quy luật nhịp điệu thời gian và không gian. Điều đó có nghĩa: cái đẹp của một đối tượng bất kỳ cần phải được quan sát bằng con mắt tinh tế, linh hoạt của người nghệ sĩ, để bắt được thần thái của sự thay đổi đó, nếu không cái đẹp trong phút chốc tan biến vào vô tận, nhiều khi không trở lại.

Sắc tươi của sự sinh thành có thể đối lập với màu tàn lụi lúc cuối đời của loài hoa, nhưng hãy nhìn vào sắc độ biểu cảm từ trái tim nghệ sĩ thì mới cảm nhận sức sống của loài hoa đó. Hoa sen là vậy. Và, nghệ thuật biểu đạt là vậy. Bởi đời hoa cũng là đời người; mỗi quãng đời là một giá trị sống; ngay cả sự tàn lụi cũng vẫn có giá trị nhân sinh, nhân bản của sự luân hồi...

Có lẽ vì ý thức được điều đó nên trong tranh của mình, họa sĩ Vũ Khánh không quan ngại việc mô tả nhịp bước đời hoa. Âu đó là con đường tìm về sự thanh thản mà thiên nhiên cất giữ . Sự tĩnh lặng ấy là một phương thức vận động quan trọng do chính tạo hóa xác định.

Gần như cũng tâm thế đó, thơ haiku của Phan Vũ Khánh có những nét riêng, pha màu hội họa:

  • Ấy da!/ mây vào nhà/ uống rượu ta
  • Đói lòng đêm/ hương chả quyện/ cặp bánh dày
  • Núp cây rơm/ chia thơm củ ấu/ nụ hôn đầu
  • Lơ ngơ tóc bạc/ phố phiêu/ chiều rấp lối
  • Rặng tre xào xạc/ xước cả mặt trời/ chiều chơi vơi
  • Trong lồng ngực/ giọng oanh, yến/ tìm lại quên
  • Lỡ mai rồi/ hoa loa kèn thổi mãi/ điệu kèn thổn thức sao đêm
  • Chim bói cá/ trong đầm/ chuyện về sen

Và, khi minh họa các bài thơ haiku của các thành viên CLB Thơ Haiku Việt, Phan Vũ Khánh đã chọn hoa sen làm nền. Điều đó không chỉ nói lên ý thích của họa sĩ, mà đó còn là sự đồng điệu giữa người vẽ với người làm thơ, cũng chính là thơ và họa cùng đồng hành, cùng “nâng giấc” cho nhau, cùng chung nhau mục đích tôn vẻ đẹp CHÂN-THIỆN-MỸ.

Đường mưu sinh có thể còn chật vật, nhưng nghiệp vẽ đối với Phan Vũ Khánh thì “tung tăng” khắp phố phường. Trong Khánh luôn bề bộn hối hả để theo nhịp mùa đi trên mảnh đất đế đô ngày ngày đổi khác.

C.N.T

Một chiếc mo cau, ta thấy cả khu vườn- Hồ An Thạch

Mo cau rụng

giật mình chim sẻ

ngưng bay

(thơ Haikư Nguyễn Thánh Ngã)

alt

Một chiếc mo cau, ta thấy cả khu vườn. Hàng cau thẳng tắp. Khát gió. Mo cau héo úa, dai dẳng đeo bám chút nhựa cuối cùng. Bầy chim sẻ tíu tít bay về làm tổ.

Chỉ cần một cơn gió mạnh, mo cau đổ xòa...

Chính cái khoảng khắc ấy, chim sẻ vừa bay về, chưa kịp đậu đã bị mo cau rơi trước mặt. Theo phản xạ tự nhiên, nó ngưng lại. Cái thoáng chốc "ngưng lại" ấy, lọt vào mắt nhà thơ...

Vâng, chim sẻ giật mình "ngưng bay", tức đập cánh tại chỗ. Cái khoảng không chim xòe cánh ấy mới đẹp làm sao!

Giờ này âm vang của mo cau cắm phập xuống mặt đất không còn cần thiết nữa. Có chăng, tiếng động ấy khiến cả khu vườn trở nên lặng phắc. Cả vũ trụ ngưng đọng trong đôi cánh chim sẻ. Không ai có tài đếm nổi bao nhiêu nhịp đập cánh trong giây phút ấy. Chú chim sẻ như đứng trên không trong tư thế xòe cánh. Rồi tan mất.

Chỉ còn tiếng lá vẫy gió lao xao...

Bài thơ như một lát cắt mỏng dánh in trong trí não, in vào câu thơ. Mãi mãi. Dùng động từ "ngưng" ở chỗ này quá đắt. Ngưng chứ không phải "ngừng". Giây phút ngừng dài hơn ngưng một cái đập cánh.

Mong manh và thoát tục.

Ai bảo không? Thoát là không dính mắc. Chỉ vậy thôi mà vĩnh cửu, làm nên cú bay vô ảnh. Độc đáo và tràn đầy.

Bài Haiku nhỏ mà có chiều kích của cái không chiều kích. Khoảnh khắc vũ trụ ngưng đọng như một làn hương, vừa tan ra là không thấy nữa.

Vì vậy mà cánh chim trọn vẹn của Nguyễn Thánh Ngã, in trên nền trời thi ca Haiku, lay cảm được lòng người...

H.A.T

Sinh thái thơ- Nhật Chiêu

Bây giờ, trong thời đại phê bình sinh thái (ecoritical age) đọc lại thơ haiku, đặc biệt là Basho, ta cảm thấy như đang thở hít trong một sinh quyển đầy mê diệu. Đó là thứ thơ ca đưa ta vào sâu thẳm thiên nhiên. Không chỉ là thiên nhiên. Đó còn là sinh thái tâm linh, nơi mọi thứ luôn luôn sáng tạo và chuyển hóa, nơi mọi sinh linh bước đi trong ánh sáng của bình đẳng và vô sai biệt, nơi mọi thứ phản chiếu nhau như những hạt châu.

alt

Khi lang thang từ Edo đến bờ biển Suma, Basho nhìn thấy mình như là một hành giả lang thang theo gió, tựa hồ một tấm lụa tả tơi phiêu lãng (một furabo: phong la pháp). Đó là ông tự xếp mình vào hàng ngũ những tâm hồn phong nhã (fuga) như Saigyo của thơ tanka, Sesshu của hội họa, Rikyu của trà đạo và Sogi của thơ renga. Cảm nghiệm đó Basho ghi lại trong tác phẩm Oi no kobun (Cập Chi Tiểu Văn: Ghi nhỏ trong túi hành hương).

Một linh hồn đã hoạt hóa tất cả tác phẩm của những người này. Đó là linh hồn của fuga (phong nhã), kẻ nào ấp ủ nó đều đón nhận thiên nhiên và trở nên người bạn của bốn mùa. Nhìn thấy gì, người ấy đều nhớ đến hoa; nghĩ điều chi người ấy cũng liên tưởng tới trăng. Nếu nhìn vật mà không nhớ hoa là kẻ man rợ, nếu tư tưởng mà không quay về trăng thì có khác chi cầm thú. Thế nên tôi kêu gọi: Hãy vượt qua man rợ mà đón nhận thiên nhiên, quay về với thiên nhiên.

Đoạn văn lộng lẫy mà thâm u này cho thấy cái nhìn hiền minh của Basho về thiên nhiên. Thiên nhiên không phải là một cõi hoang hay cái man dã. Thiên nhiên không đối lập với văn hóa. Chính vì có văn hóa (phong nhã) thì con người mới là bạn tình của thiên nhiên. Hơn nữa, tư tưởng Basho còn sâu hơn những gì mà trích dịch bất toàn trên cho thấy.

Ngay cả bản Anh dịch của học giả Makoto Ueda cũng không thể hiện đầy đủ độ sâu của tư tưởng ấy:

One thing permeates Saigyo’s tanka, Sogi’s linked verse, Sesshu’s painting and Rikyu’s tea ceremony. That is the spirit of the artist who follows nature and befriends the four seasons. Everything he sees becomes a flower, and everything he images turns into a moon. One who does not see the flower is akin to a barbarian, and one who does not imagine the moon is no different from a beast. Leave barbarians and beasts behind. Follow nature and return to nature.”

(Makoto Ueda, MATSUO BASHO, Kodansha, 132)

Chữ “nature” hay “thiên nhiên” thường được dùng trong các bản dịch tiếng Anh và tiếng Việt trong trường hợp này tuy không sai nhưng trong nguyên văn của Basho đó là chữ “zoka” (tạo hóa). Vậy câu cuối có thể là “đón nhận tạo hóa, quay về với tạo hóa” (“follow zoka, return to zoka”).

Bởi chữ “tạo hóa” Basho muốn nói đến cái huyền diệu, huyền bí, tinh tế, thiện xảo, công phu, tài hoa trong sáng tạo và chuyển hóa của tự nhiên (Hồ Xuân Hương: “Khéo khéo bày trò tạo hóa công”).

Do vậy, về với zoka ở đây là về với cái linh thiêng của sáng tạo chứ không phải về với đồng quê hay chốn lâm tuyền để hái cúc, trồng lan ở ẩn mà nêu cao tư cách “quân tử”.

Basho chỉ muốn học cái cách mà thiên nhiên hay sinh thái đã sáng tạo. Như Goethe ở Đức: “Tác phẩm vĩ đại của Nghệ thuật là tác phẩm vĩ đại của Thiên nhiên” (“Great works of Art are works of Nature”).

Thơ ca và nghệ thuật không phản ánh thiên nhiên mà là vận động trong tinh thần sáng tạo của thiên nhiên.

Họa sĩ kỳ tài Paul Klee trong thế kỷ hai mươi trong tinh thần đó mà nói với một người bạn đang dạy nghệ thuật:

Hãy dẫn sinh viên đến Thiên nhiên, vào trong Thiên nhiên! Để họ học cảm nghiệm một nụ hoa hiện thành thế nào, một cái cây mọc thế nào, một con bướm mở cánh thế nào, làm sao cho các bạn ấy sẽ trở nên giàu có, biến đổi, hào hứng như bản thân Thiên nhiên. Đón nhận đường lối sáng tạo tự nhiên mà biến tạo hình thức. Đó là trường học tuyệt nhất.

(“Lead your students to Nature, into Nature! Let them learn by experience how a bud is formed, how a tree grows, how a butterfly opens its wings, so that they will become as rich, as variable, as capricious as Nature herself. Follow the ways of natural creation, the becoming, the functioning of forms. That is the best school”).

Đối với nhà thơ Basho cũng như họa sĩ Klee, phải là văn hóa mới có thể là thiên nhiên, rất khác với quan niệm nhị đối thường có giữa thiên nhiên và văn hóa, cũng như thiên nhiên và con người.

Phê bình sinh thái (Ecoriticism) đương nhiên đồng tình với Basho và Klee và dị ứng với quan niệm con người tìm hiểu lửa, nước, không khí, tinh tú, bầu trời, môi trường để trở nên “làm chủ và sở hữu thiên nhiên” kiểu Descartes.

Con người dường như không muốn hiểu rằng Thiên nhiên làm ra con người chứ làm gì có con người làm ra Thiên nhiên. Và chỉ có thể con người cần Thiên nhiên chứ Thiên nhiên cần chi con người?

Như cuồng, con người kiêu ngạo tự cho rằng mình đang chinh phục thiên nhiên. Chỉ là vô minh và tội nghiệp!

Thiên nhiên là một thế giới tương tùy và tùy duyên mà sinh khởi, trong đó bất kỳ một sinh thể nào cũng nương tựa vào những sinh thể khác, không có chi ngoại lệ, kể cả con người cuồng ngạo nhất.

Tư tưởng Phật giáo cũng như sinh thái nhìn thấy không có gì là một mình.

Thử đọc bài thơ này của Basho:

Con bướm

một mình bay trên đồng

trong nắng

(chou no tobu

bakari nonaka no

hikage kana)

Một mình (bakari: chỉ có, lẻ có) ở đây không phải là một mình hiện hữu mà là “một mình với”. Với cánh đồng, với ánh nắng. Có thể nói con bướm bay “với” không gian (cánh đồng) và ánh sáng (nắng). Và chỉ có bướm mới biết cánh đồng cần cho bướm thế nào cũng như nắng cần cho bướm thế nào. Học theo bướm, học theo thiên nhiên, Basho cũng dần dà có cái nhìn của bướm.

Nguyễn Trãi trước nhiều thế kỷ cũng đã có cái nhìn hiền minh này:

Lẻ có chim bay cùng cá nhảy

Mới hay kìa nước nọ hư không

Chỉ có chim và cá mới biết nước thế nào, hư không thế nào. Biết ở đây là sống. Chỉ có con người mới thường tách “kiến thức” ra khỏi hiện sinh, và đôi khi đối lập nữa!

Như trong Shobogenzo (Chánh Pháp Nhãn Tạng), thiền sư Dogen nói:

Từ nước cá làm nên đời sống của mình, và từ trời chim cũng thế. Đời sống ấy chim cá làm ra. Đồng thời đời sống làm ra chim cá. Bởi thế, cá, nước và đời sống, cả ba sáng tạo lẫn nhau.”

(Bản Anh dịch trích theo A. Watts trong The Way of Zen:

From the water the fish makes his life, and from the sky, the bird. But this life is made by the bird and the fish. At the same time, the bird and fish are made by life. Thus there are the fish, the water, and life, and all three create each other.”)

Cái quan trọng là mọi hiện tượng đời sống sáng tạo lẫn nhau, chứ không có ưu quyền đặc lợi cho riêng cái nào. Đất và trời tương phản mà tương hợp:

Đất trời

rung chuyển cùng hơi thở

bày trận tuyết rơi

(ame-tsuchi no

iki aite hagheshi

yuki furasu – SETSUKO)

Nhà thơ nữ Nozawa Setsuko (sinh năm 1920) nói rằng đất và trời cùng hợp hơi thở (iki) lại. Cũng như thế, ta và cây, ta và mọi sinh thể khác.

Như lời trong sách Thái Căn Đàm: “Nếu chân tính của ta có sức mạnh sáng tạo của bản thân Thiên nhiên thì dù cho đi đâu, ta đều thấy cá nhảy và nhạn bay”.

Đất, trời, cây, bướm, chim, cá... và ta thở cùng hơi thở, tương tùy, tương duyên, tương hợp, tương tức... Và trong im lặng của thiên nhiên, ta càng thấy rõ điều đó:

Im lặng

cả khách lẫn chủ nhà

cùng hoa cúc trắng

(mono-iwazu

kyaku to teishu to

shira-giku to – RYOTA)

Có cái gì trong thiên nhiên mà không sáng tạo và chuyển hóa, kể cả giọt sương, đá và kim cương; tất cả đều ở trạng thái sống.

Kim cương

trên tảng đá

một giọt sương

(kongou no

tsuyu hito-tsubu ya

shi no ue – BOSHA)

Đó là sinh thái thơ.

N.C

Cách dùng Kigo (Quý ngữ) trong thơ Haiku Nhật Bản

alt

1. Đặt vấn đề

Thể thơ haiku Nhật Bản được Matsuo Basho, Yosa Buson và Kobayasi Issa làm cho trở thành tuyệt mĩ là một trong những thể thơ ngắn nhất thế giới, gồm mười bảy âm tiết, có thể được viết trên giấy thành những bức họa theo nghệ thuật thư pháp hoặc đề vào những bức tranh cổ. Nhưng điểm quan trọng là tâm thái người làm thơ và những gì ẩn chứa phía sau sự tối giản đến kinh ngạc của mười bảy âm tiết ấy. Việc thưởng thức thơ haiku đòi hỏi người đọc phải liên tưởng, tưởng tượng, phải hòa nhập được vào dòng sông đang trôi chảy của đời sống và cùng sáng tạo với người nghệ sĩ thì mới có thể cảm nhận được giá trị thẩm mĩ và ý nghĩa của đời sống ẩn chìm trong đó. Một trong những tín hiệu thẩm mĩ độc đáo của thơ haiku là kigo.Hiểu được kigo và cách dùng kigo sẽ giúp người đọc có khả năng thâm nhập được vào thế giới sâu thẳm của thơ haiku.

2. Cách dùng kigo (quý ngữ) trong thơ haiku

2.1. Kigo và những quy ước trong cách dùng

Kigo là quý ngữ, là từ chỉ mùatrong thơ haiku Nhật Bản. Nói cách khác, tất cả những từ ngữ liên hệ đến mùa đều được gọi là kigo. Thời gian được miêu tả trong thơ haiku chủ yếu là thời gian hiện tại, thời gian sinh hoạt. Đó là thời gian của vũ trụ tự nhiên: nước chảy, mây trôi, hoa nở, chim hót, ngọn đồi phủ sương... Đó là thời gian xảy ra sự kiện hoặc thời gian hoạt động của sự vật và con người trong thời điểm hiện tại. Và thời gian hiện tại đó luôn gắn với bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông của xứ sở mặt trời mọc. Haiku là thể thơ không đòi hỏi chặt chẽ về vần, niêm luật, bằng trắc hay đối nhau, nhưng nó có những quy định riêng về kigo: Một bài haiku phải có kigo (phải có từ chỉ mùa).

Yếu tố "mùa" là yếu tố khá quan trọng trong thơ haiku.Các nhà thơ haiku hầu như lúc nào cũng đưa mùa vào thơ. Bốn mùa qua đi đều để lại cho haiku một dấu chân nào đấy, có khi là bóng hoa anh đào, có khi là những cơn mưa hay chiếc lá phong chuyển sang sắc đỏ...

Khí hậu của Nhật Bản khá phức tạp. Nhiệt độ trung bình hàng năm của Nhật Bản khoảng 14,6 độ c, tuy nhiên, khí hậu ở các vùng khác nhau khá rõ do hình dáng thon dài của nước Nhật. Ngay ngày nở của hoa anh đào ở các vùng khác nhau của Nhật Bản cũng khác nhau. Hoa anh đào là quốc hoa, là biểu tượng của nước Nhật, nở vào mùa xuân, có màu trắng và màu phớt hồng, rất đẹp. Khi nở rộ, hoa anh đào giống như áng mây trắng hoặc hồng, bồng bềnh trong sương khói, rất lãng mạn, chỉ cần một cơn gió thổi qua là những cánh hoa thi nhau rụng xuống, phủ kín mặt đất tạo nên một thảm hoa tuyệt đẹp. Hoa anh đào rơi ngay khi còn tươi rói, một cái đẹp mong manh, gợi cảm. Người Nhật thường chờ đón ngày hoa anh đào nở với một niềm háo hức lạ lùng và vô tuyến truyền hình thường đưa tin ngày bông hoa anh đào đầu tiên nở ở các vùng trên đất nước. Mặc dù vậy, khí hậu của Nhật vẫn có bốn mùa rõ rệt: xuân. hạ, thu, đông. Mùa đông ở Nhật khá lạnh và trên thực tế thì cái lạnh bắt đầu ngay từ cuối mùa thu. Ở Tokyo, mùa đông thỉnh thoảng tuyết có rơi nhưng không nhiều. Mùa hè ở Nhật khá nóng và ẩm, mưa nhiều. Mùa xuân và mùa thu là hai mùa đẹp nhất trong năm. Nhật Bản cũng có rất nhiều lễ hội gắn với các mùa trong năm: lễ hội mừng năm mới, lễ tiết phân, lễ tảo mộ, lễ hội vu lan, lễ hội mùa hạ, lễ hội nông nghiệp, lễ hội Tanahata...

Các nhà thơ haiku luôn có ý thức đưa mùa vào thơ. Trong thơ haiku, yếu tố mùa rất quan trọng tuy với thời gian nó bớt đi sự quan trọng quyết định của buổi đầu. Bài haiku thường có một chữ liên quan đến mùa ở ngay câu đầu hoặc một câu nào đó trong bài. Nó có thể suy diễn từ khí hậu nóng, lạnh, ngày dài hay ngắn, thời tiết, địa lý đến tên chùa chiền, quần áo, lễ hội, các loại cây cối, chim chóc, hoa cỏ...

Cách dùng kigo có những quy ước nhất định, những quy ước này giúp nhà thơ tiết kiệm được chữ dùng trong việc thông tin trong thơ mà vẫn chuyển tải được đúng ý đồ của người nghệ sĩ sáng tạo tới bạn đọc. Khi nói "trăng" (tsuki) thông thường thì phải hiểu là trăng tròn mùa thu, nếu không, phải nói cụ thể, chính xác hơn nữa như oborozuki (trăng mờ mùa xuân) hay kangetsu (trăng lạnh mùa đông). Nói "hoa" (hana) phải hiểu là hoa anh đào, chỉ mùa xuân; nói “gặt lúa mạch” để chỉ mùa đông... Ví dụ:

Một đám mây hoa

Chuông đền Ueno vang vọng

Hay đền Asakusa.

Khi đọc bài thơ này của Basho, người Nhật hiểu ngay ông đang nhắc đến tiếng chuông mùa xuân, vì “một đám mây hoa” (Hana no kumo) chỉ hoa anh đào đang nở rộ, đó là biểu tượng của mùa xuân, là “từ chỉ mùa” – một quy ước của người Nhật trong sáng tạo thơ haiku.

Những từ chỉ mùa rất thông dụng trong thơ haiku. Trong thơ ca Nhật Bản nói chung, kể cả tanka hay haiku, thiên nhiên đóng một vai trò rất quan trọng, như một kỹ thuật, như một quy ước trong sáng tác, trong nghệ thuật giữa tác phẩm với bạn đọc. Nắm được quy ước này người đọc mới có thể hiểu được bài thơ. Lòng yêu thích thiên nhiên và sự nhạy cảm của người Nhật đối với thời tiết là một điều dễ nhận thấy trong tâm hồn người Nhật. Những quy ước về mùa có làm phong phú nội dung thơ ca nhưng một mặt nó cũng tạo ra những câu thúc và khuôn sáo.

Những từ chỉ mùa rất phong phú trong thơ haiku. Sau đây là một số loài động vật và thực vật thông dụng trong thơ haiku, vì haiku còn nói đến nhiều giống chỉ sống ở vùng ôn đới và đôi khi chỉ sống ở Nhật Bản:

Mùa xuân (tháng giêng đến tháng ba âm lịch):

Thực vật: Mơ (ume), lan tím (sumire), anh đào (Sakura), hải đường (tsubaki), lê (nashi), tử đằng (fuji), đào (momo), liễu (yanagi), hồng vàng (yamabuki), ngải cứu (yomogi), cây đuôi chồn (waraki).

Động vật: Chim oanh (uguisu), cú (tsubakurame), sơn ca (hibari), ong (hachi), ếch (kawazu), tằm (kaiko), bướm (cho), sẻ con (susume no ko).

Vụ mùa: Ngày dài (hinaga), đêm 88 (hachijuhachiya) để chỉ mùa hái trà, tiết xuân (haruoshimu), vãn xuân (yukuharu).

Thiên văn - Địa lý: trăng mờ sương (oborozuki), tuyết tan (yukidoke), sương lam (kasumi).

Sinh hoạt - hội hè: Bánh nếp bọc lá (kusamochi), diều (tako), vỡ ruộng (hatakeuchi), ngắt lá chè (chatsumi)...

Mùa hè (tháng tư đến tháng sáu âm lịch):

Thực vật: Hoa xương bồ (ayame), hoa diên vĩ (kakitssubata), hoa sơn chi (kuchinasshi), sen (hachisu), kim tước chi (hahakigi), mẫu đơn (botan), hoa lưu ly thảo (wasurenagusa).

Động vật: Chim bói cá (u), gà nước (kuina), cò (sagi), cuốc (hototogisu), đom đóm (hotaru), kiến (ari), muỗi (ka), cá hương (ayu), ve (semu), cá vàng (kingyo).

Vụ mùa: Đêm vắn (mijikayo), đầu mùa mưa hè (nyuubai), cái nóng (atsusa), kề thu (akichikashi).

Thiên văn - Địa lý: Sấm (kaminari), mống trời (niji), mưa rào (yuudachi).

Sinh hoạt - hội hè: Gặt lúa mạch (mugikari), áo mát (yukata), mùng (kaya), cấy lúa (taue)...

Mùa thu (tháng bảy đến tháng chín âm lịch):

Thực vật: Lau sậy (ashi), cúc (kiku), chuối (basho), lau già (ogi), quả hồng (kaki).

Động vật: Chuồn chuồn (kagero), dế mèn (kirigirisu), dế tùng (matsumushi), chim cút (uzura), ngỗng trời (kari), chim "cát" (sandpiper, shigi), hải âu (miyakodori), gà gô (yamadori).

Vụ mùa: Đêm lạnh (yosamu), hơi nóng còn sót (zansho), trung thu (chuushuu).

Thiên văn - Địa lý: Sông ngân (Amanokawa), chớp nháng (inazuma), trăng (tsuki), sương thu (kiri), tiếng thu (aki no koe).

Sinh hoạt - Hội hè: Thất tịch (tanabata), chày (kinuta), ngắm trăng (tsukimi), tảo mộ (hakamairi), được mùa (honen)...

Mùa đông (tháng mười đến tháng chạp âm lịch):

Thực vật: Tầm gửi (yodoriki), lá rụng (ochiba), hành (negi), thủy tiên (suisen), sơn trà (sazanka), củ cải trắng (daikon).

Động vật: Vịt trời (kamo), chim óc cau (chidori), hạc (tsuru), thỏ (usagi), sò (kaki), một loại chim cú (mimizuku).

Vụ mùa: Lập đông (ritto), cuối năm (toshi no kure), trừ tịch (oomisoka).

Thiên văn - Địa lý: Đồng khô lá (kareno), sương giá (shimo), lửa ma trơi (kitsunebi), tuyết đầu mùa (hatsuyuki).

Sinh hoạt - Hội hè: Tất (tabi), ho (seki), nệm (futon), đốt than (sumiyaki), quét bồ hóng (susuhaki)...

2.2. Các nhà thơ haiku có khi dùng kigo qua các hình ảnh chỉ mùa, cũng có khi dùng kigo trực tiếp - nói rõ là mùa nào

Mùa trong thơ haiku có khi thể hiện qua các hình ảnh chỉ mùa:

Fuku tabi ni

cho no inaoru

yanagi bana.

(Trên cành liễu nghiêng/con bướm đổi chỗ/mỗi lần gió lên). (M. Basho)

Basho đã dùng kigo: cho (bướm), yanagi (liễu) để chỉ mùa xuân. Dùng kigo như vậy giúp người đọc có thể thấy được không gian mùa xuân tươi đẹp, lãng mạn với hình ảnh rực rỡ sắc màu của bướm bên cành liễu đang đâm chồi nảy lộc xanh mướt trong làn gió nhẹ và tiết xuân mát dịu… đúng như ý đồ sáng tạo của người nghệ sĩ mà ông vẫn tiết kiệm được từ ngữ, không cần phải miêu tả cụ thể.

Bài thơ sau dùng kigo chỉ mùa đông qua hình ảnh tuyết (yuki):

Futari mishi

yuki wa kotoshi mo

furikeru ka.

(Đã rơi năm nào/ tuyết mà ta ngắm/ bây giờ lại rơi). (M. Basho)

Nhiều bài thơ nói đến tháng, qua đó ta thấy mùa:

Mưa tháng năm rơi

Và những con ếch

Bơi đến cửa nhà tôi. (Sanpu)

Trong bài thơ này Sanpu miêu tả cơn mưa mùa hè.

Ở những ví dụ trên, tác giả đã dùng kigo qua các hình ảnh chỉ mùa, còn nhiều bài thơ khác tác giả dùng kigo trực tiếp - nói rõ là mùa nào. Ví dụ:

Mùa xuân đến rồi

vô danh ngọn đồi ấy

sáng nay khoác áo sương mù. (M. Basho)

hay: Gió mùa thu

làm sao em bé hái

hoa tím bây giờ! (K. Issa)

2.3. Kigo thường nằm ở câu đầu bài haiku

Hototogisu

naku ya goshaku no

ayamegusa.

(Vang tiếng chim cu/ và lá diên vĩ/ vươn năm bộ cao). (M. Basho)

Hototogisu là chim cu (chim đỗ quyên), loài chim báo hiệu mùa hè.Đây là quý ngữ chỉ mùa hè.

Tuy nhiên, cũng có một số bài kigo nằm ở câu hai hoặc câu ba:

Moro moro no

kokoro yanagi ni

makasubeshi.

(Trao cho cây liễu/ mọi niềm ước vọng/ mọi điều chán chê). (M. Basho)

Kigo: cây liễu (yanagi) nằm ở câu thơ thứ hai chỉ mùa xuân - loại này ít gặp nhất.

Na batakeni

hanami gao

naru suzume kana

(Trong đồng rau cải/ trăm mắt ngắm hoa/ một bầy chim sẻ). (M. Basho)

Kigo: chim sẻ (suzume) ở câu ba chỉ mùa xuân.

Có khi kigo ở cả câu hai và câu ba:

Fuku tabi ni

chô no inaoru

yanagi kana.

(Trên cành liễu nghiêng/ con bướm đổi chỗ/ mỗi lần gió lên). (M. Basho)

Kigo: bướm (chô) nằm ở câu hai và liễu (yanagi) nằm ở câu ba đều chỉ mùa xuân.

3. Kết luận

Cách dùng kigo có những quy ước nhất định, những quy ước này giúp nhà thơ tiết kiệm được chữ dùng trong việc thông tin trong thơ mà vẫn chuyển tải được đúng ý đồ của người nghệ sĩ sáng tạo tới bạn đọc, đồng thời giúp người đọc hiểu được điều tác giả muốn nói, thấy được giá trị thẩm mĩ sâu sắc của bài thơ. Các nhà thơ haiku có khi dùng kigo qua các hình ảnh chỉ mùa, cũng có khi dùng kigo trực tiếp - nói rõ là mùa nào. Thông thường kigo nằm ở câu đầu bài haiku, có khi nằm ở câu hai hoặc câu ba. Ở Nhật, cách dùng kigo đã trở thành quy luật và hầu như các tuyển tập thơ haiku đều quen sắp xếp các bài thơ theo từng mùa. Các hình ảnh về mùa cho thấy quan hệ của con người với thiên nhiên, với đất trời, tạo thành một thể thống nhất chặt chẽ, tương thông, lí tưởng: thời gian – không gian – con người.

ThS. Hà Thị Hải

(Lê Thị Bình gửi đăng)

Thơ Haiku trong cõi thơ Việt- Nhật Chiêu

Thơ Haiku tuyệt ngắn, ca dao trong hình thức lục bát hai câu cũng rất ngắn. Cả hai thể thơ này (Haiku và lục bát) đều thích ca hát về cái bình thường chứ không phải những đại tự sự. Cả hai đều long lanh những hình ảnh của cỏ hoa vô thường chứ không phải những thần tượng bất tử. Và cả hai đều ca hát bằng giọng điệu nhỏ nhẹ thanh thoát với một tâm hồn bình dị (bình thường tâm).

alt

Cả hai đều không ca tụng quyền lực hay danh vọng. Chỉ ca ngợi thiên nhiên với trăng, hoa, mây, núi, cỏ dại, đom đóm, côn trùng, nắng sớm mưa chiều… Thế thôi.

Cả hai đều biết rằng con người vừa hướng vọng “cái thiêng” nhưng cũng ham mê “cái phàm”. Tâm hồn con người vừa muốn đi tới bờ bên kia lại vừa muốn giữ lấy bờ bên này. Tâm hồn ấy thường rất trẻ dại, trẻ thơ, trẻ mãi.

Thể hiện điều đó, thơ Haiku nói như sau:

ちょうちょうや・巡礼の子・遅れ勝ち

Chôchô ya- Mê bướm

junrei no ko- đứa bé hành hương

okure ga chi- lùi lại cuối đường

SHIKI

Đứa bé thì ngây thơ, chỉ thích chơi. Với bướm, với hoa, với dế… Hành hương thì từ từ cũng được, vội gì! Không phải chỉ “đứa bé” mà nhiều người lớn cũng “bé” như thế, thật mà! Lục bát hai câu thì nói như thế này:

Đêm rằm nghe vạc trở canh

Nghe sư gõ mõ nghe anh dỗ nàng

Ca dao Việt Nam

Để các bạn Nhật dễ nắm bắt ý tứ, thử mạo muội sắp xếp bài lục bát này theo hình thức Haiku xem sao:

Tiếng vạc trở canh

nghe sư gõ mõ

nghe anh dỗ nàng

Tiếng vạc kêu như đẩy thời gian vào canh thâu, vào đêm thiêng khi hòa với nó là tiếng gõ mõ tụng kinh từ ngôi chùa nào đó nhắc nhở rằng đời là một cuộc hành hương. Thế nhưng “anh” thì đang làm gì? A, anh đang “dỗ” nàng, dỗ, từ này mới tuyệt diệu làm sao. Nó có lắm nghĩa. Ví dụ, anh muốn lôi cuốn nàng vào cực lạc ngay giữa đêm đời này, ngay tại đây. Và tiếng gõ mõ sẽ là nhịp điệu thiêng liêng hòa với nhịp điệu trần thế giao hoan. Khi Haiku nói về cô đơn của tình yêu thì:

芙蓉咲いて・古い池の鷺・やもめなり

Fuyou saite- Phù dung nở

Furuike no sagi- cái vạc cô đơn

Yamome nari- bên đầm nước cũ

SHIKI

“Cái vạc cô đơn” trong nguyên ý là cái vạc góa phụ (sagi yamome nari), cái vạc còn lại một mình bên bờ ao cũ khi bạn tình đã ra đi mà đời thì vẫn nở rộ phù dung.

Lục bát hai câu thì nói:

Ai như con nhạn bơ phờ

Sớm ăn tối đậu cành tơ một mình

Ca dao Việt Nam

Phải, con nhạn ấy cũng chỉ một mình và xơ xác, buồn phiền. Mà cành đời thì vẫn cứ “tơ” cứ chồi xanh lộc biếc.

Qua đó, có thể thấy Haiku và lục bát có thể bắt nhịp với nhau, hòa âm với nhau.

Cả hai đều nhỏ như những giọt sương. Mà có thể phản ánh bao nhiêu là tia nắng của thiên nhiên và tình.

N.C

Một bài thơ rất trẻ thơ- Cao Ngọc Thắng

Trong mảng thơ haiku của haijin Lê Đình Công, tôi rất thích các bài ông viết về/cho thiếu nhi. Thông thường, thơ viết về/cho thiếu nhi là rất khó, mặc dù bất kể ai cũng đã từng trải qua và chất đầy ký ức về tuổi thiếu thời. Trở lại với tuổi thơ bằng văn chương dường như có sự ngăn cách khó vượt qua, bởi rất nhiều lý do, trong đó có cả lý do tâm lý. Vậy mà, không chỉ ở các thể thơ thuần Việt (lục bát, bốn chữ, năm chữ), Lê Đình Công “dám” thể hiện tâm tình con trẻ bằng thể thơ haiku, thể thơ được người Việp tiếp nhận thành phong trào chưa lâu.

alt

Bài sau đây mới dừng lại ở sự quan sát trực diện của người ngoài cuộc (hoặc sau khi sự kiện đã kết thúc)

Chị em giành nhau/ một món đồ chơi/ mẹ rơi nước mắt

Hay:

Vườn nội lắm ổi/ quả chín thơm vàng/ chào mào ríu ran

cũng vẫn là cảm xúc tức thời, nhưng đã bắt đầu có cái nhìn tươi trẻ. Cái nhìn ấy chuyển sang cái cảm từ ngoại cảnh dần đi vào hành động:

Gà gọi mặt trời/ chim chích học bài/ mình đến trường thôi

“Chim chích học bài” tuy được nhân cách hóa, song cái “hành động” này dẫn đến việc “đến trường” có vẻ khiên cưỡng; có thể dùng “hành động” khác cho tự nhiên hơn, để câu kết có được sự bất ngờ cần thiết.

Nhưng:

Bà nội đã già/ em thương bà quá/ chẳng được đi chơi

là rất thơ ngây, đúng tâm trạng của trẻ. Nào, ai có thể khẳng định việc “chẳng được đi chơi” là nhân vật nào, bà hay cháu? Cái lửng lơ ấy thật đáng yêu. Cũng không thể bảo bà già rồi thì chẳng đi chơi nữa. Trong ý thức còn non nớt, việc đi chơi đối với con trẻ là một nhu cầu, một nguyện vọng chính đáng. Vì thương bà nên “nó” không nỡ để bà ở nhà một mình, nhưng vẫn thèm đi chơi lắm; hay “nó” muốn bà cùng đi chơi cùng nhưng không thể được. Cài lòng thương của trẻ xuất phát tự bên trong mà vẫn bị dằn vặt. Đó cũng coi là một hy sinh ham muốn của trẻ.

Bài thơ trên đây của Lê Đình Công gieo vào người đọc những liên tưởng thú vị, làm sống dậy nhiều kỷ niệm của thời niên thiếu.

CNT

Thơ Haiku và những bờ bến mở- Nhật Chiêu

Thơ haiku tự bản chất là loại thơ ca không bờ cõi, mở cho tất cả mọi người, mọi xứ và mở cho tất cả mọi đề tài, mọi phong cách, mọi ngôn ngữ, ngoài ra nó còn vượt qua cái biện chứng gọi là nhã / tục (beyond the ga / zoku dialectic) kể từ khi Bashō du hành với thơ haiku.

alt

Do đó, thơ haiku dễ dàng hòa nhập với mọi nền văn hóa, cả Đông lẫn Tây. Ở Việt Nam hiện nay, đón nhận và sáng tác thơ haiku đã trở nên một trào lưu.

Khi viết về haiku, nhà thơ lỗi lạc Octavio Paz xứ Mexico cho rằng nghệ thuật thơ haiku cũng giống như vườn đá ở chùa Ryōanji lừng danh, “nó mời ta tái sắp đặt vườn đá ấy và mở ra cho chúng ta những cánh cửa tham chiếu.” (the garden of Ryōanji… invites us to reorganize it and opens to us the doors of participation.)

Bản thân Octavio Paz (giải Nobel văn chương 1990) từng dịch Bashō cũng như từng sáng tác thơ haiku. Đây là một bài haiku tuyệt diệu của ông:

Ngày mở bàn tay

bay ra ba áng mây

và những lời thơ này

( The day opens its hand

three clouds

and these few words )

Thơ haiku thường nói bằng những hình ảnh trong vắt như thế mà lại đầy gợi mở và cuốn hút ta vào một thế giới như mới vừa được sáng tạo. Đấy là bàn tay của ai? NGÀY (the day) nhưng ngày vừa có thể là khoảnh khắc vừa có thể là vĩnh cửu, trong đó mây được sáng tạo và thơ được sáng tạo.

Nếu như Bashō biết được có “ngày” trên thế giới, người ta làm thơ haiku như thế này thì tôi tin ông sẽ hoan hỷ vô cùng!

Cũng có nhiều nhà thơ lớn khác bên ngoài Nhật Bản sáng tác thơ haiku trên một tầm cao, như Tomas Tranströmer xứ Thụy Điển (giải Nobel văn chương 2011). Và bài thơ của ông cũng liên quan đến những hình ảnh “mở”:

Nhà, đường sá, bầu trời

và núi đồi, vịnh đá

mở toang cửa sổ rồi

( Houses, roads, skies,

fjords, mountains

have opened their windows )

Những cánh cửa của Paz cũng như của Tranströmer đều mở như chính linh hồn thơ haiku. Ở đấy, những hình ảnh nhân tạo và thiên nhiên hòa lẫn vào nhau, vô sai biệt. Nhà và đường phố có cửa để mở nhưng cả núi, vịnh đá và bầu trời cũng có những ô cửa sổ để mở. Tâm hồn con người cũng có những ô cửa như thế, mở và nhìn ra bốn phương.

Ở Việt Nam, một câu thơ Kiều đôi khi có thể sắp xếp (tái sắp xếp) theo hình thức một bài haiku:

Cửa trời

rộng mở

đường mây

Khi ta sắp xếp như thế, đưa câu thơ ra khỏi văn bản Truyện Kiều, cho đứng độc lập lối này, nó bỗng khơi gợi nhiều ý nghĩa mới bất ngờ. Trời mở cửa, ngày mở cửa và mây bắt đầu lên đường, bắt đầu phiêu du, tự sáng tạo con đường và hình thể của chính mình. Đây cũng là một cách tập Kiều.

Thơ ca là cánh cửa của tâm linh. Nhưng tâm linh ở đây không mang tính siêu hình gì cả vì cánh cửa ấy gắn liền với đời sống mỗi ngày.

Với số từ ít ỏi, một bài haiku đọc lên nghe như một dư âm, một tiếng vang. Thế mà ở Nhật, trong thế kỷ hai mươi, thà thơ Santōka đôi khi rút gọn thể haiku truyền thống 17 âm tiết thành một câu tuyệt ngắn, như bài sau đây chỉ có đúng 7 âm:

Oto wa shigure ka

Âm vang ấy là mưa thu chăng?

Âm vang ấy, tiếng ấy có thể là sấm mùa thu đi trước mưa rào mà cũng có thể không, ai biết được? Đó có thể là thứ âm thanh có thể sáng tạo ra mưa thu hoặc là một thứ âm thanh vô nghĩa nhưng ai biết “vô nghĩa” là gì? Có một âm thanh từ xa và nó đang đến với ta, đem đến hy vọng hoặc u buồn. Có một âm thanh như thế mỗi ngày nếu ta chịu lắng nghe, thế thôi. Bài haiku chỉ có 7 âm tiết ấy cũng là một âm vang báo biểu thơ haiku có thể hóa thân thành nhiều dạng thể khác nhau.

Vì thơ ca là sáng tạo.

haiku là thơ của những ô cửa mới, thơ của những bờ bến mở.

NC

Thiên nhiên trong Haiku Việt- Cao Ngọc Thắng

Theo haikuviet.com ngày 2/11/2017, năm nay CLB Haiku Việt Hà Nội có 10 thành viên gửi thơ, mỗi người một chùm 5 bài, gia nhập WHA. Đây là những hội viên đã có “thâm niên” sáng tác thơ haiku và một số đã từng có thơ đăng trên tạp chí của WHA những số trước đây, như Đinh Nhật Hạnh, Lý Viễn Giao, Nguyễn Thị Kim, Nguyễn Hoàng Lâm, Lê Văn Truyền, Nguyễn Thị Mai Liên. Năm nay, các haijin Việt chọn trong số những sáng tới mới nhất của mình, thể hiện chiều sâu trong cách chọn đề tài, cách cảm nhận và biểu hiện sự khoáng đạt một cách nhuần nhị, tinh tế và đậm sắc thái, tâm hồn Việt có sức lan tỏa rộng và hội nhập sâu vào haiku thế giới.

alt

Đã ở cái tuổi tám mươi, haijin Phan Hữu Cường vẫn có tâm hồn rất trẻ trung, dụ được bướm theo chân mình:

Nước hoa tóc anh / cảm mùi hương lạ / bướm theo về nhà

Cả khúc thơ là một ẩn dụ về sức hút của tình yêu. Người ta nói: gái yêu bằng tai, trai yêu bằng mắt, chứ nào ai lại cảm nhau bằng vị, bằng mùi (?). Nếu loài bướm thật sự như trong thơ Phan Hữu Cường, thì chúng đã bỏ đồng quê đầy hoa thơm cỏ lạ để kéo vào những đô thị cơ man những loại nước hoa đắt tiền của các hãng nổi tiếng trên thế giới (!). Vả lại, nam giới ít dùng nước hoa hơn phái đẹp. Chính cái “nghịch” này khiến bài thơ lộ ra tình ý của thi sĩ, rằng: không phải nước hoa đâu, mà là sự “mới” ở mỗi con người làm nên hương lạ khiến đồng loại khác giới phải chú ý, phải theo bước anh ta, chưa hẳn là về nhà… Chữ thơ có vẻ làm điệu một chút, cố tình giấu đi ý thơ hàm ẩn nội dung khác, từ đó bật ra tứ thơ lạ!

Ngược lại, haijin Minh Trí, ở tuổi còn nhiều sức bật, hướng tới “địa phận” của sự đúc rút những chặng đường đã trải qua:

Đông về / thuyền neo bến / ngẫm ngợi hành trình qua

Sự neo bến của con thuyền là hình ảnh chấm dứt một chuyến đi đầy sóng gió. Hơn nữa, lại vào mùa đông – mùa cuối trong một năm, cũng là bước vào đoạn cuối của đời người. Việc ngẫm ngợi, theo trình tự, là điều tự nhiên dù là người vô tâm vô tính đến đâu. Đó là sự lo xa cho những chặng đường tiếp theo. Cái được và chưa được ở mỗi hành trình đều là những bài học kinh nghiệm có ích, cũng đều là động lực thúc đẩy những phẩm chất tốt đẹp ngày tốt đẹp hơn, điều chỉnh sự nghĩ suy và hành động chưa thật sự phù hợp đi vào quỹ đạo. Nhà thơ không chỉ nói cho riêng mình là vậy.

Thiêu thân là loài côn trùng, hễ thấy ánh sáng là lao vào một cách mù quáng, bất chấp cả cái chết. Người ta ví thiêu thân là xác chết. Haijin Nguyễn Thánh Ngã có cách nhìn khá độc đáo về con thiêu thân:

Sau cái chết / con thiêu thân sống lại / trước ánh đèn

Một xác chết sống lại trước ánh đèn! Cái chết thực của con thiêu thân chỉ khi nó lao đầu vào cái đèn đang tỏa sáng. Ánh sáng của cây đèn đã rọi chiếu vào hình ảnh rẫy chết của con thiêu thân, trước khi nó gục xuống. Sự sống ấy thật ngắn ngủi và điêu tàn, chỉ có ánh đèn mới tỏ tường được. Trong cuộc sống vị vật chất, ham hố tiền, địa vị, không ít kẻ có cuộc sống như con thiêu thân. Đức Phật khuyên con người buông bỏ tham-sân-si, nhưng lòng tham khiến không ít kẻ mù quáng, lao đầu vào những dục vọng để gánh lấy những món nợ đời liên miên, không còn khả năng thanh toán. Rõ ràng, giáo lý nhà Phật luôn luôn đem lại chân-thiện-mỹ, song việc thực hành ở con người khó đi đến nơi, đến chốn cũng chỉ vì không tự thân thoát khỏi sự tung hoành quấy đảo, phỉnh lừa của bọn lục súc

Nữ haijin Nguyễn Thị Kim biểu cảm sự quan sát rất thật mà cũng rất tinh tế:

Bông sen rời cuống / tơ vương / ánh chiều

Bông sen rời cuống mà để lại những sợi tơ là có sự tác động bên ngoài, có thể do người bẻ/ngắt. Hình ảnh tơ vương rõ ràng là ngược sáng. Ánh chiều tà hắt ngược mới tạo nên vẻ đẹp ngời sáng, lung linh lên những sợi tơ óng mượt, chứ buổi sáng hay buổi trưa không tạo được hiệu quả ánh sáng như vậy.

Hãy đọc phiến khúc haiku dưới đây của haijin Phùng Gia Viên một cách ngẫm ngợi:

Chiếc lá rơi / thời gian / thành góa bụa

Ba hình ảnh rất xa cách mà lại cụm vào thành tứ thơ. Sự góa bụa này dành cho chiếc lá hay dành cho thời gian? Không, không dành cho cái cụ thể nào cả, mà dành cho mối liên hệ, quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng trong thiên nhiên, trong xã hội, vừa thực vừa ảo, vừa có vừa không, vừa cụ thể vừa trừu tượng. Chiếc lá thuộc cây, rơi khỏi cây, mà cây chẳng đoái hoài. Thời gian là ngày-đêm, là bốn mùa, là năm tháng. Lá lìa cành cũng thể hiện thời gian, thời gian của sự luân chuyển có sinh có diệt. Vậy, thời gian là nguyên cớ của sự rụng lá. Cô đơn chẳng dính vào cây, cũng chẳng dính vào thời gian. Chỉ có lòng người trở nên góa bụa (!). Người cùng thời gian đi trong không gian, đau đáu tìm sự thanh nhàn cho đầu óc thảnh thơi, cho thân thể bớt giày vò. Con đường ấy là vô tận, càng đi càng thấy chân trời ở phía trước. Mỗi khi nhìn thấy lá rơi, lòng người quặn thắt, vận vào cuộc đời. Lá lìa cành tựa như chiếc đồng hồ đếm ngược, đưa con người vào chu trình luân chuyển của trời đất. Vậy, không góa bụa làm sao, dù cho thân xác vẫn còn, vẫn ở trong vòng quay thời cuộc, nhưng nhiều trắc ẩn biết tỏ cùng ai…

Đây nữa, cùng đồng hành trạng thái góa bụa:

Ngàn trang sách / mỏi mắt tìm / một trái tim

Làm bạn tri kỷ với sách cốt tìm thấy một trái tim để yêu, mà không được. Cuộc đời là vậy. Haijin Lý Viễn Giao thổ lộ cái cô đơn của người mải miết đi tìm. Nếu như những bài học lịch sử được con người tiếp nhận một cách thật tâm, thấu đáo, thì cuộc đời sau phải tất nhiên tốt, đẹp, bớt đau khổ, bớt bùng nhùng hơn những cuộc đời trước. Nhưng, thế giới loài người không bao giờ chấp nhận hai chữ “nếu như”, do vậy chiến tranh vẫn liên miên, tội ác không giàm mà còn ở quy mô lớn hơn, kỹ xảo hơn, tỷ lệ người nghèo ngày càng gia tăng, thiên nhiên ngày càng kiệt quệ, thảm họa ngày càng mở rộng… Lý Viễn Giao mỏi mắt tìm trái tim nào đây? Đó là trái tim người nhân hậu! Mặt bằng xã hội cả thế giới này đang bị xáo trộn, đang bị tha hóa bởi những lực lượng vật chất đồ sộ, con người trở nên lãnh đạm, thờ ơ, xa rời, tách biệt khỏi chân-thiện-mỹ, mọi giáo lý đẹp đẽ đều bị lãng quên, coi thường. Bản thân sách chứa đựng biết bao điều cần thiết cho cuộc sống, nay cũng là đối tượng của sự lùi tàn trước cơn lốc bùng nổ internete. Bao nhiêu nỗ lực của loài người chẳng qua là nhanh đến đích diệt vong…

Phiến khúc haiku sau đây của haijin Lê Văn Truyền làm rõ thêm sự lệ thuộc của con người vào công nghệ thông tin:

Trên xe buýt / đám đông lặng im / dán mắt vào màn hình điện thoại

Có lẽ thói quen lệ thuộc, ỷ lại và chuộng lạ, chuộng ngoại đã đưa con người đi từ cái lười lười này đến cái lười khác. Số đông bây giờ không ngại ngần thể hiện lòng ích kỷ, chẳng quan tâm đến nhau, đến cộng đồng, cho thấy sự băng hoại tâm hồn, tự làm nghèo đi tính linh hoạt, sôi nổi, tiếp cận cái tốt đẹp, sự đổi thay theo chiều hướng tích cực. Khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng vừa đem lại những điều hay, giúp con người, giúp xã hội tiến nhanh, gạt bỏ những rào cản, xóa đi mặc cảm để đi sâu vào các lĩnh vực tiên tiến, nhưng nó cũng đem lại những hậu quả, trực tiếp hay gián tiếp, vô cùng không có lợi cho sức khỏe, cho túi tiền, cho những mối quan hệ gia đình, xã hội… Dán mắt vào màn hình điện thoại chỉ là một hình ảnh cụ thể trong muôn vàn tiêu cực mà internete đưa lại. Phải chăng con người đang tự trói buộc mình để rồi gỡ ra không nổi?

Nữ haijin Nguyễn Hoàng Lâm đặt vấn đề:

Hỏi nguồn / dòng suối / ngước lên trời

Một vấn đề có tính quy luật tự nhiên. Dòng suối chỉ là một hình ảnh cụ thể, đại diện cho tất cả các sự vật khác tồn tại trong thiên nhiên, bởi cái gì chẳng có nguồn, có gốc, cái gì chẳng có thể ngước lên trời để hỏi – trời là nguồn sống của vạn vật. Nhưng, trời cao và xa lắm, “ông” còn phải điều khiển, điều tiết nhiều thứ lắm, nên mỗi cá thể phải tự mình tìm lấy câu trả lời.

Thì câu trả lời là đây:

Đời như dòng sông / phải vượt thác ghềnh / mới về biển cả

Haijin Đinh Nhật Hạnh nói về một quy luật khác – quy luật tự vận động, phổ biến trong cả tự nhiên cả trong xã hội. Vạn vật sinh ra vốn dĩ đã mang trong mình sự tự vận động. Có vận động mới tồn tại. Sự vận động tất yếu không bằng phẳng. “Sông có khúc, người có lúc”. Thăng trầm là không thể tránh được. Không nghich lý khi nói rằng: đường quanh co là lối đi ngắn nhất để đến đích. Mở đầu bài thơ, tác giả ví đời người như dòng sông là muốn nhấn mạnh sự tự vận động của mỗi người, là con người sinh ra có nghĩa vụ phải đấu tranh, đấu tranh với sự cám dỗ, đấu tranh với chính bản thân mình. Cuộc đấu tranh ấy tất yếu phải phù hợp với quy luật thì mới mong chinh phục được thiên nhiên phục vụ lợi ích chung của loài người, mới mong đương đầu với những lực lượng luôn kéo văn minh thụt lùi, để vươn lên những điều tốt đẹp.

Nữ haijin Nguyễn Thị Mai Liên biểu cảm cũng quy luật ấy bằng cách tư duy khác:

Sóng gió / đẩy thuyền ra khơi / về phía mặt trời

Vị trí địa lý của Việt Nam cho hay rằng, mỗi khi bình minh lên gió từ đất liền thổi ra phía biển (quy luật gió thổi từ vùng áp cao tới vùng áp thấp – sáng sớm nhiệt độ trong đất liền hạ thấp hơn so với ngoài biển, nơi nước biển giữ được độ ấm), nên người dân chài tận dụng lợi thế đó going buồm ra khơi, hướng về phía mặt trời đang mọc. Đấy là nguyên lý phổ biến. Nhưng, ngụ ý của tác giả còn ở chỗ: ra khơi, các con thuyền cùng chung sức để cùng hướng tới mục đích chung, hướng tới lợi ích chung. Mặt trời là trung tâm, hội tụ những mục tiêu chung để cùng tới đích.

Qua sự lựa chọn những phiến khúc haiku để bình phẩm như trên, tôi muốn bày tỏ rằng, từ thực tế đất nước mình, bằng những cảm nhận và thể hiện khác nhau, các tác giả đã đưa vào thể thơ haiku một thiên nhiên đặc trưng với tâm hồn Việt khó trộn lẫn. Thiên nhiên Việt Nam và con người Việt Nam luôn luôn hòa nhập trong mối quan hệ gắn bó từ lâu đời, là nền tảng cho tính cách Việt, cho nền văn hóa Việt Nam hình thành và phát triển, tạo nên những truyền thống quý báu và bền vững, vừa hướng vào nội tâm vừa rộng mở ra thế giới. Đặc trưng của thiên nhiên Việt Nam không đơn phương, trái lại luôn là sự ẩn dụ tinh tế, nói lên tâm tư, nguyện vọng và cả tậm sự kín đáo về nhiều mặt của con người Việt Nam trong hoạt động văn học nghệ thuật, đặc biệt là thơ ca. Vì thế, việc tiếp nhận và sáng tạo thể thơ haiku đối với người Việt Nam khá nhanh chóng, và cũng nhanh chóng khẳng định hướng đi của haiku Việt trong cộng đồng haiku thế giới.

Láng Hạ - Vào đông 2017

C.N.T

Quên- Nguyễn Thánh Ngã

Quên cạo râu

Tay xoa cằm

Thấy cuộc đời lởm chởm

(Cao Ngọc Thắng)

Cái ngắn của thơ Haiku là cái ngắn thâm nhập. Và đã trở thành thú đam mê sâu thẳm của các Haijin Việt khi đặt bút viết. Điều đó trả lời rằng, vì sao thơ Haiku hấp dẫn chúng ta.

alt

Chỉ cần một khoảnh khắc xoa cằm, đã hiện ra trong ta hình ảnh của đời sống. Rất thực. Một chút quên đáng yêu thôi, mà hình thái biển đổi. Quên thêm chút nữa ta trở thành người khác. Nhưng quên chính là để nhớ! Nhớ mình quên cạo râu! Nhớ mình từ một thế giới khác đến đây. Nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn đã từng viết : "ta thấy em trong tiền kiếp, như cọng buồn cỏ khô". Tay xoa cằm là cái thấy hiện kiếp, thấy mình biến đổi theo quy luật vô thường. Ở đây, nhà thơ Cao Ngọc Thắng đã nhìn thấy mình cũng bất thường trong cái nôi vô thường ấy. Thấy cuộc đời lởm chởm như râu mọc là một tứ gợi rất hay. Nó đánh thức những cảm thức về thời gian trong thơ, khiến ta tỉnh táo đón nhận niềm vui nỗi buồn, như là một món quà mà Thượng đế trao tặng. Lởm chởm của râu, và lởm chởm đường đời không khác. Đó là nhận thức. Nhận thức cho ta hiểu biết cuộc sống, xóa tan đi bao điên đảo, mộng tưởng. Sự biến đổi của râu không cho phép ta từ bỏ mình, mà nhận diện chính mình giữa cuộc mưu sinh lởm chởm này!

Đọc để thấy tầng thức ngôn ngữ trong Haiku tuyệt diệu. Sức gợi ghê gớm của nó vượt ra ngoài con chữ. Người xưa gọi ý tại ngôn ngoại là vậy.

Mười một từ thôi. Đầy đặn.

Có lúc thèm như Cao Ngọc Thắng. Quên cạo râu....

Đà Lạt tháng 3/2017

N.T.N

Tiếng đồng vọng Haiku

Cao Ngọc Thắng

Các nhà thơ: Yo.Erdenetoghtokh – Mông Cổ, Romano Zeraschi – Italia, Zlatka Timoneva Valcheva (nữ) – Bồ Đào Nha và Oliver MikosCHLB Đức, đồng thời là những haijin có nhiều đóng góp cho sự lan tỏa thể thơ haiku trên phạm vi thế giới. Thơ haiku của họ, đã được giới thiệu trên trang mạng HaikuViet.com, có những sắc thái riêng bởi sự quan sát và khái quát cao những vấn đề của cuộc sống đương đại. Những phiến khúc haiku của họ toát lên tinh thần chung: “mượn” thể haiku nhằm ghi lại những khoảnh khắc tức thời, từ đó biểu lộ cảm xúc về thế giới quan và nhân sinh quan trong tâm thế bình thản mà sâu sắc, nhân văn; phóng khoáng sử dụng nhiều đề tài khác nhau và trong cách thể hiện, theo xu hướng cách tân, không lệ thuộc những quy ước truyền thống của haiku Nhật Bản. Đặc tính này nói lên khả năng lan tỏa nhanh chóng của thể thơ haiku trên diện rộng; và, cũng là khả năng hội nhập sâu khi chuyển ngữ từ tiếng này sang tiếng khác, tạo nên chất keo kết dính có sự đồng vọng trong tâm hồn những haijin cách xa nhau về khoảng cách địa lý và ngôn ngữ.

alt

1.

Nhà thơ Yo.Erdenetoghtokh, sinh trưởng ở Mông Cổ, một đất nước nằm sâu trong lục địa, cách xa biển cả, giữa hoang mạc Gô-bi lạnh lẽo, cuộc sống của người dân gắn liền với thảo nguyên mênh mông và đàn ngựa , đàn cừu . Bài thơ haiku sau đây thể hiện rất tinh tế cái tâm thế con người ở xứ sở này. Ông viết (1):

The sun plays/ Sliding down from/ The back of an excellent horse
Mặt trời đùa chơi / tụt xuống / từ lưng con tuấn mã

Và:

A growling wolf’s eyes/ Bite me/ Protecting a sheep
Con sói gầm gừ / đôi mắt cắn tôi / khi đang cố cứu một con cừu nhà

Hình ảnh: tuấn mã, con sói, con cừu nhà nói về những con vật quen thuộc đi liền với hoàn cảnh sống của con người, trong đó có cả niềm vui mỗi khi chiều xuống trên lưng ngựa trở về đoàn tụ trong ấm cúng gia đình, và có cả sự đe dọa chẳng mấy hiếm từ thú dữ mà con sói là một biểu trưng mang tính huyền thoại trong văn hóa dân gian của người Mông Cổ, dẫn đến cuộc chiến bảo vệ sự sinh tồn trên thảo nguyên bát ngát gió và cát. Phải chăng vì thế tâm hồn thi sỹ hướng tới:

Pure night of deep autumn / So peaceful / Evry is able to communicate to each other
Đêm thanh tịnh cuối thu / yên bình đến nỗi /ai ai cũng có thể tâm tình với nhau

Đó là sự quan sát của người từng trải, đã từng chiêm nghiệm. Một quan sát khác:

A sparow/ Picks at a rain drop/ As it were a bean
Có con chim sẻ / mổ một giọt mưa / như là hạt đậu

Ông không chỉ nhìn giọt mưa mà cả con chim sẻ như hạt đậu.

Trong các phiến khúc haiku trên đây ta thấy nhà thơ rất thuần thục chọn những hình ảnh, sự vật để đặt cạnh nhau sao cho bật lên cái tứ ở mỗi câu kết, mà khi đọc từng cặp câu (1 và 2; 2 và 3; 1 và 3) vẫn thấy mối liên hệ, không chỉ bởi lớp vỏ ngôn ngữ mà cả phần sâu của ý tưởng, tạo cho mỗi bài một vẻ đẹp giản dị, thuần khiết.

2.

Ở chùm thơ haiku của Romano Zeraschi – Italia (2), thi sỹ cho ta thấy sự quan sát chuyển hóa theo các cấp độ khác nhau. Cấp độ “thị giác” – con tàu chở khách trăng:

From a window to another / the moon is a passenger / night train

Từ cửa sổ này qua cửa sổ khác / trăng là hành khách / trên chuyến tàu đêm

Hay, mưa sao – tiếng reo hò của trẻ:

Falling stars / just above the lawn / children 's shout

Mưa sao sa / ngay trên bãi cỏ / tiếng trẻ reo hò

Cấp độ cao hơn – sự liên tưởng vượt khỏi cái quen thuộc tới nhận thức khác:

By the fire / talking about this and that / timeless night

Bên bếp lửa hồng / chuyện này chuyện nọ / đêm dài mênh mông

Và:

Slowly / felucca / moonlight

Chầm chậm / cánh buồm / ánh trăng

Câu thứ hai, trong hai bài này, chỉ là hình ảnh hay sự vật có tính “đệm” (bởi có thể thay thế bằng hình ảnh hay sự vật khác), nhưng có tác dụng “gọi” hình ảnh kết hiện lên vừa thực vừa ảo. Đặc biệt ở bài thứ hai (Chầm chậm/ cánh buồm/ ánh trăng), mỗi câu là một hình ảnh một sự vật không mấy tương tự. Ở đây cái chầm chậm ấy là cánh buồm hay ánh trăng? Có thể là cái này, là cái kia, nhưng cũng có thể cả hai. Cảnh toàn của bức tranh sống động, mơ hồ cũng đấy mà thực tế cũng vậy.

Một cảnh sắc khác, có chiều lung linh và thơ mộng trong con mắt tinh đời của thi sỹ:

Morning fog / no birds fly over / veiled thoughts

Sương sớm / không một bóng chim / phủ dầy bao suy nghĩ

Bài thơ sau đây của R. Zeraschi bất chợt cho ta thấy một nỗi đau có thực trong thế giới hiện đại:

The sun in his face / the last of his luxuries / dying homeless man

Mặt trời chiếu mặt / món xa xỉ cuối cùng / người chết vô gia cư

Ánh mặt trời là nguồn sáng cho sự sống muôn loài, trở thành một món xa xỉ trên khuôn mặt xác người vô gia cư. Cái nỗi đau buồn ấy động tới lương tâm người nghệ sỹ Italia khi phải chứng kiến cảnh di cư hàng loạt của người dân từ chỗ bần hàn, bỏ quê hương xứ sở tới nơi xa xăm để tránh bạo lực, chiến tranh, trốn tránh sự đọa đày mong cuộc sống bình an, nhưng con đường họ đi đầy bất an và cực nhọc, chết chóc luôn đón chờ. Ánh mặt trời là người chia tay cuối cùng những số phận hẩm hiu.

3.

Nữ thi sỹ Zlatka Timoneva Valcheva – Bồ Đào Nha, có cách cảm đậm giới tính

Nuit froide / le chat blotti / dans mes vers

Đêm lạnh / con mèo cuộn mình / trong thơ tôi

Một cái tứ đem lại sự bất ngờ.

Le vent habite / dans son corps cosmique / pas de place pour lui

Gió ngụ / trong thân hình vũ trụ / không có chỗ cho chàng

Một khoảng trống vắng cô đơn.

Sous le réverbère / personne n'embrasse / personne

Dưới ánh đèn đường / không ai / hôn ai

Nỗi cô đơn nghiệt ngã. Một câu hỏi của sự vô định.

Fin d’après-midi / le silence suspendu / aux ailes d'une mouche

Xế chiều / im lặng treo / trên cánh một con ruồi

Một nỗi buồn sâu thẳm.

Les pétales de rose / par terre / le vent n'ôse pas

Những cánh hồng / rơi trên mặt đất / làn gió chẳng nỡ lòng

Một cảm nhận tinh tế.

Vendeur d'eau / sourire collé / aux lèvres blanches

Người bán nước rong / nụ cười dính chặt / trên môi tái xanh

Một đồng cảm nhân tính.

Những cái “một” ấy thường trực trong trái tim người nữ thi sỹ, trào ra từ một tâm hồn nhạy cảm, mềm mỏng mà sắc nhẹm.

Song, ở nữ thi sỹ này còn có sự phát hiện, không phải phát hiện về hiện tượng hay sự vật mà phát hiện/ sáng tạo ở sự biểu hiện, ở ngôn ngữ chính xác:

Pluie d'été / entre les grosses gouttes / deux sourires mouillés

Mưa mùa hạ / giữa những giọt nặng / thoáng hai nụ cười

Từ những giọt mưa nặng mà nhìn ra hai nụ cười thì thật tài tình, có thật trong ảo ảnh.

4.

Trường hợp của haijin Oliver Mikos – người Đức, không giống ba nhà thơ trên. Ông tuân thủ cấu trúc 5-7-5 (đếm số lượng âm tiết ở nguyên văn tiếng Đức của mỗi câu trong từng bài; điều này không thấy ở ba tác giả đã dẫn) và chủ trương đặt tiêu đề (tên/tít) cho mỗi bài. Chúng ta tôn trọng nhà thơ. Quan trọng là ý thơ của tác giả rất mạch lạc, rõ ràng.

Plusen Wind - Cơn gió
Ein Blick zum Himmel/ Schwirrende Flusen im Wind/ Rauschende Blätter
Ngó ra trời/ Gió vù vù/ Lá say bay liệng

Chưa chắc lá say và bay nghiêng là bởi gió thổi mạnh. Có thể do lòng thi sỹ đang say!

Gewittersturm - Giông bão
Ein Gewittersturm/ biegt frühlingsgrüne Linde/ Die gelben Säcke!
Chợt cơn giông/ Vặn cong bồ đề xuân/ Trút xuống lá vàng

Tác giả cố ý dụng quý ngữ (bồ đề xuân) để phát biểu cảm giác ngoài mùa (về tổng thể, mùa xuân cây chưa có lá vàng để giông bứt khỏi cành). Bài dưới đây tương tự: đông đã về thì còn đâu bão thu nữa (trong logic tuần tự), cho nên lỗi nhịp, cho nên tắt ngấm:

Herbststurm im Winter - Bão thu trong đông
Herbststurm im Winter/ Das unrythmische Prasseln/ Crescendo, Stille
Bão thu giữa đông/ Nhạc lỗi nhịp/ Tắt ngấm

Hai bài dưới đây cho thấy cái tình của thi sỹ đối với biển cả rất đằm thắm và nhiều chiêm nghiệm

Spaziergang am See - Tản bộ trên biển
Spaziergang am See/ Stille in der Winternacht/ Quakende Ente
Tản bộ trên biển/ Lạnh tanh đêm đông/ Vọng tiếng ngỗng trời

Tosendes Meer - Sóng biển
Das tosende Meer/ Funkelnde Tropfen/ Der Bogen aus Licht
Biển tung sóng/ Giọt li ti/ Rực rỡ cầu vồng.

*

Đọc thơ haiku chuyển ngữ từ tiếng Nhật, những nhà thơ tiền bối cho chúng ta những bài học quý giá về bản chất của thể thơ truyền thống, những nhà thơ đương đại cho chúng ta thấy sự bứt phá, cách tân trên nền truyền thống ấy. Đọc thơ haiku chuyển ngữ từ các tiếng khác, chúng ta học ở họ sự tiếp nhận thể thơ độc đáo của người Nhật và sáng tạo từ tư duy thơ riêng có của mình. Những nhà thơ ngoài đất nước Phù Tang, và ngay cả người Nhật, luôn coi thể thơ haiku luôn song hành cùng những thể thơ khác, góp phần làm phong phú rừng thơ của dân tộc mình cũng như rừng thơ của thế giới; và, khi vận dụng họ đều cân nhắc xem đề tài định thể hiện sẽ phù hợp với thể thơ haiku hay bất kỳ thể thơ nào khác, bởi mỗi thể thơ đều có những thế mạnh và đều có những hạn chế nhất định.

...

(1)Rút từ chùm thơ haiku của Yo.Erdenetoghtokh do Đinh Nhật Hạnh chọn và giới thiệu

(2)Chùm thơ  haiku của Romano Zeraschi do Đinh Nhật Hạnh chuyển ngữ từ tiếng Anh

(3)Chùm thơ haiku của Zlatka Timoneva Valcheva do Đinh Nhật Hạnh chuyển ngữ từ tiếng Pháp

(4)Chùm thơ haiku của Oliver Mikos do Nguyễn Văn Hoa dịch từ tiếng Đức

CNT


Haiku mang tính xã hội- Lê Thị Bình

Chúng ta biết rằng ở NB cũng như Việt Nam và nhiều nước khác trên TG, việc đấu tranh, tranh luận về thơ văn diễn ra rất gay gắt. Thơ Haiku cũng không nằm ngoài tình hình đó. Nhất là sau chiến tranh TG 2 thì đã hình thành 2 phe rõ rệt. Ở Nhật cũng diễn ra những cuộc tranh luận gay gắt rằng thơ Haiku cũng phải mang tính tư tưởng, cũng phải gắn với đời sống phản ánh tình cảm, suy nghĩ của con người…Nói cách khác Haiku có tính xã hội sâu sắc. Ở Nhật Bản có Haiku của những bà nội trợ. của người làm công ăn lương, của người đang chữa bệnh…gọi là Haiku cảnh đời (境涯俳句). Taneda Santoka, Kobayashi Issa cũng làm thơ về cảnh đời đầy xót xa mà bao người mê mẩn…

alt

Sau thế chiến thứ 2 người Nhật thấy rằng Hai ku phải mang tính xã hội và hàng loạt nhà thơ Haiku theo xu hướng này đã ra đời và trở thành một cuộc vận động. Có lẽ không phải Haiku hiện đại mới có tính Xã hội mà nó đã manh nha từ thời Eđo khi người ta thấy sự chênh lệch giàu nghèo, phân chia đẳng cấp trong xã hội. Đến thời Minh Trị thì phong trào thơ Haiku sáng tác theo khuynh hướng mới (新傾向俳句) đã ra đời. Rồi cuộc vận động Haiku vô sản, Haiku tân hưng đầu thời Chiêu Hòa…. Năm 1946 (Chiêu Hoà 21) đăng luận văn “Nghệ thuật thứ hai, về Haiku hiện đại”「第二芸術 ―現代俳句について―」của nhà ngiên cứu và phê bình văn học Kuwabara Takeo ( 桑原武夫 1904-1988) trong tạp chí “thế giới” (『世界』)đã làm dấy lên cuộc tranh luận về giá trị xã hội của thơ Haiku quanh quan điểm cho Haiku là nghệ thuật thứ hai, Năm 33 Chiêu Hòa (1958) trong tạp chí “Haiku” đã ra số đặc biệt có bài “Haiku và tính xã hội” (「俳句と社会性の吟味」) ... Theo Ishida Hakyo, người được mệnh danh là thánh thi thời Chiêu Hòa cho rằng Haiku phải đi sâu tìm hiểu con người và ông theo trường phái thơ đó (人間探求派). Những tên tuổi như Ishiđa Hakyo (石田波郷), Kato Shuton(加藤楸邨), Nakamura Kusatao(中村草田男) theo xu hướng sáng tác này từ Haiku Truyền thống chuyển sang Haiku Tiền Vệ (Haiku tiên phong)… Hình thành các trường phái thơ Haiku ở Nhật như trường phái truyền thồng, trường phải hiện đai, trường phái sáng tác theo xu hướng mới, trường phái đi sâu tìm hiểu con người , trường phái tiền vệ…từ đó những người cùng chí hướng sáng tác lập thành các Hiệp hội hay ngày xưa ở Nhật gọi là “liên kết” (Kết xã). Mấy chục năm nay thể thơ ngắn này đã lan ra toàn thế giới nên ở Nhật hình thành hai hiệp hội là “hiệp hội Haiku quốc tế” (HIA) và “hiệp hội Haiku thế giới” (WHA) và các Hiệp hội khác đều có bộ phận giao lưu quốc tế là vậy.

Xin tạm dịch một số câu Haiku tiêu biểu cho tính xã hội và thuộc lại Haiku theo trường phải không có quí đề quí ngữ  của một sô Hai jin Nhật Bản để bạn đọc tham khảo:

1,寒雷やびりりびりりと真夜の玻璃

Kanrai/bi ri ri bi ri ri to/ shin ya no ha ri

Sấm lạnh/ răng rắc / nghe kính vỡ giữa đêm (Lê Thị Bình tạm dịch)

隠岐や今木の芽をかこむ怒濤かな      加藤楸邨


Okiya/ imakonomewo kakomu / dotokana
おきやいまこのめをかこむどとうかな 
Trên đảo Oki/giờ đây cây đã nhú mầm/ sóng dữ vây quanh (Lê Thị Bình tạm dịch)

2. 肉がやせてくる太い骨である  尾崎放哉

Thịt gầy/ xương to (Lê Thị Bình tạm dịch)

3. 玫瑰(はまなす)や今も沖には未来あり 中村 草田男

Hanamasu ya (Baikaiya)/ imamo okiniha/ miraiari

Hoa hồng dại ơi/ bây giờ cũng thấy/ tương lai đây rồi (Lê Thị Bình tạm dịch)

4. 帰ってきてパパママ今日は卒業式 後藤 勝彦

Kaettekite/ papa mama kyoha / sotsugyosiki

Bố mẹ ơi/ hãy về đây/ hôm nay là lễ tốt nghiệp (của con) (Lê Thị Bình tạm dịch)

5. バスを待ち大路の春をうたがはず 石田 波郷

Basu wo machi/ dairo no ha ru/ utagahazu

Chờ xe bus/ ca bài ca / xuân đại lộ (Lê Thị Bình tạm dịch)

Các cụ bảo “Văn tức là người” người làm thơ bây giờ không thể chỉ ngồi tả cảnh Trăng, Hoa, Chim, Cảnh… mãi được, Senryu thì dễ hơn vì nó mang tính phê phán, trào phúng, đả kích… còn thơ Haiku truyền thống dù hàm ý sâu xa nói bóng nói gió, nói xa nói gần…

Tôi đã có bài giới thiệu về các tổ chức Haiku ở Nhật cũng như có bài về hoạt động của các nhóm, các CLB các tổ chức sáng tác thơ Haiku trên TG, chức các bạn đã tham khảo… Tôi cũng đã có bài về so sánh Haiku và Sen ryu của Nhật các bạn tìm xem thêm.

Dù sao thì Haiku ngày nay vẫn có tính xã hội, nó không chỉ dừng lại ở nghệ thuật “chim, bướm, trăng, hoa” hay “trăng hoa tuyết nguyệt” như người Trung quốc thường nói mà nó đi vào cuộc sống với những “hỉ nộ ái ố…” của con người trước thời cuộc. Có lẽ vì vậy mà người Nhật thấy Haiku và Sen ryu có xu hướng ngày càng gần nhau hơn chăng?!

Haiku Việt của người Việt sáng tác chắc cũng mang tính xã hội vì “nhà thơ cũng phải biết xung phong” mà!

Tôi xin có mấy ý lạm bàn như vậy.

Lê Thị Bình

Về dòng thơ Haiku Phụ nữ của Nhật Bản- Kamakura Sayumi

alt

Anh Ban’ya Natsuishi đến Việt Nam khi được mời dự Liên hoan thơ Châu Á - Thái Bình Dương năm 2012. Qua anh Ban’ya, tôi được biết Việt Nam có nhiều người thích Haikư. Điều đó khiến tôi rất ngạc nhiên nhưng khi tạp chí Haikư thế giới số 9 năm 2013 và số 10 năm 2014 liên tiếp đều có đăng thơ Haikư và bình luận của các bạn Việt Nam tôi mới thực sự hiểu rằng các bạn rất yêu thích hình thức thơ Haikư và muốn hiểu nó. Tôi không biết ở Việt Nam có bao nhiêu người sáng tác thơ Haikư nhưng tôi biết rằng số lượng đó đang tăng lên. Hiện nay có lẽ số nam giới nhiều hơn nhưng cũng như ở Nhật Bản số phụ nữ thích Haikư cũng tăng nhanh. Thơ Haikư là loại thơ như vậy.

Hôm nay, tôi muốn nói về phụ nữ Nhật Bản say mê thơ Haikư như thế nào.

Cơ hội để cho nhiều phụ nữ Nhật Bản sáng tác thơ Haikư có thể là bởi cuộc tập hợp thơ Haikư do nữ giới sáng tác có tên gọi “Tạp ngâm nơi nhà bếp” do tạp chí “Hototogisu” (số tháng 10 năm 1916) phát động, lúc đó do Takahama Kyoshi làm chủ bút. “Tạp ngâm nơi nhà bếp” tức là nói về những câu Haikư có chủ đề xung quanh bếp núc, gia đình. Ví dụ như cái chảo, cái thớt, con dao, con mèo, con chó, trẻ con… Thế là những người phụ nữ cũng sáng tác những câu Haikư mà cho đến lúc đó chủ yếu do nam giới sáng tác.

Nhưng chính xác việc khuyến khích phụ nữ chú ý đến Haikư không phải là Takahama Kyoshi. Mà trước ông 300 năm, vào thời Edo đã xuất hiện nữ giới sáng tác Haikư, vào thời điểm Matsuo Basho sáng lập loại Haikư có tính văn học, nghệ thuật cao gọi là Shofu (trường phái Haikai Basho). Sau khi Basho mất thì các đệ tử của ông tiếp tục quảng bá trường phái thơ Haikư này và nữ giới cũng tham gia vào các buổi sáng tác Haikư, ngay tại gia đình của mình.

Haikư ra đời cách đây khoảng 400 năm. Phụ nữ đã sáng tác Haikư thế nào và đặc điểm của Haikư do phụ nữ sáng tác có gì đặc biệt? Đặc điểm lớn nhất của dòng thơ Haikư Phụ nữ là họ sáng tác Haikư bằng trực cảm, trực giác. Những cái họ nhìn thấy, cảm thấy thì phụ nữ đưa thẳng vào thơ.

雪の朝二の字二の字の下駄の跡

(ゆきのあさ / にのじにのじの / げたのあと)

Tuyết buổi sáng / dấu guốc in / chữ nhị chữ nhị

(Densutejo, 1633-1698)


負ふた子に髪なぶらるる 暑さかな

(おうたこに / かみなぶらるる / あつさかな)

Lưng cõng em / đầu tóc rối / nóng hôi hổi

(Shiba Sonome, 1664-1726)


花衣脱ぐやまつはる紐いろいろ

(はなごろも / ぬぐやまつはる / ひもいろいろ)

Áo ngắm hoa / cởi ra / lắm thứ giây chằng

(Sugita Hisajo, 1890-1946)


ままごとの/飯もおさいも/土筆かな

(ままごとのめしもおさいもつくしかな)

Chơi đồ hàng / có cơm có rau / cả Tsukushi nữa nhé

(Hoshino Tatsuko, 1903-1984)

Các bà Densutejo và Shiba Sonome ở thời Eđo, các bà Sugita Hisajo và Hoshino Tatsuko ở thời Minh Trị.

Một buổi sáng tuyết rơi dày, không biết dấu guốc gỗ của mình đi hay của người khác mà in trên tuyết trắng. Nhìn thấy dấu guốc đó, cô bé Densutejo 6 tuổi rất trực cảm, với vốn chữ Hán mới học được cô buột miệng đọc thành thơ với nhịp điệu “chữ nhị, chữ nhị”. Còn Shiba Sonome cũng rất thành thực khi bật ra câu thể hiện cái bức bối, nóng nực khi địu em trên lưng, em nghịch tóc chị giữa cái nóng thiêu đốt giữa mùa hè nên chị cảm thấy “nóng hôi hổi”.

Hai trăm năm sau, vẫn cái trực giác đó Sugita Hisajo khi đi lễ ngắm hoa (Hanami) về cởi bộ Kimono mặc khi dự lễ, những dây quấn quanh áo rơi xuống chân cô “lằng nhằng”, đẹp thì có đẹp nhưng nó trói buộc làm sao! Ta như thấy hình ảnh cô gái Nhật Bản đang rối bời trong sự nhằng nhịt dây trói.

Hoshino Tatsuko thì tả lại cảnh em bé gái (hay bản thân) chơi đồ hàng gây cho ta cảm xúc của em khi chơi rất thật.

Dù rằng miêu tả hiện tượng cụ thể trước mắt nhưng ta thấy được sự phát triển sau này của hiện tượng đó.

Xin giới thiệu thêm về trực cảm đó của các Haijin nữ Nhật Bản:

いなづまの裾をぬらすや水の上

(Inazuma no suso wo nurasuya mizunoue)

Chớp quẹt / ngang gấu váy / sáng bừngmặt nước

(Kaga Chiyojo, 1703-1775)


落鮎の日に日に水の恐ろしき

(おちあゆや ひにひにみずの おそろしき)
(ochiayuya / hinihinimizuno / osorosiki)

Cá Trác xuôi sông / ngày ngày / sợ nước

(Kaga Chiyojo)


奥底の知れぬ寒さや海の音

(おくそこの しれぬさむさや うみのおと)

Cái lạnh sâu / không thấy đáy / tiếng biển

(Kasen, 1716-1777)


炎天下おのが影より羽音して

(えんてんか・おのがかげより・はおとして)

Dưới nắng lửa / từ bóng mình / nghe cánh vỗ

(Kamakura Sayumi, 1953-)


女身とは光をはじく岬かな

(によしんとは ひかりをはじく みさきかな)

(Nyoshin towa / hikari o hajiku / misaki kana)

Thân gái trụi trần / sáng bừng / đất mũi

(Kamakura Sayumi)

Kaga Chiyojo và Kasen là những phụ nữ thời Edo. Kamakura Sayumi là phụ nữ hiện đại sau hơn 200 năm. Trước hết, ta nói về câu của Chiyojo. Đầu tia chớp ta nhìn thấy ở gấu váy rồi reo vui trên mặt nước – sự tưởng tượng phong phú này thật đáng ngạc nhiên. Kagami Shikou – một đệ tử của Basho đã tặng bà một lời bình như sau: “một người kỳ dị có cái đầu nổi tiếng”, tôi rất tán thành. Trong câu “cá Trác (ayu) xuôi sông” mùa hè, nước sông nơi ta có thể thả chân xuống và bơi lội, đến mùa thu thì dòng nước đó trở nên lạnh lẽo và đen tối, xa lạ với con người. Sự biến hóa đó thật đáng sợ. Con cá Trác đã đẻ trứng xong thấy dòng sông thật đáng sợ, thân thể nó rã rời trôi theo dòng nước. Kiếp người cũng đen tối như vậy. Câu “cái lạnh khôn cùng” của Kasen không những chỉ nói về thân thể của người đọc nó mà ta cảm thấy như bị hút vào cái lạnh sâu xa, cái đáy biển sâu hút. Đó là sự đau đớn xót xa của cuộc sống.

Còn câu thơ của Sayumi – là người của thời hiện đại, thì dưới cái nắng gay gắt không khoan nhượng của mặt trời mà nghe thấy tiếng cánh vỗ của chim từ bóng mình đang đứng, cảm giác kỳ lạ như vậy làm cho ta có thể cảm thụ được một không gian khác, thậm chí ta muốn bay vượt không gian thông thường. Đến câu “thân gái” thì cho ta thấy thân thể người con gái, có lẽ là trần trụi, đang đứng trơ trọi hướng ra đất mũi mà bật ra ánh sáng. Một bài ca nữ tính làm sống dậy cảm tính của chính tác gia nữ, một cái gì đó rất Sayumi – là ánh sáng bật lên ở đất mũi nơi trông ra biển.

Điều muốn nói về mấy câu tiêu biểu của 3 tác giả nữ này là Haikư có ngôn ngữ đầy âm điệu biến hóa có ngắt quãng mạnh mẽ bằng cảm tính dịu dàng độc đáo, nhìn vào tâm hồn mình đang sống. Con người ta chừng nào còn sống thì hàng ngày đều thể hiện tình cảm như người ta nói là “hỉ nộ ai lạc”, những tình cảm đó phụ nữ cũng mang vào trong Haikư.

散花の下にめでたき髑髏かな

(ちるはなの もとにめでたき どくろかな)

Kìa sọ trắng / vui mừng / dưới cánh hoa rơi

(Emoto Seifu, 1732-1814)


短夜や乳ぜり啼く児を須可捨焉乎

(たんややちちぜり なくこを すてつちまおか)

Trong đêm / tiếng trẻ khát sữa / muốn quẳng nó đi

(Takeshita Shidunojo, 1887-1951)


雪はげし抱かれて息のつまりしこと

(ゆきはげし いだかかれて いきのつまりしこと)

Trong tuyết rơi / ai ôm tôi chặt / nghẹt hơi

(Hashimoto Takako, 1899-1963)


夏瘦せて嫌ひなものは嫌ひなり

(なつやせて きらひなものは きらひなり)

Mùa hè gầy yếu / cái gì ghét / là ghét

(Mitsuhashi Takajo, 1899-1972)


この樹登らば鬼女となるべし夕紅葉

(このきとうらば きじょとなるべし ゆうこうよう)

Trèo lên cây / sẽ thành nữ quái / lá đỏ ráng chiều

(Mitsuhashi Takajo)


巻貝死すこの世の夢を巻きのこし

Con ốc chết / cuốn theo giấc mơ / thế gian

(Mitsuhashi Takajo)

Các phụ nữ Emoto Seifu ở thời Edo, Takeshita Jitsunojo ở vào thời Minh Trị, Hashimoto Takako và Mitsuhashi  Takajo sống qua thời Minh Trị, Đại Chính, Chiêu Hòa. Chúng ta xem thơ của từng người nhé. Trước hết câu của chị Seifu phỏng theo ý câu Waka của Saigyo “Nếu được nguyện cầu, tôi muốn chết dưới bóng hoa Anh Đào, vào lúc trăng rằm tháng 2 (tháng cỏ cây thay áo mới)”. Cái sọ trơ xương của người chết (dokuro) mà các cánh hoa Anh Đào rơi phủ lên thì đẹp tuyệt vời! Cái dokuro này của Saigyo cũng như vậy. Ta thấy câu thơ mang cảnh sắc chân thật không ngụy tạo vượt lên sự hỉ nộ ai lạc thông thường.

Sau Seifu hơn 100 năm thì Jitsunojo nói gì trong thơ? Chị sáng tác câu thơ một cách thật thà đến mức kinh ngạc rằng “Trong đêm đứa trẻ khát sữa khóc đến mức muốn quăng nó đi lần nữa”. Trong Haikư hiện lên tình cảm không giả dối của người phụ nữ ôm đứa con đỏ hỏn. Nên nhớ ở đây Jitsunojo dù có biểu hiện tình cảm nhất thời đến đâu chăng nữa vẫn làm sống lại yếu tố Hán văn trong văn học.

Takako thì ca ngợi tình yêu vợ chồng một cách cuồng nhiệt từ góc độ của người phụ nữ, nó chất chồng nỗi nhớ trong một lần tuyết rơi dày đặc chị được chồng ôm chặt nồng nàn. Mặt khác nó biểu hiện nữ tính cao độ, thể hiện tình yêu mình trong Haikư, hướng sự yêu cuồng nhiệt đó vào bản thân mình.

Còn Takajo thì sao. Đó là lời tuyên ngôn của phái nữ, dù yếu đuối đến đâu chăng nữa, đã chán ghét thì phải nói là chán ghét.

Ta cũng thấy tình cảm mãnh liệt khi suy nghĩ có thể hóa thân thành nữ quái dưới màu đỏ của cây Momiji chiều tối.

Trong câu “con ốc” bà đã nghĩ đến cái chết, hướng tình cảm của mình vào việc còn một trải nghiệm chưa biết trong thế giới này.

Từ nay dòng thơ phụ nữ Nhật Bản sẽ đi về đâu? Sẽ sáng tác về cái gì thì hay? Vẫn còn bỏ ngỏ câu trả lời. Như Kaga Chiyojo thời Edo đã sống và làm như vậy, Haikư Nhật Bản đã gửi tín hiệu đi khắp thế giới và nó đã gắn với Haikư thế giới. Từ đó, tôi cũng suy nghĩ và hỏi lòng mình: dòng thơ Haikư phụ nữ phải sáng tác như thế nào?

Kamakura Sayumi

Người dịch và chuyển ngữ thơ: Lê Thị Bình

Tinh tế tính chắt lọc trong thơ Haiku- Nguyễn Vũ Quỳnh Như

Thơ haiku là thể thơ ngắn của Nhật Bản và đang được cho là ngắn nhất thế giới. Thơ haiku đã và đang được phổ biến rộng rãi tại nhiều quốc gia. Trong bối cảnh xã hội ngày nay, thơ haiku được chấp nhận biến đổi như thế nào, những giá trị truyền thống nào cần được lưu giữ luôn là đề tài được các chuyên gia thơ haiku Nhật Bản lưu tâm.

alt

  1. 1. Đọc thơ haiku bằng mắt - mỹ học thị giác thơ haiku

Nói đến mỹ học Nhật Bản, người ta thường bàn về cái đẹp xuất hiện trong đời sống thường nhật cho đến các tác phẩm văn học từ thời kỳ cổ điển.

Về văn học Nhật Bản, các tác phẩm từ văn xuôi đến thơ ca của những thời kỳ đầu đều toát lên “vẻ đẹp rất tự nhiên mà dịu dàng” thể hiện giá trị thẩm mỹ vô cùng mãnh liệt, được lưu truyền và tiếp nối đầy sáng tạo từ thế hệ này đến thế hệ khác để đi vào lòng người. Thơ haiku cũng thế. Là thể thơ được cho là ngắn nhất thế giới chỉ có 17 âm tiết, sâu sắc tính gợi, thơ haiku càng phải vận dụng nhiều thi pháp để thể hiện đặc trưng ẩn ý cao độ, “ý tại ngôn ngoại”, chắt lọc từ ngữ cô đọng (ít tính từ, sử dụng động từ một cách hiệu quả), chú trọng tính giản lược, diễn tả gián tiếp thay vì trực tiếp...

Trong thơ haiku, nhất là tác phẩm kinh điển Oku no hosomichi (奥の細道 – “Thăm thẳm con đường hẹp” [1]) của Matsuo Basho, vẻ đẹp tinh tế của các thắng cảnh mà nhà thơ đã đi qua được mô tả khiến cả thế giới cho đến nay vẫn không tiếc lời ca ngợi. Các địa danh trên con đường Đông Bắc mà Matsuo Basho đi qua được ông mô tả trong hàng trăm tác phẩm thơ haiku nay được đưa vào danh sách những danh lam thắng cảnh lịch sử “Dấu chân của Basho” trong sách “Cool Japan”[2](“Nhật Bản thú vị”).

松島の月まず心にかかりて[3](Matsuo Basho)
Matsushima no / tsuki mazu kokoro / ni kakarite
Ánh trăng / Tùng Đảo / rơi vào tim tôi. (Quỳnh Như dịch)

Tùng Đảo là vịnh Matsushima nằm ở vùng Đông Bắc Nhật Bản, danh lam thứ hai trong “Nhật Bản tam cảnh” – nơi nhà thơ Basho để lại nhiều bài thơ haiku diễn tả vẻ đẹp đầy quyến rũ không nói nên lời của những đêm trăng. Basho cho rằng “Lúc ấy ta cảm thấy tràn trề một cảm giác thần bí trên đường du lịch trong sự che chở của thiên nhiên[4]. Bài thơ không cần mô tả rõ ràng về vẻ đẹp của đêm trăng tại vịnh Matsushima mà thể hiện thật lắng đọng và để lại suy tư cho người đọc.

Đọc đến bài thơ này, lại nhớ đến bài thơ haiku nói về vịnh Matsushima (Tùng Đảo). Bài thơ chỉ lập đi lập lại từ “Matsushima” chứ chẳng mô tả gì hơn. Dường như một vẻ đẹp đến mức nhà thơ không tả nổi nên lời, khiến Matsushima lại trở nên danh thắng tiềm ẩn vẻ đẹp mà ai cũng mơ ước một lần được đến thăm.

松島やああ松島や松島や (Tahara Bo)

Matsuhima ya / aa matsushima ya / matsushima ya
A Matsushima / kìa Matsushima / Matsushima đó (Quỳnh Như dịch)

Đây là bài thơ của Tahara Bo (田原坊) cuối thời kỳ Edo, chỉ vỏn vẹn vài ba từ để khắc họa lại bức tranh thiên nhiên huyền diệu tại vịnh Matsushima. Nhà thơ Matsuo Basho đã đặt chân đến vịnh Matsushima và để lại nhiều bài thơ haiku ẩn ý thổn thức về hình ảnh của vùng vịnh này nên nhiều người đã lầm tưởng bài thơ Matsushima nói trên là của Matsuo Basho. Hóa ra đọc thơ haiku theo đúng nghĩa là phải bắt gặp cho được hình ảnh mà tác giả chất chứa tình cảm trong đó. Basho từng nói trong “Haiku thập luận” rằng “Không phải dùng tai để nghe thơ haiku, mà phải dùng mắt để nhìn thấy nó[5].

Với triết lý sâu sắc của mỹ học thị giác thơ haiku, mà thời nay, sự thành công trong mẫu mã của các sản phẩm thương mại còn được cho là ảnh hưởng sâu sắc của triết lý này. Nhiều người đều biết rằng sản phẩm Apple luôn nổi tiếng về chất lượng thiết kế và sự tinh tế trong từng chi tiết nhỏ nhất đều gắn với huyền thoại Steve Jobs. Ông luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của thiết kế và hiểu biết vai trò thiết yếu của tính thẩm mỹ trong việc thu hút công chúng trong làng công nghệ thế giới, để đến nay toàn ra những thiết kế siêu việt, thiết kế của tương lai.

Steve Jobs, cựu Tổng giám đốc điều hành hãng Apples, được cho là ảnh hưởng sâu đậm của triết học Zen. Vẻ đẹp của các mẫu mã sản phẩm Apples có được là chính nhờ vào hiệu quả của sự chắt lọc của những gì thừa thải, dường như giống như thế giới thơ haiku của Basho, đã giúp tạo nên sự sâu lắng và giản dị tức thì. Điều này càng trở nên quan trọng hơn về sự cùng tồn tại với thiên nhiên trong thế kỷ XXI. Và triết lý Zen của Matsuo Basho sẽ ngày càng được nhiều người quan tâm hơn[6].

  1. 2. Tinh tế “chắt lọc” thi pháp kigo

Trong thơ haiku, từ chất liệu ngôn từ đến thi pháp mô tả đều rất cô đọng và giản dị. Một trong những thi pháp truyền thống của thơ haiku là yêu cầu phải có “kigo - 季語”(quý ngữ). Càng đi sâu vào tìm hiểu thơ haiku, càng hiểu rõ hơn rằng ẩn chứa đằng sau kigo là cả thế giới mênh mông về tập quán văn hóa, lễ nghi, đời sống tâm linh của Nhật Bản gắn bó mật thiết với thiên nhiên.

Kigo không chỉ là quý ngữ để phân biệt sự chuyển dịch của mùa, thời tiết mà là những thuật ngữ biểu lộ “cảm quan về mùa” (季感) trong đời sống và văn hóa. Ví dụ, tại Nhật Bản “trái hồng” là quý ngữ về văn hóa ẩm thực của mùa thu, “nhập học” là quý ngữ về đời sống con người trong mùa xuân. [7]

Mỗi từ kigo đều là các quy ước mang thuộc tính riêng của nó. Vậy thì trong một bài thơ haiku, để nói về một mùa, có thể sử dụng được bao nhiêu kigo? Nhất là những bài thơ haiku vào mùa “trăm hoa đua nở” như mùa xuân, khiến người sáng tác có thể “không cầm lòng được”, đã tức thời tạo nên chỉ một bài thơ mà đầy “trăm hoa đua sắc”.

あじさいの車窓に弾ける露の音 (Yunaku)

Ajisai no / kuruma mado ni hikeru / tsuyu no oto

Hoa tú cầu / cửa sổ xe / vẳng tiếng sương (Quỳnh Như dịch)

Có thể tác giả bài thơ hoa Ajisai (cẩm tú cầu) muốn đưa người đọc liên tưởng đến hình ảnh hoa tú cầu (hình ảnh của mùa hè) lung linh vào sáng sớm khi còn đọng lại những giọt sương (biểu tượng của mùa thu). Chiếc xe chạy ngang đã làm hoa tú cầu giật mình choàng tỉnh giấc, rung rinh khiến những giọt sương văng vào cửa xe đang chạy. Vậy trong bài thơ muốn nói đến cả hai mùa: hè và thu chăng? Cũng có người Nhật đã nói rằng, thơ haiku không chỉ nói về thiên nhiên của bốn mùa, mười hai tháng mà đến hai mươi bốn tháng. Vì sao ư? Giống như bài thơ ở trên, khi mùa hè chưa kịp qua, mủa thu đã sớm đến. Một hình ảnh rất bình thường về sự chuyển giao mùa cơ mà.

Bà Natsui Itsuki - Chuyên gia hiệu đính thơ haiku nổi tiếng của Nhật Bản thường xuất hiện trên đài truyền hình Nhật Bản trong các chương trình “Giờ học Haiku” đã đánh giá bài thơ đã mắc phải lỗi rất dễ thường gặp đó là “季重なり(kijuu nari – trùng lắp kigo)”. Hiện tượng thường gặp là trùng hai kigo của hai mùa khác nhau, giống như bài thơ ở trên: “ajisai” (Hoa tú cầu) là kigo của mùa hè và “tsuyu” (sương) là kigo của mùa thu.

Mặc dù đánh giá bài thơ hoa “ajisai” lắng đọng với cái kết khá hay là “tiếng sương”, nhưng để tránh sử dụng kigo của hai mùa khác nhau, bài thơ đã được Natsui Itsuki hiệu đính bằng cách thay giọt sương bằng giọt nước:

あじさいの車窓に弾け飛ぶ雫 (Yunaku)

Ajisai no / kuruma mado ni hike/ tobu shizuku
Hoa tú cầu / văng giọt nước / gõ cửa xe (Quỳnh Như dịch)

Bên cạnh đó, thường mắc lỗi nhiều nhất là trùng nhiều kigo của một mùa vào một bài thơ. Vào mùa xuân khi có rất nhiều loài hoa đua nhau khoe sắc, cũng là lúc người sáng tác dễ “khó kiềm chế cảm xúc” và thốt lên mô tả cả hình ảnh trăm hoa đua sắc đang nhìn thấy trước mắt.

Ví dụ nhiều thuật ngữ về cùng một mùa xuân như “xuân – hoa mơ”, “xuân – hoa mai”, “hoa đào – hoa đỗ quyên”, “xuân - chim oanh” rất vô tình được người sáng tác đưa vào cùng một bài thơ. Hoặc sử dụng các kigo khác mùa vào cùng một bài thơ như “hoa đào – bướm bay” (con bướm là kigo của mùa hè)...Chưa kể, những quý ngữ này chỉ nên được mô tả “như chính chúng”, không nên bổ sung “gia vị cảm xúc” gì thêm. Cũng theo chuyên gia Natsui Itsuki, một khi đã là “nikko -日光 (nắng vàng)” thì cớ gì phải thêm “照らし – terashi (chiếu sáng chói chang), hoặc khi “mai vàng bung nở”, có thừa thãi quá không khi tô điểm thêm “rực rỡ đón xuân sang”. Thay vào đó hãy để người đọc suy ngẫm cùng người sáng tác.

Trước những bài thơ haiku trùng kigo này, người đọc dễ cảm thấy nặng nề, ngộp thở với sự “hào phóng” của các mùa trong một bài haiku, bởi “bản chất” của thơ haiku là “kiệm lời”, “nói ít hiểu nhiều” (thậm chí nói ít đến mức khó hiểu hoặc không hiểu nổi). Các chuyên gia thơ haiku Nhật Bản còn cho rằng không khó nhận ra sự chưa thấu hiểu cái bản chất cơ bản của thơ haiku nếu vấp phải những lỗi như thế.

Chuyên gia Natsui Itsuki dí dỏm ví von “Haiku như một sân khấu nhỏ bé, trên đó có một nhân vật chính với bốn bề kẻ địch là các ngôn từ, thuật ngữ. Vốn đã nhỏ bé trên sân khấu chỉ vỏn vẹn 17 âm tiết, mà lại đến hai hoặc thậm chí ba, bốn nhân vật chính (quý ngữ - kigo) thì hỡi ôi biết đâu mà lần[8].

Tạp chí “俳句αあるふあ”(Haiku Alpha)số tháng 4-5, 2017 đưa ra những nguyên tắc chính để đánh giá bài thơ haiku tiếng Nhật như sau[9]:

  1. Chỉ sử dụng một kigo
  2. Tính biểu hiện đơn giản
  3. Tránh sử dụng thuật ngữ mang tính đương nhiên
  4. Chỉ tập trung vào một vấn đề
  5. Không viết thành 3 dòng
  6. Có thể dễ dàng thay đổi thứ tự giữa các từ
  7. Trọng tâm vào một điểm trong bài
  8. Chỉ nên sử dụng một động từ
  9. Tránh biểu hiện mang tính tranh luận

10. Sử dụng số ít thay vì số nhiều

Cũng nhờ sự tinh tế biểu cảm này, mà bài thơ “con ếch” dù qua hàng trăm thế kỷ, vượt qua bao biên giới, nhưng vẫn thu hút biết bao người đọc nghiễn ngẫm, dịch đi dịch lại để khám khá những hình ảnh ẩn ý đến mức muốn hiểu rõ chắc phải “đành hỏi tác giả”.

古池や蛙飛び込む水の音(Matsuo Basho)

Furu ike ya / kawazu tobikomu / mizu no oto

Ao cũ / con ếch nhảy vào / tiếng nước (Quỳnh Như dịch)

Hình ảnh của bài thơ con ếch này cũng giống như một sân khấu thu nhỏ vậy. Nơi đó, có bối cảnh là “ao cũ” (setting), nhân vật chính “con ếch” (character) với hành động “nhảy vào” (act, plot), và kết quả “tiếng nước” là chủ đề hình ảnh (image) đã được thu gọn trong bài thơ 17 âm tiết[10]. Bài thơ không cần ồn ào mô tả “ao xưa” như thế nào, “tiếng nước vang xa” đến đâu, “đàn ếch, hay một con ếch” nhảy vào, ấy vậy bài thơ đã lôi cuốn biết bao nhiêu người trên thế giới. Chỉ với vài ba từ dung dị “ao – ếch – nước”, đến nay bài thơ đã được dịch qua hơn 100 bài tiếng Anh[11]. Hình ảnh mô tả (chủ đề của bài thơ) của tác giả không biểu lộ rõ rệt mà được nén chặt, che lấp cuộc vận động không ngừng của một thế giới tiềm ẩn đằng sau sự tĩnh lặng của ngôn từ được chắt lọc một cách siêu việt nhất.

Cũng với bài thơ con ếch vỏn vẹn đôi ba từ như thế, năm 1993, Lee O -Young đã xuất bản cuốn sách với tựa đề là câu hỏi “はなぜ古池むか (Tại sao con ếch lại nhảy vào ao cũ)” để đi tìm những ẩn ý quá thầm lặng trong bài thơ. Và tác giả đã kết luận rằng “Tất nhiên bài thơ con ếch đang được lưu truyền rộng rãi khắp thế giới. Nhưng quả thật đây lại là bài thơ mà chẳng ai biết gì về nó cả[12] . Phải chăng, thế mới là thơ haiku?

  1. 3. Vận mệnh tương lai thơ haiku: Tinh tế tức thời với thời đại

Từ khi được định hình đến nay, cùng với sự phát triển của thời đại, thơ haiku trải qua bao giai đoạn thăng trầm của sự phát triển, cách tân, biến đổi và thăng hoa. Những quy tắc của thơ haiku có thể thay đổi, thể thơ haiku có thể linh động không nhất thiết phải 5-7-5 âm tiết, có những lúc thơ haiku cũng chẳng cần kigo để được gọi là “muki 無季” (vô quý – không kigo). Tất nhiên thôi, nhất là trong xã hội đầy năng động mang tính toàn cầu hóa.

Ngày nay, bên cạnh phát triển ổn định tại Nhật, thơ haiku đang đến với ngày càng nhiều quốc gia. Để làm được điều đó, hẳn có lý do của nó. Phải chăng đó là nhờ haiku vẫn luôn dựa trên nền tảng của tính truyền thống vốn có nhằm tránh những sự ngộ nhận không đáng có cho thế hệ haiku thời sau này. Điều này cũng giống như, nếu không khéo, sẽ mắc phải loạt quy phạm về kigo, và các lỗi khác như “言葉の無駄遣い – Sử dụng ngôn từ một cách phí phạm[13]. Cho đến nay, Nhật Bản vẫn tiếp tục khẳng định “Haiku là văn học của “kata”(khuôn mẫu) [14].

Sự lặng lẽ đầy tinh tế ấy, đôi lúc khiến cho người đọc thơ haiku gặp không ít khó khăn trong quá trình nắm bắt những đề tài mà nhà thơ muốn truyền đạt.

Chuyên gia Natsui Itsuki đã khuyên “hãy đặt thơ haiku lên vai bằng cái cơ bản nhất[15]. Ngay cả ngày nay, các Hội thơ haiku Nhật Bản khi sinh hoạt sáng tác và bình chọn thơ haiku, đều yêu cầu tuân theo những yếu tố truyền thống cơ bản. Tất nhiên, các tính truyền thống đó đang được tiếp biến hay thay đổi như thế nào, cũng được các chuyên gia cập nhật và phổ biến cho hội viên. Cách hiệu đính các bài thơ haiku như ví dụ ở trên xuất hiện đều đặn trên các chương trình “Giờ học haiku”, hoặc trong các trang sách “Hiệu đính haiku”, trong đó có công khai tên người sáng tác và người hiệu đính. Làm được điều này góp phần giúp người đến với thơ haiku luôn nhìn nhận đúng những giá trị thẩm mỹ trong biểu hiện cảm xúc, cách thể hiện và nhằm tránh ngộ nhận rằng chỉ cần ngắn gọn, có hình ảnh thiên nhiên là có haiku.

Bên cạnh đó, để tránh trường hợp sử dụng trùng lắp kigo, các hội haiku Nhật Bản liên tục xuất bản những từ điển kigo mới, hoặc trên các tạp chí thơ haiku mỗi kỳ, mỗi tháng đều có hạng mục “Kigo tháng này”, “Kigo mới”…để giúp người sáng tác lẫn người đọc nhận định được đâu là kigo, để sử dụng cho đúng. Vì mỗi mùa, mỗi thời tiết, có rất nhiều thuật ngữ về hoa trái, cây cảnh, đời sống, văn hóa...nếu người sáng tác không nhận diện được sẽ vô tình sử dụng mà không biết rằng mình đang sử dụng thừa thãi.

Dưới đây là một thuật ngữ kigo “kearashi” trong “Từ điển Saijiki (tuyển tập kigo) đương đại (現代俳句歳時記)” được “Hội đồng biên tập Saijki hiện đại” xuất bản năm 1999.

けあらしに水際知らぬ声を出す (Quỳnh Như)

kearashi ni / mizugiwa shiranu / koe wo dasu

Lờ mờ hơi nước / biết đâu bến bờ / cất tiếng kêu (Quỳnh Như dịch)

Tác giả bài thơ trên sử dụng quý ngữ “kearashi” (tạm dịch là “làn hơi nước”), được lấy từ trang 704 của “Từ điển Saijiki (tuyển tập kigo) đương đại.  Nhưng thật ngạc nhiên, khi bài thơ được công bố năm 2015 trước các Hội thơ haiku của Nhật Bản ở Kyoto, Tokyo thì hầu như ít ai biết đến quý ngữ này.

Thì ra “kearashi” là thuật ngữ được sử dụng nói về thời tiết tháng 12 ở vùng Đông Bắc, nhiều nhất là ở Hokkaido khi khí hậu trở lạnh làm mặt nước, mặt biển bốc hơi khói (giống như trời lạnh người thở ra khói vậy). Hiện tượng này lại ít được thấy ở các vùng khác, vì thế nhiều người Nhật không biết đến là vậy.

Chính vì thế, các nhà haiku Nhật Bản cho rằng thơ haiku còn mang một trọng trách quan trọng khác là truyền bá và nuôi dưỡng ngôn ngữ tiếng Nhật. Bởi có thể thế hệ trẻ ngày nay chưa từng biết đến nhiều thuật ngữ kigo từ thời xa xưa, hoặc ngay cả nhiều người Nhật ngày nay cũng chưa từng trải nghiệm những hiện tượng thiên nhiên kỳ ảo ngay trên quê hương mình như trường hợp “kearashi”.

Giá trị của thơ haiku còn là thế. Sự tinh lọc những gì xảy ra trong thiên nhiên, trong cuộc sống, tình cảm con người được gửi gắm vào thơ haiku một cách tinh tế, khéo léo, nhẹ nhàng, lẳng lặng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, rồi từ Nhật Bản đến với nhiều quốc gia khác nhau.

Theo truyền thống, thơ haiku thường được định nghĩa là “thơ thiên nhiên (俳句は自然詩[16])”. Nhưng không chỉ có thế, theo Kyorai – học trò xuất sắc của Basho, “Thơ haiku của Basho không chỉ có thiên nhiên bốn mùa, mà còn sâu lắng tình cảm nói về tình yêu, về danh lam thắng cảnh, những chuyến du hành, và cả sự ly biệt. Nhưng không vì thế mà cho rằng thơ haiku của Basho là không có yếu tố “ki (Quý – mùa)[17].

Hóa ra trong thơ haiku của Basho cũng chan chứa tình yêu về con người, khoảnh khắc và thiên nhiên. Chính những địa danh, những thời khắc của nhà thơ là những từ khóa đầy ẩn ý về sự vận chuyển của con người tạo nên không gian và thời gian thiên nhiên ấy. Đó là sự vận động giữa “Con người – Không gian – Thời gian”, mà trong đó, “Con người” (Cảm xúc của tác giả) luôn được nén chặt, che giấu. Nhiều người đã cho rằng thơ haiku chỉ chủ yếu nói về thiên nhiên, nhưng mấy ai có thể ngờ rằng ngay cả nhà thơ Matsuo Basho đã từng say đắm đề tài về “tình” về “yêu” trong thơ haiku. “Tình và Yêu đó là sức mạnh của thơ haiku. Trong quý ngữ haiku, có rất nhiều thuật ngữ nổi tiếng. Tình và Yêu có nghĩa rất rộng, từ tình yêu thiên nhiên đến tình yêu giữa con người với con người, và cả tình yêu nam nữ”[18]. Thậm chí, “Thơ haiku còn được gọi là thơ tình (詩情)[19]”.

ユニセフへ募金送金冬ぬくし(柘植草風Tsuge Sofu)[20]

Gửi Unicef / tiền quyên góp / thanh thản mùa Đông (Quỳnh Như dịch)

Hay nói cách khác, thơ haiku đang mang trong nó một sứ mệnh “truyền bá ngôn ngữ và văn hóa”. Và cũng vì thế, Nhật Bản đang chuẩn bị để đưa thơ haiku lên một tầm cao mới: Đăng ký Di sản văn hóa thế giới với UNESCO.

Ngày nay, thơ haiku đã chạm cửa đến với hơn 70 quốc gia[21] . Mỗi quốc gia đón nhận và tiếp biến tùy theo đặc trưng của văn hóa và ngôn ngữ của mỗi nước. Nhưng không vì thế, những giá trị tinh tế của haiku Nhật Bản bị lu mờ. Chủ tịch Arima Akito – Hiệp hội Giao lưu quốc tế haiku, đã từng nói rằng:

Chủ đề của haiku có trong cảm quan thiên nhiên và cuộc sống con người...Haiku còn có sức mạnh giáo dục cho thế hệ mai sau. Chính sự biểu lộ tình cảm một cách tinh tế thông qua ngôn từ giúp nâng cao năng lực thể hiện, trở thành sự tôi luyện tối giản các suy nghĩ của bản thân. Tại Mỹ, haiku được đưa vào giờ học cũng là nhằm nâng cao năng lực biểu hiện của trẻ em. Nếu trở thành di sản văn hóa của Unesco, haiku sẽ có vai trò nâng cao năng lực ngôn ngữ không chỉ cho trẻ em Nhật Bản, mà còn trẻ em trên toàn thế giới.[22]

Lời kết

Ngôn ngữ thơ haiku được cho là mênh mông và sôi động như biển cả. Biển thì có các tầng nước khác nhau: nổi trên mặt biển, lưng chừng dưới biển và chìm sâu dưới đại dương. Cũng có thể ví von rằng trong thơ haiku, những từ ngữ thịnh hành trong giới trẻ như đang là đà nổi trên mặt biển ai cũng thấy; còn từ ngữ thông dụng trong đời sống thường nhật đang chìm nổi giữa dòng nước; và đang lắng sâu dưới đáy biển chính là các vấn đề giữa quy tắc và bất quy tắc của 5,7,5 âm và thơ dư từ, giữa kigo và không cần kigo....

Tất nhiên, biển là phải có sóng, những cơn sóng lúc thì hiền hòa đôi khi thật dữ dội nhưng sau mỗi lần sóng rút đi, biển lại trở về với sóng vỗ bình yên. Trong thơ haiku, những cơn sóng bất chợt ấy là các bước cách tân, đột phá trên tinh thần “phá vỡ là một bước tiến của bảo tồn”. Nhờ tinh thần ấy, thơ haiku luôn phát triển đa dạng, chấp nhận những thay đổi để thích ứng với mọi thời đại. Sự phát triển rầm rộ ra nước ngoài của thơ haiku cũng là một minh chứng vị thế của một thể loại thi ca lớn của Nhật Bản, mang trong nó giá trị phương Đông và cả phương Tây và sự tự hào của các thi pháp nghệ thuật.

Cũng như đời sống văn hóa, thơ haiku luôn tức thời với thời đại. Những nguyên tắc truyền thống duờng như bất di bất dịch trong thơ haiku luôn được vận động, kết tinh, nhờ đó thơ haiku luôn được làm mới (renewed). Xin mượn lời của chuyên gia thơ haiku Inui để kết cho bài viết này 俳句非常しい形式文芸 - Haiku là thể loại văn chương vô cùng mới.”[23]

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Nam Trân (dịch và bình chú) (2016), Okuno Hosomichi – Con đường hẹp vào chiều sâu tâm thức, NXB Hồng Đức
  2. Akio Arima (2016), “俳句で世界を平和に(Haiku và hòa bình thế giới)” , 『HI 2016第126号』, Tạp chí Hiệp hội Giao lưu quốc tế thơ haiku, số 126/2016)
  3. Fukumoto Ichiro (1979), “芭蕉の美意識” (Ý thức thẩm mĩ của Basho), Ishikawa Shobou, Japan.
  4. Fukumoto Ichiro (2014) , “俳句と川柳”(Thơ haiku và thơ Senryu), Kodansha.
  5. Gekkan Haikukai (2015) (月刊 俳句界, September No.230, 2015) (Nguyệt san Thế giới thơ haiku Số 230, 9/2015), Bungaku no mori, Tokyo.
  6. Inui Hiroyuki (2002), “俳句の本質” (Bản chất Haiku) , 関西大学出版部(NXB ĐH Kansai)
  7. Ishi Kanta (2017), “俳句αあるふあ4-5/2017 No 159” (Haiku Alpha), Mainichi Shinpun Shuppan.
  8. Lee O -Young (1993), “蛙はなぜ古池に飛び込むか” (Tại sao con ếch lại nhảy vào ao nước cũ), 学生社 (Gakusei Sha).
  9. Natsui Itsuki (2015), “俳句教室”(Lớp học Haiku), NXB Asahi.
  10. Ogure Kouhei (2004), “俳句の国際化, No 55/2004” (Quốc tế hóa thơ haiku, Tạp chí Hiệp hội Giao lưu quốc tế thơ haiku, số 55/2004), 国際俳句交流協会出版 (Hiệp hội Giao lưu haiku quốc tế)
  11. R.H. Blyth (1981-1982), “Haiku Volume 1~4: Eastern Culture, Spring, Summer-Autumn, Autumn-Winter”, The Hokuseido Press Tokyo, Heian International South San Francisco.
  12. Sumiko Kajiyama (2013), “Cool Japan: A guide to Tokyo”, Kyoto, Tohoku and Japanese culture past and present, New York: Museyon.
  13. HI Senshu (Tuyển thơ haiku) “HI 2017 No.129”, Tạp chí HI Haiku - Hiệp hội Giao lưu quốc tế thơ haiku, số 129/2017.


Ghi chú:

[1] Tác phẩm Oku no hosomichi - 奥の細道được dịch ra tiếng Việt với nhiều tên gọi khác nhau. Tác giả bài viết tự dịch và chọn tên gọi “Thăm thẳm con đường hẹp” dựa trên ý nghĩa của từ Oku (sâu thẳm) và cảm xúc trải nghiệm khi khám phá các nẻo đường đã khắc ghi dấu ấn của tác phẩm.

[2] Sumiko Kajiyama (2013), Cool Japan: A guide to Tokyo, Kyoto, Tohoku and Japanese culture past and present, tr.210.

[3] Theo Nhật Bản, nếu viết thơ haiku bằng tiếng Nhật, thì phải ghi hoặc theo chiều đứng liên tục từ trên xuống. Hoặc viết ngang thành một dòng, chứ không viết thành ba dòng.

[4] Nguyễn Nam Trân (dịch và bình chú) (2016), Okuno Hosomichi – Con đường hẹp vào chiều sâu tâm thức, tr.102

[5] Lee O-Young (1993), 「蛙はなぜ古池に飛び込むか」, tr. 210

[6] Sumiko Kajiyama (2013), Cool Japan: A guide to Tokyo, Kyoto, Tohoku and Japanese culture past and present, tr.207.

[7] Natsui Itsuki (2015),俳句教室(Lớp học Haiku), tr.12

[8] Natsui Itsuki (2015),俳句教室(Lớp học Haiku), tr.13

[9] Ishi Kanta (2017), 俳句αあるふあ4-5/2017 No 159 (Haiku Alpha), Mainichi Shinpun Shuppan, tr. 88

[10] Lee O-Young (1993), 「蛙はなぜ古池に飛び込むか」, tr.216

[11] Sumiko Kajiyama (2013), Cool Japan: A guide to Tokyo, Kyoto, Tohoku and Japanese culture past and present, tr.209

[12] Lee O-Young (1993), 「蛙はなぜ古池に飛び込むか」, tr.237

[13] Natsui Itsuki (2015),俳句教室(Lớp học Haiku), tr.57

[14] Natsui Itsuki (2015),俳句教室(Lớp học Haiku), tr.7-8

[15] Natsui Itsuki (2015),俳句教室(Lớp học Haiku), tr.8

[16] Fukumoto Ichiro (2014) , 俳句と川柳(Thơ haiku và thơ Senryu), tr.229

[17] Lee O -Young (1993), 蛙はなぜ古池に飛び込むか (Tại sao con ếch lại nhảy vào ao nước cũ), tr.216

[18] Kojima (2017), NHK Haiku, “Tình và Yêu – Đó là sức mạnh của thơ haiku”, tr.30.

[19] Fukumoto Ichiro (2014) , 俳句と川柳(Thơ haiku và thơ Senryu), tr.233

[20] Tsuge Sofu, HI Senshu (Tuyển thơ haiku) “HI 2017 No.129”, Tạp chí HI Haiku - Hiệp hội Giao lưu quốc tế thơ haiku, số 129/2017, tr.44.

[21] Ogure Kouhei (2004), 「俳句の国際化」『HI 2004第55号』(Quốc tế hóa thơ haiku, Tạp chí Hiệp hội Giao lưu quốc tế thơ haiku, số 55/2004), tr.2

[22] Akio Arima (2016), “俳句で世界を平和に(Tạp chí Hiệp hội Giao lưu quốc tế thơ haiku, số 126/2016), tr.4

[23] Inui Hiroyuki(2002), 俳句の本質(Bản chất Haiku), tr.392

Tuế thời ký (Saijiki歳時記) - bách khoa toàn thư thơ haiku

Tại Nhật Bản, người mới học làm thơ haiku được các bậc thơ haiku tiền bối khuyến khích đọc và tìm hiểu thơ haiku từ các sách liên quan đến bốn mùa như “Nihon Saijiki” (Tuế thời ký Nhật Bản), “Kotoba no Saijiki” (Thuật ngữ Saijiki)…và xem đó như là cẩm nang khi đến với thơ haiku.

alt

Saijiki là gì? Nói đến Saijiki, không ít người liền liên tưởng ngay đến thơ haiku, cho rằng đó là tuyển tập quý ngữ để dùng khi sáng tác thơ haiku. Thật ra, Saijiki đã được ra đời từ trước khi thơ haiku xuất hiện. Được du nhập vào Nhật Bản, lưu truyền từ thời kỳ tiền thơ haiku, Saijiki tập hợp những thuật ngữ liên quan đến đời sống văn hóa gắn liền với thiên nhiên.

Khi nhà thơ Basho và thơ haikai ra đời, bộ sách “Nihon Saijiki” (Tuế thời ký Nhật Bản) được biên soạn. Hình ảnh cuộc sống trong dân gian, phong tục tập quán, đời sống dân dã…hòa quyện với thiên nhiên bốn mùa được khắc họa bằng những bài thơ haiku xuất hiện trong các bộ sách Saijiki này. Từ đó các thuật ngữ trong Saijiki trở thành Kigo (Quý ngữ) – một trong các quy ước không thể thiếu trong thơ haiku. Với vai trò quan trọng về nội dung lẫn hình thức, kigo còn được gọi là sinh mệnh của thơ haiku:

Theo thơ haiku truyền thống, kigo là cần thiết và chất liệu này phần lớn phụ thuộc vào thiên nhiên. Nét quyến rũ của thơ haiku là thông qua kigo luôn nắm bắt được hình ảnh thiên nhiên, cô đọng sự vĩnh hằng của thiên nhiên vào một thể thơ cực ngắn. Kigo phản ánh sự chuyển động của thiên nhiên, nhờ vay mượn sự rộng lớn của thiên nhiên được thể hiện thông qua quý ngữ, thơ haiku đã khắc phục được tính bé nhỏ vốn có của riêng mình[1].

Đời sống văn hóa phong phú hòa mình với thiên nhiên đã ban tặng cho ngôn ngữ tiếng Nhật một kho tàng đồ sộ các thuật ngữ nói về kigo. Từ thế kỷ XVII, các bộ sưu tập kigo đã được tập hợp và soạn thảo, cho đến nay nhiều từ điển kigo được xuất bản, tiêu biểu nhất là bộ sưu tập Saijiki tập hợp các kigo được phân loại theo địa lý, động vật, thực vật…qua sự thay đổi bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Theo lời Fuji Kunihito, “Nhật Bản có thể hãnh diện với tự điển Saijiki duy nhất trên thế giới này”[2].

Nói đến đây, có thể có nhiều ý kiến cho rằng, đó là những gì thuộc về thơ haiku truyền thống, là những quy luật của ngày xưa. Còn ngày nay, nhất là từ sau thời kỳ Minh Trị Duy tân, thơ haiku đã được thay đổi, thoát khỏi những quy định mà đã từng lầm tưởng khi cho rằng chúng ràng buộc, làm vướng sự thăng hoa của thơ haiku. Chính nhờ sự thay đổi thần kỳ của thơ haiku thời kỳ nhà thơ Masaoka Shiki (1867-1902), các thuật ngữ mới du nhập từ phương Tây xuất hiện trong thơ haiku hòa quyện với vẻ đẹp truyền thống của Nhật Bản đã đưa thơ haiku ngày càng được thăng hoa cùng thời đại.

子供がちにクリスマスの人集ひけり(Masaoka Shiki)

Kodomogachi ni kurisumasu no hitoatsuhi keri

Đám trẻ nhỏ

tụ tập vây quanh

bên cây Noel
(Quỳnh Như dịch)

Cũng chính nhờ đó, thơ haiku như được vươn mình ra với thế giới bên ngoài, mở rộng đề tài để thoát khỏi những giới hạn vốn có[3]. Cũng chính nhờ đó, thơ haiku như kính vạn hoa phát triển đa dạng, nhiều sắc thái, nhưng vẫn đi theo con đường “vừa biến đổi để phù hợp với thời đại vừa kế thừa bản sắc truyền thống”. Do đó thơ haiku - Cũ mà mới là thế.

Nhờ thế, ngày nay, tại Nhật các nhà thơ haiku tuy đến từ nhiều trường phái khác nhau từ thơ haiku từ truyền thống đến hiện đại, từ nội địa đến hải ngoại, từ giới trẻ đến tiền bối...vẫn luôn mang theo mình các cẩm nang về Saijiki, hoặc tuyển tập Kigo - quý ngữ khi sáng tác và bình luận thơ haiku.

Tham dự các buổi sinh hoạt sáng tác và bình chọn thơ haiku của các hội thơ haiku khác nhau tại Nhật, mỗi lần đến là mỗi lần đem về thêm một kiến thức của một nền văn hóa phong phú từ cổ truyền đến hiện đại qua những bài thơ haiku. Bởi, mỗi lần sinh hoạt thơ haiku, dù là hội thơ hiện đại của giới trẻ, dù không bó buộc phải có quý ngữ kigo, nhưng vẫn nhắc nhau trong thơ haiku nên có thuật ngữ nói về thời tiết của ngày hôm nay, của mùa này, tháng nọ...Ấy thế, có người đã nói rằng, đọc thơ haiku là đọc được kiến thức văn hóa tiềm ẩn đằng sau nó.

Nhờ thế, ngày nay, tại Nhật các nhà thơ haiku tuy đến từ nhiều trường phái khác nhau từ thơ haiku từ truyền thống đến hiện đại, từ nội địa đến hải ngoại, từ giới trẻ đến tiền bối...vẫn luôn mang theo mình các cẩm nang về Tuế thời ký (Saijiki), hoặc tuyển tập Kigo - quý ngữ khi sáng tác và bình luận thơ haiku. Gần đây, Bộ “Tuế Thời ký Haiku mới nhất” (Saishin Haiku Saijiki) được biên soạn, phân loại chi tiết các đời sống văn hóa xã hội qua các mùa như Thiên nhiên, Đời sống, Văn hóa, Địa lý, Lễ hội, Trang phục, Ẩm thực, Ăn - Ở - Mặc...khá chi tiết và xem đó như là cẩm nang khi đến với thơ haiku”[4]. Nhiều người còn ví von rằng các Bộ Tuế Thời ký haiku (Haiku Saijiki) có thể được xem là Bộ Bách khoa toàn thư thơ haiku.

Ví dụ, nói đến ánh trăng chẳng hạn. Trăng thì lúc nào cũng có thể nhìn thấy được cơ mà. Có gì lạ đâu. Nhưng với Nhật Bản, “trăng” quý ngữ của mùa thu bởi vì đêm trăng thu là đêm đẹp nhất. Hoặc nói đến “Hana” (hoa), có thể liên tưởng đến biết bao nhiêu là hoa, nhưng với Nhật Bản, mùa hoa đẹp nhất là mùa hoa anh đào.

監視カメラ映像に花降りしきる[5](Sugiura Keisuke)
kanshi kamera / eizo ni hana /ori shikiru
Camera giám sát

ghi hình

những cánh hoa rơi
(Quỳnh Như dịch)

Bài thơ mang đậm phong cách hiện đại với cấu trúc 6 – 7 – 6, sử dụng hình ảnh rất thời đại “Camera quan sát” (camera giám sát) trong bối cảnh đông người chen chúc ngắm hoa mùa hoa anh đào. Dù vậy, bài thơ vẫn không quên đưa vào quý ngữ “hana”. Trao đổi với tác giả của bài thơ nói trên, mới biết “hana” (hoa) trong bài thơ nghĩa là hoa anh đào (sakura). Tác giả bài thơ còn nhấn mạnh rằng khi nói đến “Lễ hội hoa” thì hầu như người Nhật Bản nào dù không phải dân chơi thi ca đều ý thức đó là “đi ngắm hoa anh đào”. Thơ haiku Nhật Bản ngày nay dù hiện đại đến đâu đi nữa nhưng vẫn luôn chú trọng cái “chất” như thế. Nhờ vậy dù thơ haiku đang được lan tỏa ra khắp mọi miền trên thế giới, nhưng haiku vẫn là haiku và luôn được bảo tồn.

Khi Nhật Bản bước vào thời kỳ hiện đại, các bộ thuật ngữ Saijiki cũng được biến đổi. Nếu trước kia, các thuật ngữ được phân loại dựa theo bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông thì nay đã thành năm mùa “Năm mới, Xuân, Hạ, Thu, Đông”. Nếu trước kia, bộ Saijiki chỉ là “Nihon Sakiji” (Tuế thời ký Nhật Bản), thì nay đã xuất hiện “Sekai Saijiki” (Tuế thời kỳ Thế giới). Tất nhiên thôi vì thơ haiku ngày nay đã được lan truyền rộng rãi hơn 70 quốc gia trong đó có Việt Nam.

Lật xem thử bộ Sekai Saijiki (Tuế thời kỳ Thế giới), thật ngỡ ngàng, khi những hình ảnh đời sống văn hóa của thế giới của các quốc gia từ Đông Á, Đông Nam Á, Thái Bình Dương, đến Trung Đông, châu Mỹ, Châu Âu...Tất cả đều được minh họa bằng các thuật ngữ của “kigo” (từ nói về mùa) phân chia theo các thể loại theo các mùa: thực vật, văn hóa, đời sống...và cụ thể hóa bằng những dòng thơ haiku nói về các quốc gia đó. Đúng là thơ haiku đã được “Quốc tế hóa”.

Trong bộ “Sekai Dai Saijiki - Đại Tuế Thời ký Thế giới” đã bắt gặp những bài thơ haiku của các nhà thơ haiku Nhật Bản viết về Việt Nam. Đây là những bài thơ có thể là ký ức, hoài niệm về một thời đã từng đặt chân hoặc từng được biết đến Việt Nam. Đọc đi đọc lại, kìa là thành phố Hồ Chí Minh dưới những cơn mưa dông cùng hình ảnh thiếu nữ áo dài với chiếc nón lá, Huế yên bình bên cầu Nhật Bản, lễ hội bên bờ hồ Hà Nội, và hình ảnh miền quê thân thương của cánh đồng cỏ, vi vu gió tại các tỉnh miền Nam như Tây Ninh, Mỹ Tho, Vĩnh Long...

スコールに自転車洗ふ街の子ら[6] (Takahashi Kenichi)

Cơn mưa dông

lũ trẻ

rửa xe đạp
(Quỳnh Như dịch)

Rõ là hình ảnh của thiên nhiên, của đời sống văn hóa quen thuộc của thành phố Hồ Chí Minh vào mùa mưa được các tác giả khắc họa thật là sinh động. Các thi sĩ thơ haiku người Nhật thật tinh tế khi đã làm giàu Bộ Bách khoa toàn thư Saijiki của họ bằng những thuật ngữ kigo (quý ngữ) mới bằng hình ảnh của một nơi vượt ngoài biên giới.

Nhưng chỉ một số ít bài thơ haiku để nói về quý ngữ của Việt Nam từ Nam chí Bắc như thế quả là quá khiêm tốn. Cũng không lạ, bởi bộ sách được xuất bản năm 1995, khi ấy thơ haiku Việt chưa nở rộ như ngày nay. Nhưng điều đó không thể cho rằng thế giới thiên nhiên, văn hóa đời sống truyền thống của người Việt cũng chỉ gói gọn trong một ít bài thơ haiku như thế.

Thơ haiku Việt đã trải qua chặng đường khoảng hơn 10 năm kể từ khi cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt lần đầu tiên được tổ chức vào hè năm 2007. Từ những bước đi bỡ ngỡ ban đầu, chưa quen thuộc với các quy luật, nguyên tắc... nay thơ haiku đã nở rộ khắp mọi miền đất nước. Nên chăng, thơ haiku Việt cũng cần xây dựng bộ chuẩn Tuế thời ký Saijiki Việt. Nhờ có Saijiki Việt, các nhà thơ haiku Việt sẽ có thêm nguồn tư liệu thuật ngữ để làm giàu đề tài sáng tác.

Và biết đâu, đến một lúc nào đó, các nhà thơ haiku Nhật phải vay mượn các thuật ngữ quý ngữ Việt để sáng tác thơ haiku Nhật từ chính bộ Saijiki Việt. Bởi khi đó, Saijiki Việt sẽ trở thành nguồn tài liệu quý báu cho các thi sĩ haiku Nhật tham khảo vô vàn những tinh túy về đời sống văn hóa từ truyền thống đến hiện đại của Việt Nam qua những từ khóa, quý ngữ được minh họa bằng chính những bài thơ haiku Việt của thi sĩ Việt.

Mưa Rước Cá[7]

Mãi rơi trên cánh đồng

Biệt tăm bóng cá

(Hồ Trường)

Giải ba Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt lần 3 năm 2011[8]

Chuồn chuồn kim

Kết đôi trên cánh đồng

Lúa trĩu bông

(Nguyễn Xuân Tấn, Đồng Nai)

Giải nhì Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt lần 5 năm 2015[9]

Chuồn chuồn kim là hình ảnh quen thuộc trong đời sống và của nền nông nghiệp Việt Nam, mà ngay từ thuở nhỏ chắc hẳn ai cũng nhớ đến.  “Chuồn chuồn kim kết đôi trên cánh đồng trĩu hạt phải chăng còn là thể hiện niềm tin có tính phồn thực giáo từ ngàn xưa của cư dân trồng lúa nước của cư dân chúng ta?[10]

Khi tham gia sáng tác thơ haiku tại Nhật, đã thử đóng góp bằng một bài thơ nói về những cánh hoa phượng khô được ép vào từng trang nhật ký thưở học trò.

火炎樹を飽きずに拾い押し花に (Quỳnh Như)

kaenju wo / akizu ni hiroi / oshi hana ni

Chùm phượng vĩ

lượm ép mãi không thôi

những cánh hoa

(Quỳnh Như dịch)

Bài thơ sau đó được tờ báo “The Kumano Shimpun” đánh giá “Với những đặc trưng gắn với đời sống mùa hè, Phượng vĩ có thể trở thành một quý ngữ của thơ haiku Việt lắm chứ. Vì thế những bài thơ haiku về Phượng vĩ hoàn toàn có khả năng trở thành bài thơ haiku sáng giá”. [11]

Với tham vọng đó, ao ước sao về một hành trình mới nghiên cứu thơ haiku: đi tìm Saijiki Việt (Tuế Thời ký Thơ haiku Việt). Và cũng chính nhờ từ tuyển tập các bài thơ haiku dự thi các Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt, từ các tuyển tập thơ haiku của các nhà sáng tác thơ haiku Việt có thể xây dựng được Bộ Saijiki Việt này chứ. Được chứ tại sao không!


[1] Yamashita Kazumi (1998), 『俳句への招待 (Xin mời đến với thơ haiku), Shogakukan, Japan, tr.15.

[2] Fuji Kunihito (1998), 「俳句の授業・俳句の技法  どう教え どう作るか」 (Giờ dạy thơ haiku thi pháp thơ haiku cách dạy và cách làm thơ), Meiji Tosho Co, Japan, tr.201.

[3] Yamamoto Kenkichi (2016), 「ことばの歳時記 」 (Từ vựng của Saijiki), NXB Kadokawa, tr312.

[4] Yamamoto Kenkichi (2016), 「ことばの歳時記 」 (Từ vựng của Saijiki), NXB Kadokawa, tr.318.

[5] 「草樹」 Tạp chí Soju”, Số 70 tháng 6 năm 2017, tr.60.

[6] Kaneko Tota (Chủ biên)「世界大歳時記」(Sekai Dai Saijiki - Đại Tuế Thời ký Thế giới, NXB Kadokawa Shoten, Năm 1995, tr. 273)

[7] Tên gọi những cơn mưa cuối mùa ở miền Nam, thường gọi Tiết Mang Chủng, tháng 10 âm lịch, cũng là lúc cá trên đồng tìm đường ra sông. (Kỷ yếu Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt lần thứ 3 năm 2011, Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tại TP.HCM, tr.17).

[8] Giải ba Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt lần 3 năm 2011.

[9] Kỷ yếu Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt lần thứ 3 năm 2011, Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tại TP.HCM, tr.44

[10] Đoàn Lê Giang 「Kỷ yếu Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt lần thứ 3 năm 2011」, Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tại TP.HCM, tr.45

[11] Sugiura Keisuke, Báo Kumano Shimpun, ngày 14/5/2017, tr.3

* Nguyễn Vũ Quỳnh Như, TS. Khoa Nhật Bản học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.

Tản mạn thơ haiku bốn mùa tại Nhật Bản

Nguyễn Vũ Quỳnh Như

Trong thời gian nghiên cứu thơ haiku tại Nhật Bản, nhiều bài thơ haiku đã được sáng tác bằng tiếng Nhật theo từng mùa, theo các quy định thơ haiku truyền thống Nhật như: quý ngữ, từ ngắt (mỗi bài chỉ được 1 quý ngữ, 1 từ ngắt)…Dưới đây là các bài thơ haiku được dịch từ các bài tự sáng tác bằng tiếng Nhật khi tham gia Hội thơ tại Nhật
* Bốn mùa tại Nhật được tính từ tháng 4 là tháng của mùa xuân.

alt

1.
Ngày nhập học
Lũ trẻ xúng xính
Áo kimono
(Nhập học: Quý ngữ đầu xuân)


2. Đường trơn trượt
Ve thôi kêu
Đền Chuson-ji
(Con ve – Semi: Quý ngữ mùa xuân)

3.
Hoa cải vàng
Mãi rung rinh
Vẫn ngủ vùi
(Hoa cải: Quý ngữ tháng 5)

4.
Trước sân ga
Vắng bóng người
ah mùa Obon
(Obon: giống Lễ Vu Lan, quý ngữ mùa hè)

5. Bên sông Sumida
Nhớp nháp ướt át
Pháo hoa Tokyo
(Pháo hoa Hanabi: Quý ngữ mùa hè)

6.
Bước ngang đường
Nghe như thoảng
Hương gừng quê tôi
(Gừng: Quý ngữ mùa thu)

7.
Quả vả tây
Như sao trên trời
Đang rạn nứt
(Quả vả tây: Quý ngữ mùa thu)

8.
Bóng bầu dục rugby
Lăn tròn, lăn tròn
Trước sân ga
(Rugby: Quý ngữ mùa đông – Được du nhập thời hiện đại)

9.
Đông tàn
Đền Miidera
Dòng người tản bộ

10.
Dâng trào
Nỗi nhớ
Món hầm Oden
(Oden: món ăn sưởi ấm, quý ngữ mùa đông)

11.
Đông về
Tán lá thông Basho
Bên đền Ukimido

12.
Ngày giỗ Basho
Ngâm từng bài thơ
Cô đơn mình tôi
(Basho: trở thành Quý ngữ mùa đông)

NVQN

Haiku- Dòng sông trong giữa biển thơ dữ dội

Đinh Nhật Hạnh

Trong vòng xoáy hiện đại đời thường, thế giới quanh ta vừa vô biên, vừa nhỏ hẹp. Tưởng chỉ cần ngồi êm trên máy bay siêu thanh chợp mắt trong vòng 24 giờ đã kịp chu du một vòng quả đất. Hoặc chỉ việc nhấp con chuột thông minh, trong nháy mắt đã thâu tóm được mọi số liệu, mọi sự kiện phức tạp đang- đã và sẽ diễn biến trong và ngoài vũ trụ, trên hành tinh này. Riêng về thơ, tưởng cũng vậy. Nhưng cái thế giới vô thanh ấy xuất hiện kỳ ảo như ánh trăng, như vệt sao băng khó mà đọng lại trong tâm thức ngỡ chỉ cần nhắp máy là hiện lên chóng mặt- đọc không xuể, hiểu không kịp, nhớ không nổi- bằng bất kỳ ngôn ngữ nào, thể loại nào, thời đại nào mình muốn biết. Và rồi mệt mỏi, chán ngán như sau các bữa tiệc linh đình thì dù có chỉ số IQ cao như Bill Clinton cũng không sao nhớ nổi- dẫu chỉ một khổ thơ ngắn nhất của mỗi nước trên thế giới phức tạp này.

alt

Xin hãy cùng cánh thơ lượn lờ giữa biển thơ mênh mông ấy- bay lướt qua lãnh địa thơ 3 quốc gia cổ đại. Nào, ta bắt đầu từ tập Hùng ca GILGAMESH có cách đây 45 thế kỷ bằng chữ AKKAD- loại văn tự có họ xa với chữ Ả Rập và Do Thái khắc trên ngói nung, gồm 3.300 câu thơ trên 11 bảng, đang được bổ sung lần thứ 12 từ các mảnh đất nung rải rác, tập hợp được 2/3 nội dung ban đầu với nỗi trăn trở tuyệt vọng: tìm giải đáp cho câu hỏi ghê gớm nhất, khắc khoải nhất của loài người “Làm sao đương đầu với cái chết” tấn bi kịch về thân phận nhân sinh qua cuộc đời của lão tướng URUK trong bao cuộc phiêu lưu mạo hiểm với ước ao, hy vọng, chiến đấu gian nan cuối cùng vẫn dẫn dắt đến kết cục bi thảm không ai tránh khỏi.

Tiếp đó là Trường ca sử thi, có lẽ đồ sộ nhất xưa nay: KATHA SARITSAGARA (Đại dương truyện) gồm 22.000 khổ thơ, dày gấp đôi 2 tập ILIADE (trường ca chiến trận) và ODYSSÉE (tiểu thuyết phiêu lưu mạo hiểm) của HOMER vĩ đại. Chuyện thơ kỳ vĩ này xoay quanh một Hoàng tử Ấn Độ có vợ yêu bị bắt cóc, quyết đi tìm nàng. Trải qua bao hiểm nguy, đói khát, tai nạn khôn lường, Hoàng tử đã gặp lại vợ mình trong 350 câu chuyện thuộc đủ loại: phiêu lưu, tình ái… có kết cấu chặt chẽ hơn nhiều so với “1000 lẻ một đêm” với nàng SHEHERAZADE tinh quái, tài hoa - ĐẠI DƯƠNG TRUYỆN tiêu biểu cho cảm hứng thi ca đặc trưng Ấn Độ. Ngoài tư tưởng, luân lý và tôn giáo còn là bức tranh sinh động muôn màu của xã hội Ấn Độ xa xưa.

Xin mời rán thêm chút nữa, điểm qua thiên “Sử thi của các đấng quân vương SHHANMÉ”, tượng đài của nền văn học IRAN (Ba Tư) từ thuở khai thiên lập địa. Câu chuyện dài xung quanh cuộc xung đột 1.000 năm của hai vị vua – một thiện là FARIDAN, một ác là ZAHHAK. Rốt cuộc, cái ác bị bại vong – vua ác bị xiềng vĩnh viễn trên núi DAMAVAN để xám hối đời đời. Dân IRAN, người không biết chữ văn chung một nhận thức tổng quan của sử thi này: “Người tốt cũng như kẻ xấu chẳng ai sống mãi”. Đẹp đẽ nhất là để lại việc tốt cho đời”.

Hẳn bạn đọc cũng như kẻ viết dông dài này đã phát mệt vì những con số, những thân phận, biến cố khôn lường… kể sơ lược trên đây dù chỉ mới dám lướt qua vài áng sử thi cổ đại nổi tiếng. Trong thực tế, thơ ca nhân loại hiếm khi hiền hòa, bình lặng mà thường bị cuốn vào vòng xoáy nhân sinh, chao đảo dữ dằn của ĐẠI BI KỊCH CON NGƯỜI thể hiện qua muôn mặt đời thường của dòng đời bươn bả cuồng động vẫn chỉ xoay quanh các trục Giàu - Nghèo, Sống - Chết, Tốt - Xấu, Tình yêu. Nhiều cuộc chiến xưa nay đều kéo dài bao thế hệ, sự giành giật hạnh phúc bị cướp đoạt, sự mưu cần hạnh phúc - quyền sống… cùng bao mưu ma chước quỷ đã dìm bao thời đại trong biển tuyệt vọng, căm giận, hãi hùng đâu giành cho người đọc một phút bình yên mà trí óc phải quay cuồng xáo trộn giữa tấn trò đời khốc liệt.

Những lớp người đương thời chúng ta từng trải bao biến cố lịch sử qua 2 thế kỷ long trời lở đất sau những tháng ngày lao vào cuộc chiến đấu một mất một con với các thế lực đối nghịch, nay đã vui hưởng không khí thanh bình này, đã có thể thư gian suy ngẫm về một cuộc sống nội tâm yên ả, nắn nót ít vần thơ, thả hồn mơ màng về những chân trời xa xanh vẳng tiếng chim gù, có cánh bướm vẽ vòng, ngút trời một màu bằng lăng hoài niệm.

Trên thuyền thơ mong manh cánh bướm ấy ta bỗng lạc vào một dòng sông êm ả, tĩnh lặng, hình như không có tiếng đời chao chát. Có khoảng trời riêng, con đò nhỏ cắm sào đợi khách, có nhạc ve tụng ca mùa hạ ấm, có đàn sếu bay về phương Nam… cánh cò chao phân vân trên màu nắng khói sương Hồ Ba Bể, có đàn cá lượn lờ đông đặc suối Cẩm Thủy đất Thanh. Tiếng võng kẽo kẹt ấm lời mẹ ru năm nảo năm nào bỗng vọng về nhịp với bóng tre ngà lay lắt đưa ta về tuổi thơ êm đềm. Ta bỗng nhẹ người như đã trả về quá khứ những bon chen, bức xúc, khổ cực của cuộc đời vừa hôm qua thôi, soi bóng mình phản chiếu trong gương nước Ao Tiên muôn đời xanh ngọc bích. Cuộc đời sao đẹp đến thế, chỉ cần ngắm một giọt sương mai đọng trên lá cỏ:

“Mải chơi, mải chơi

trên từng lá cỏ

sương và sương ơi”

H.RANSETSU (1654-1707)

(Nhật Chiêu dịch)

Có thể thấy thu nhỏ hình ảnh quê hương:

* “Trong mỗi giọt sương

lung linh

quê mình”

ISSA (1763-1827)

… Một dòng sông đôi bờ mưa nắng:

“Một bờ sông nghiêng nắng

và bờ kia đang rơi

vài giọt mưa lấm tấm”

BUSON (1716-1783)

(Nhật Chiêu dịch)

… Và hổn hển làn sóng biển xuân thì khêu gợi:

“Xuân thì biển

một ngày dài hổn hà hổn hển

hổn hà hổn hển”

BUSON

(Lê Thiện Dũng dịch)

… Trong vòng xoáy của cuộc đời muôn mặt - dẫu trong hào quang nhung lụa hay giữa tột cùng đói khổ, tuyệt vọng ai mà chẳng có lúc nghĩ giống nhau - “lòng vả như lòng sung”:

*“Thiên đường -

một người đàn bà

một bông sen đỏ”

M.SHIKI (1867-1902)

… Rồi bất chợt trước vẻ đẹp nõn nà đến mềm lòng, tạo một tình huống phân vân khó nghĩ, khó quyết cho bất kỳ bậc tu mi nào:

* “Đôi gò bồng đảo,

tuyệt trần

một con muỗi”

OZAKI HOSAI (1885-1926)

… Kể cả với cầm thú - tưởng vô tình vẫn:

* “Hoảng loạn

Cầu thang đổ sập

tình yêu lũ mèo”

SHIKI

… Trăm năm phù thế - dẫu ở thời đại nào vẫn tinh tế đầy tính nhân văn qua mấy câu:

* “Trên cầu treo

đời ta xoắn cuộn

vào thân leo thường xuân”

BASHÔ (1644-1694)

* “Bùn trôi

tự

lọc”

TANEDA SANTÔKA (1882-1940)

… Và đau đớn đến nỗi:

* “Nước mắt xèo xèo rơi

bếp than hồng

tắt ngấm”

BASHÔ

* “Này bướm đập cánh

mình cũng như cậu

chỉ là bụi thôi”

ISSA (1763-1827)

… Cứ thế, vòng mùa – vòng đời vẫn tiếp diễn không ngừng:

* “Lá rơi

Trên lá

Mưa rơi trên mưa”

KATÔ GYÔDAI (1732-1792)

… Với mối cảm thông giao hòa sâu nặng hai chiều giữa Người và Mẹ thiên nhiên kiều diễm:

* “Hàng năm mơ về

hoa cúc

Hoa cũng thế về ta”

M.SHIKI (1867-1902)

… Với bao luyến nuối:

* “Mùa xuân đang qua

- ngại ngần

Giữa những cây anh đào nở muộn”

BUSON

… Với ước mơ thầm kín đẹp như… thơ:

* “Dưới trăng mơ màng,

bóng hoa

bóng đàn bà”

NATSUME SUSEKI (1865-1915)

… Rồi câu hỏi đau đáu, tự ngàn xưa - có lẽ cả ngàn sau - không sao lý giải:

* “Chẳng hiểu vì sao

yêu thế gian này

nơi vào để chết!”

NATSUME SUSEKI (1865-1915)

Và con thuyền mỏng manh đang đưa ta lướt êm trên dòng sông trong bay bổng qua thác ghềnh bão tố của từng mảnh đời, của cả thế gian quay cuồng này như lạc vào mắt bão ngắn ngủi làm sao, quý giá làm sao!

Dòng sông ấy, dòng sông thơ Haikư.

...

* Đinh Nhật Hạnh dịch

Ngõ Bằng Lăng

ĐNH

Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay163
mod_vvisit_counterHôm qua330
mod_vvisit_counterTất cả75252
Hiện có 47 khách Trực tuyến