Matsuo Basho nhà khai sáng thơ Haiku

Thơ haiku có 17 âm tiết theo ngắt nhịp 5-7-5 âm, là thể thơ ngắn nhất của Nhật Bản. Thơ haiku giữ một vị trí rất quan trọng trong truyền thống thơ ca Nhật Bản, là một viên ngọc quý giá và là một phần tài sản tinh thần trong kho tàng văn học Nhật Bản và đang tiếp tục phát triển rộng rãi tại nhiều quốc gia. Vào mỗi thời đại của lịch sử phát triển, thơ haiku có các tên gọi khác nhau như hokku発句, haikai俳諧, haiku俳句. Ngày nay, khi nói đến thơ haiku vào bất kỳ giai đoạn nào, hầu như ai cũng quen thuộc với một tên gọi là “thơ haiku”. Với bề dày lịch sử hơn 400 năm, có những lúc thơ haiku tưởng chừng như đang đứng bên bờ vực suy vong. Song, thơ haiku luôn vượt qua các thử thách của thời đại, trở thành hòn ngọc lấp lánh đủ màu, đủ sắc. Từ sự phát triển thần kỳ và với tính độc đáo vốn có, thơ haiku trở thành niềm kiêu hãnh của Nhật Bản, sản sinh ra các bậc đại thi hào lừng danh cùng những vần thơ bất hủ.

Từ lúc mới hình thành, thơ haiku có các phong cách khác nhau, chủ yếu thiên về trào lộng, mang tính giải trí. Đến khoảng nửa cuối thế kỷ XVII, với sự xuất hiện của Basho, thơ haiku trào lộng truyền thống được thổi thêm tính tao nhã, đánh dấu bước tiến phát triển mới của một thể thơ haiku độc lập.

Thơ haiku thời Basho

Basho tên thật là Matsuo Munefusa松尾宗房 (1644-1694), sinh ra trong gia đình võ sĩ cấp thấp tại vùng Ueno Iga nay thuộc tỉnh Mie. Cơ duyên đưa Basho đến với thi ca khi ông đến làm phụ bếp cho gia đình lãnh chúa Todo Ryosei藤堂良精 trong vùng, kết thân với Todo Yoshitada藤堂良忠 (1642-1666), vị con trai của lãnh chúa. Cùng với Yoshitada, Basho theo học nhà thơ lừng danh Kitamura Kigin北村季吟 (1624-1705), người ủng hộ phái Teimon. Năm 18 tuổi, với bút hiệu Sobo宗房 (Tông phòng, là tên Basho đọc theo âm Hán – Nhật), Basho bắt đầu viết những vần thơ đầu tay theo phong cách sáo mòn của phái Teimon.

春やこし

haru ya koshi

Đêm trừ tịch

年や行きけん

toshi ya iki ken

năm cũ bước qua

小晦日

kotsugo mori

mùa xuân chớm dậy.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Đoàn Lê Giang dịch)

Năm 1666, Yoshitada mất khi mới 24 tuổi, Basho rời nhà đi Kyoto học văn học Nhật Bản cổ đại, tìm hiểu văn học Trung Quốc, tiếp xúc với những trang sách của Lão Trang, thi nhân Trung Hoa như Đỗ Phủ, Lý Bạch. Mùa xuân 1672, Basho rời quê đi Edo (nay là Tokyo), làm nhiều ngành nghề khác nhau và mang tham vọng trở thành thầy dạy thơ haiku. Nhắc đến thời kỳ này, Basho viết: “ lúc cảm thấy mệt mỏi với chuyện làm thơ và muốn từ bỏ nó, lúc thì lại muốn trở thành nhà thơ cho đến khi gầy dựng được danh tiếng hơn bất cứ thứ gì. Sự tranh đấu cứ giằng co trong tâm trí khiến cuộc đời tôi không lúc nào ngơi nghỉ”[1].

alt
Hình: Matsuo Basho (chụp tại Bảo tàng Basho tại Tokyo, năm 2015)

Trong cuộc đời làm thơ, Basho thực hiện nhiều chuyến du hành khắp đất nước, tìm ra những đề tài, phong cách mới cho thơ haiku. Những dấu ấn của hành trình phiêu lãng, được Basho ghi lại vào các tuyển tập kỷ hành. Ngay cả khi đối diện với lằn ranh giữa sự sống và cái chết, hồn thơ của Basho vẫn khao khát một chuyến phiêu lưu mới. Mùa xuân năm 1694, trên đường về phương Nam khi đã ngã bệnh, Basho ra đi để lại hơn 1000 bài thơ, với bài thơ cuối cùng đầy nỗi khao khát được đi tiếp con đường “Thi Đạo” của mình.

旅に病んで

tabi ni yande

Lữ thứ,

夢は枯野を

yume wa kareno wo

thân nằm bệnh

かけ巡る

kakemeguru

hồn lang thang đồng khô.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Nam Trân dịch)

Nhờ sự sáng tạo của Basho, thơ haiku từ thơ hài hước, tầm thường trở nên tao nhã, mang đầy tính triết lý về cảm xúc đối với thiên nhiên và nỗi bi ai cô đơn của con người. Thành quả đó là nhờ ngay từ lúc mới tiếp cận với thơ haiku, Basho luôn biết lưu giữ những giá trị tao nhã của thơ waka truyền thống, tinh tế kết hợp chúng một cách sáng tạo với các phong cách thơ đang lưu hành.

Thời gian đầu đến Edo học thơ haiku, Basho nhanh chóng ảnh hưởng phong cách khẩu ngữ, hài hước của phái Danrin. Sau đó, Basho nhận ra phong cách thơ của phái Danrin chỉ mang tính giải trí mua vui, trào phúng, hoa lệ kiểu thành thị, và đó không phải là lí tưởng thơ ca mà ông muốn đeo đuổi. Khác với phái Danrin chỉ xem kigo季語 (quý ngữ) như một công cụ để chơi chữ, Basho đã khéo léo kết hợp tính khôi hài của phái Danrin với tính tao nhã của thơ renga, làm nên một thể thơ haiku độc lập có tính nghệ thuật cao.

きてもみよ

kitemo mi yo

Cứ mặc thử

甚べが羽織

jinbega haori

tấm áo

花ごろも

hanagoro mo

mùa hoa anh đào.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Quỳnh Như dịch)

Đây là bài thơ trong hợp tuyển thơ haiku Kai Oiおほひ (Trò chơi của sò) do Basho và các đồng môn hoàn thành năm 1672 gồm khoảng 30 bài để dâng tặng ngôi đền ở Ueno. Basho rất tinh tế khi chơi chữ “kitemo来ても” (đến đây) đồng âm dị nghĩa với “kitemo着ても” (mặc áo). Bài thơ thật dung dị, hài hước nhẹ nhàng, không tả cảnh nhiều lời, vẫn đủ để người đọc liên tưởng đến tâm trạng háo hức, chờ đợi ngày đi xem hoa anh đào mãn khai (nào đến đây, mặc áo hanagoromo - loại áo mặc vào mùa hoa anh đào). Makoto Ueda đã nhận xét về tác phẩm Kai Oi: “Giá trị của cuốn sách Kai Oi là những lời bình luận, phê phán của Basho về thơ haikai cho thấy sự sắc sảo, trí tưởng tượng phong phú, hiểu biết sâu rộng của Basho về thi ca bình dân, lối diễn đạt hợp thời, là những con đường mới của thế giới nói chung”[2].

Năm 1680, Basho đến sống tại một cái am ở vùng hẻo lánh bên bờ sông Sumida, nơi có trồng cây chuối tên Basho芭蕉 (ba tiêu), sau đó trở thành bút hiệu của chính ông. Tại đây, Basho thả hồn cảm nhận cái uyên nguyên vốn có của thế giới thiên nhiên, viết nhiều bài thơ theo phong cách do ông sáng tạo gọi là shofu 蕉風 (tiêu phong) - kêu gọi trở về với thiên nhiên. Khi ấy, con người và thiên nhiên là nhất thể. Basho cho rằng “Sự biến chuyển của thiên địa tự nhiên là động cơ, chất liệu của thơ haikai”[3] và đưa ra quy định:“Trong thơ hokku phải có kidai季題 (quý đề) tức đề tài về thiên nhiên hoặc phải có từ về mùa (sau này được gọi là kigo)”[4].

芭蕉野分して

Basho no waki shite

Lá chuối tả tơi

盥に雨を

tarai ni ame wo

đêm nghe mưa tí tách

聞夜かな

kiku yo kana

xuống chậu sàn không ngơi.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Đoàn Lê Giang dịch)

Thời gian này, Basho theo học Zen (Thiền) từ nhà sư Butcho 佛頂 (1642-1715) sống gần nhà. Từ đây, phong cách thơ Basho thấm đẫm tính u hoài tĩnh lặng về sự vô thường của cuộc đời: nhẹ nhàng, không kỹ xảo thái quá, đưa thơ haiku đến với thế giới u huyền, đầy tính chân không. Đây cũng là tính chất rất phong nhã trong thơ haiku của Basho, thể hiện cái đẹp vô ngôn, nhẹ nhàng thấm nhẹ vào cảm xúc của người đọc mà không cần nhiều lời miêu tả.

Hàng loạt các phạm trù mĩ học không thể kể hết về cảm xúc con người, nỗi buồn tàn phai, héo úa của vạn vật đã được Basho khai sáng và với ông, đó là linh hồn của thơ haiku. Basho cho rằng thi ca không phải là trò tiêu khiển, mà là sự sáng tạo theo đúng nghĩa của nó. Nhà nghiên cứu Hiekata đã quy tụ các tính chất trong thơ haiku của Basho thành “Mĩ học Basho” bao gồm “Mĩ học tĩnh lặng”, “Mĩ học phiêu lãng” và “Mĩ học hoài cổ”[5]. Tất cả những cảm thức mĩ học này chính là cảm xúc cô đơn của chính Basho trước vũ trụ, trước thiên nhiên và con người. Những xúc cảm ấy thể hiện cái đẹp hoài niệm về thời gian, và về nỗi buồn nhạy cảm trước vạn vật (mono no aware物哀れ). Đây cũng chính là đặc trưng cái tôi trữ tình của Basho, luôn hướng tới vẻ đẹp của thiên nhiên, của con người.

Để phát triển nguồn thi liệu cho thơ haiku, Basho luôn thôi thúc với tâm nguyện thực hiện các chuyến du hành. Đi là để khám phá, tìm đề tài mới cho thơ haiku. Năm 1684, Basho mở đầu bước đường phiêu lãng sáng tác thơ haiku.

風流の

fuuryu no

Phong lưu khởi đầu

はじめや奥の

hajime ya oku no

bài ca trồng lúa

田植うた

taue uta

nơi miền quê thâm sâu.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Nhật Chiêu dịch)

Basho cho rằng cuộc đời là một cuộc lữ hành, ông đã không mệt mỏi đi khắp nẻo đường đất nước để tìm nguồn thi liệu sống cho thơ haiku, bất chấp những khó khăn, bệnh tật, cô đơn. Liên tục với các chuyến đi từ Edo đến Kyoto, đến chân núi Fuji, bờ hồ yên bình Biwa, băng ngang bao nhiêu dòng sông lớn của Nhật Bản, đến thăm những ngôi đền nổi tiếng tại tỉnh Ise, Nara rồi quay trở về quê Ueno… đã đem lại cho Basho những trải nghiệm về thế sự, làm giàu chất liệu sống động cho thơ haiku.

旅人と

tabibito to

Mưa đầu đông

我が名呼ばれん

wa ga na yobaren

hãy gọi ta là

初時雨

hatsu shigure

lữ nhân.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Quỳnh Như dịch)

Trong tiếng Nhật, tabi nghĩa là du hành. Theo nhà ngôn ngữ học Nhật Bản Kindaiichi Haruhiko “Đối với người Nhật Bản, tabi có nghĩa là ra đi với trạng thái thấm thía nỗi trơ trọi cô đơn, bán tín bán nghi về nơi sẽ đến và ý nghĩa này trở thành quan điểm chủ đạo trong “văn học tabi ” của Nhật Bản”[6]. Quan niệm về tabi đã từng xuất hiện trong thơ tanka.

旅人の

tabibito no

Thân thể

体もいつか

karada mo itsuka

Lữ nhân này

海となり

umi to nari

Bao giờ về với biển

五月の雨が

gogatsu no ame ga

Mưa tháng năm ơi

降るよ港に

furu yo minato ni

Hãy rơi xuống cảng.

(前田夕暮)

(Maeda Yugure, 1883-1951)(Quỳnh Như dịch)

Còn với Basho, tabi là phương tiện để ngược dòng lịch sử, trải nghiệm thi ca với những gì các bậc tiền bối đã để lại. Basho đưa ra quan niệm “tính chân thật của thơ haikai” (haikai no makoto俳諧 ) và cho rằng tabi là dịp gặp gỡ các nhà thơ mới, kết nối các vần thơ của họ lại với nhau, là những chuyến du hành lang thang khám phá những vùng xa xôi hẻo lánh, cảm nhận đầy đủ hơn về bản chất tự nhiên của cuộc sống, con người, xã hội, thiên nhiên vạn vật và “mô tả như chúng tự tại” (ari no mamaありのまま). Thời kỳ Edo, tuy chưa xuất hiện các thuật ngữ “tả sinh” (shasei写生), “tả thực” (shajitsu写実) như thời kỳ cận đại, nhưng với quan niệm của Basho, cho thấy thuyết tả sinh khách quan đã từng manh nha từ thời kỳ Edo.

稲妻や

inazuma ya

Trên mặt biển

海の面を

umi no men wo

ánh chớp

ひらめかす

hiramekasu

lóe sáng.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Quỳnh Như dịch)

Basho đã nâng tầm các chuyến du hành lên thành “Đạo” của thơ haiku, cũng giống như những thể loại văn hóa truyền thống khác được gắn với Đạo: Hoa đạo, Trà đạo, Kiếm đạo, Thư đạo...và thơ haiku là Thi đạo. R. H. Blyth nhận ra rằng, với Basho “Mỗi bông hoa là một mùa xuân, mỗi nỗi đau là một cơn đau đẻ, mỗi con người là một nhà thơ haiku, và mỗi con đường là Đạo của thơ haiku”[7]. Trong văn hóa Nhật Bản, “Đạo” không chỉ là đường đi, mà đó là con đường tu tâm, tập luyện để thành thục, trưởng thành.

Qua các chuyến du hành, Basho đã để lại hàng loạt tác phẩm ghi lại phong cảnh gợi hứng cho thơ trên mỗi chặng đường, những trải nghiệm và sự trưởng thành trong phong cách thi ca của Basho: Fuyu no hi 冬の日 (Ngày đông, 1684), Nozarashi Kiko野ざらし紀行 (Kỷ hành lang thang đồng nội, 1684), Haru no hi (Ngày xuân, 1686), Kashima kiko 鹿島紀行 (Nhật ký kỷ hành Kashima, 1687), Oi no kobubumi笈の小文 (Đoản văn trong chiếc gùi, 1688), Sarashina kiko (Nhật ký kỷ hành thôn Sarashina, 1688), Arano阿羅野 (Cánh đồng không, 1689), Oku no hosomichi 奥の細道 (Nẻo đường Đông Bắc,1689), Hisago ひさご (Quả bầu, 1690), Sarumino 猿蓑 (Áo rơm cho khỉ, 1691), Saga nikki嵯峨日記 (Nhật ký Saga, 1691). Makoto Ueda đã nhận xét tuyển tập đầu tiên Fuyu no hi 冬の日 (Ngày đông): “Phong cách của Basho đã bớt mô phạm về từ ngữ, nhiều tính trữ tình hơn”[8].

Trong các tác phẩm để lại, Oku no hosomichi được xem là kiệt tác, đánh dấu đỉnh cao sự nghiệp thi ca của Basho. Tác phẩm được hoàn thiện “dựa trên ý tưởng cảm thức sabi”[9], thể hiện sâu sắc vẻ đẹp cao nhã của thiên nhiên, cảm xúc vô thường của con người trước vạn vật. Theo Ozawa Katsumi, tác phẩm là “Văn học điển cố (tenko bungaku典拠文学), Văn học kỷ hành (Kiko bungaku紀行文学), Kỷ hành thời gian (Jikan kiko時間紀行), Kỷ hành danh thắng (Utamakura kiko歌枕紀行), Truyện Kỷ hành (monogatari kiko物語紀行), Kỷ hành tư tưởng (Shiso kiko 思想紀行), Kỷ hành hội ngộ nhân tình (jinnjo to no fureai kiko 人情との触れ合い紀行)”[10].

Đầu năm 1686, trên đường về Edo, Basho đã để lại bài thơ sáng giá nhất, chỉ đơn giản với hình ảnh của con ếch bên một bờ ao cũ, được truyền tụng lại qua bao nhiêu thế hệ, đến với mọi tâm hồn thơ haiku khắp nơi trên thế giới.

古池や

furu ike ya

Ao xưa

蛙飛び込む

kawazu tobikomu

ếch nhảy vào

水の音

mizu no oto

tiếng nước.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Quỳnh Như dịch)

Chỉ đơn sơ với âm thanh của tiếng nước tại một không gian thật u hoài tĩnh mịch, bài thơ đã toát lên tinh thần “cái động trong tĩnh” thể hiện “tính chân thật của phong nhã” trước những gì đang xảy ra trước mắt. Tác giả chỉ ghi lại khoảnh khắc bắt gặp được trong thiên nhiên xảy ra ngay trước mắt “ếch nhảy” và âm thanh do chú ếch tạo ra. Không tính từ mô tả hình ảnh chú ếch đang nhảy vào hồ và âm thanh của tiếng nước, chỉ cô đọng lại bằng danh từ “tiếng nước” – âu cũng là đặc trưng biểu hiện của thơ haiku – tĩnh chứ không động. Bài thơ được Hiekata đánh giá là “thể hiện được cái đẹp trong cái tĩnh mịch nhất”, “là tác phẩm tiêu biểu nhất của mĩ học tĩnh lặng Basho”[11]. Động từ “ếch nhảy” được các nhà thơ haiku thời bấy giờ đánh giá là một cách sử dụng từ đầy sáng tạo, khác hẳn với các thuật ngữ thường được sử dụng trong thơ haiku. Chính nhờ đó, đã đưa bài thơ “con ếch” vang vọng nổi bật đánh thức cách sử dụng ngôn từ mang tính mới lạ trong thơ haiku.

Những năm tháng cuối đời, Basho sống trong cô tịch. Cũng từ lúc này, phong cách thơ của Basho phát triển theo cảm thức karumi軽み (nhẹ nhàng, thanh thoát). “Karumi” là vứt bỏ cái tôi, ứng xử nhẹ nhàng, làm giảm đi nỗi buồn rầu, cô đơn tuyệt vọng của con người. Ngày nay tính karumi trong thơ haiku của Basho được nhắc đến và ví von như văn hóa“motenashiもてなし” (thanh lịch) đang được thế giới ngưỡng mộ.

この秋は

kono aki wa

Thu này

何で年寄る

nande toshiyoru

sao già nhanh hơn thế

雲に鳥

kumo ni tori

cánh chim khuất trên mây.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Đoàn Lê Giang dịch)

Một Basho đi nhiều, nghe nhiều, trải nghiệm nhiều từ cuộc sống đời thường của trần thế đã làm nên thành công trong sáng tạo nghệ thuật cho thơ haiku. Qua các chuyến du hành, Basho đưa ra thuyết tương phản “Bất dịch lưu hành” (fueki ryukou不易流行)[12]. Bất dịch là vĩnh hằng. Lưu hành là luồng gió mới. Trong thiên nhiên, trực giác cho ta thấy rằng vạn vật luôn biến đổi nhưng tính chất của vạn vật thì lại bất dịch, không bao giờ thay đổi. Với lý luận này, Basho bộc lộ khát khao đi tìm chân lý vĩnh hằng của nghệ thuật thơ haiku bằng cách gắn kết những biến thiên của hiện thực với giá trị bất biến trong truyền thống. Cả hai dù là tương phản, đối lập nhưng lại là những tố chất không thể thiếu trong sáng tác thơ haiku. Thơ haiku là thế. Thống nhất ngay trong những mặt đối lập.

Với những thành tựu tột bậc, Basho trở thành nhà thơ haiku kiệt xuất của Nhật Bản. Nhờ công lao của Basho, thơ haiku được định hình và hoàn thiện tính nghệ thuật độc đáo, thoát khỏi sự dung tục hưởng lạc tầm thường trong văn chương, đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của xã hội.

TS. Nguyễn Vũ Quỳnh Như

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

(Bài viết có sử dụng một số nội dung từ sách của đồng tác giả “Nguyễn Vũ Quỳnh Như - Thơ Haiku Nhật Bản: Lịch sử phát triển và đặc điểm thể loại”, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, TP.HCM, 395 trang, 2015)

[1] Makoto Ueda (2008), The Master Haiku Poet – Matsuo Basho (普及版) 英文版 松雄芭蕉, Kodansha International, Japan, tr.32.

[2] Makoto Ueda (2008), The Master Haiku Poet – Matsuo Basho (普及版) 英文版 松雄芭蕉, Kodansha International, Japan, tr.22.

[3] Yamashita Kazumi (1998), 俳句への招待 (Xin mời đến với thơ haiku), Shogakukan, Japan, tr. tr.55.

[4] William J. Higginson (2008), The Haiku handbook – How to write, share, and Teach Haiku, Kodansha Intl.com, Japan, tr.91.

[5] Hiekata Tomizo (2009), 日本人の美学  (Mĩ học của người Nhật), Waseda Shuppan, Japan, tr.37.

[6] Kindaiichi Haruhiko (2001), 日本語の特徴 (Đặc trưng tiếng Nhật), Nihon hoso Shuppan Kyoukai (NHK Book), Japan, tr.160.

[7] R.H. Blyth (1981-1982), Haiku Volume 1~4: Eastern Culture, Spring, Summer-Autumn, Autumn-Winter, The Hokuseido Press Tokyo, Heian International South San Francisco, tr.292.

[8] Makoto Ueda (2008), The Master Haiku Poet – Matsuo Basho (普及版) 英文版 松雄芭蕉, Kodansha International, Japan, tr.26.

[9] Makoto Ueda (2008), The Master Haiku Poet – Matsuo Basho (普及版) 英文版 松雄芭蕉, Kodansha International, Japan, tr.30.

[10] Ozawa Katsumi (2007), 「奥の細道」新解説と (Oku no hosomichi – Nẻo đường Đông Bắc “Chuyến du hành của hiện thực và chân lý”), Toyo Shuppan, Japan, tr.11-18.

[11] Hiekata Tomizo (2009), 日本人の美学  (Mĩ học của người Nhật), Waseda Shuppan, Japan, tr.37.

[12] Ozawa Katsumi (2007), 「奥の細道」新解説と (Oku no hosomichi – Nẻo đường Đông Bắc “Chuyến du hành của hiện thực và chân lý”), Toyo Shuppan, Japan, tr.16.

Haiku & đời sống nội tâm qua các nữ Haijin cổ điển Nhật Bản

alt

Lê Văn Truyền

dịch và giới thiệu

Mùa hè, vầng trăng trôi trên bầu trời đầy mây. Nữ sỹ mong vầng trăng biết len lỏi giữa những đám mây để soi sáng bầu trời và mặt đất:

Is there/a shortcut through the clouds/summer moon?

Có chăng lối tắt/giữa những đám mây/vầng trăng mùa hạ?

Sutejo Den

Tâm hồn phụ nữ là vậy. Nhạy cảm với những gì đẹp đẽ, thanh tao. Dù đang bận rộn với công việc bếp núc, nhiều khi là gánh nặng nhàm chán của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, nữ thi sĩ vẫn không thể dửng dưng với tiếng chim hót trong bụi rậm ngoài cửa sổ. Tiếng chim làm thi sĩ phải ngưng tay trong giây lát công việc bếp núc để lắng nghe, để có một phút thư thái trong tâm hồn:

A bush warbler/my hand in the kitchen sink/rest for a while

Chim hót trong bụi cây/đôi tay tôi ngưng nghỉ phút giây/trong chậu rửa bát

Chigetsu Kawai

Ai ai cũng sợ tuổi già. Nhưng với những người phụ nữ đó là nỗi lo sợ ám ảnh. Tuổi già kèm theo nỗi cô đơn và lạnh lẽo. Đừng nói đến bạn bè và vật nuôi yêu quý như con mèo, con chó, đến con chuột cũng tránh xa ta dù ta cùng chẳng còn hơi sức đâu mà hại nó. Dù nó không nói chuyện được với ta, ta chỉ mong có nó quẩn quanh bên cạnh, im lặng ngước đôi mắt nhỏ nhìn ta không sợ sệt. Sự hiện diện của nó cũng đem lại chút ấm lòng cho tuổi già lạnh lẽo:

When you grow old/even mice avoids you/how cold is it?

Khi ta già đi/chuột cũng tránh ta/tuổi già lạnh lẽo?

Sonome Shiba

Vĩnh biệt người bạn gái thân yêu vừa từ giã cõi đời, nhà thơ ví bạn như đóa Anh túc rực rỡ, nhưng rất mong manh trong thế giới hỗn mang và trong cuộc đời bất định:

Farewell/flower of floating world/poppy flower

Vĩnh biệt/đóa hoa Anh túc/cuộc đời phiếm định

Chiyo - Ni

Loài cá hồi có một tập tính vô cùng kỳ lạ. Sau khi về biển, hàng năm đàn cá ngược dòng sông về nguồn để đẻ trứng và ấp nở đàn cá hồi con, dù trên hành trình trở về cội nguồn hàng trăm, hàng ngàn cây số, nhiều con phải bỏ mình. Mỗi lần đàn cá xuôi dòng, một chu kỳ thời gian đã trôi qua, nhắc nhở nữ thi sĩ tuổi xuân đang trôi qua từng ngày, một nỗi lo sợ cố hữu của người phụ nữ ở tất cả mọi quốc gia và mọi thời đại:

Trout going downstream/day by day the water/frightens me more

Đàn cá hồi xuôi giòng/làn nước làm tôi sợ hãi/từng ngày trôi qua

Chiyo - Ni

Rumbles from the rock/cherry blossoms in the moonlight/far from the world of men

Xe chạy ầm ầm đường đá/hoa anh đào nở dưới ánh trăng/xa cách cánh đàn ông

Seifu Enomoto

At daybreak/speaking to the blossoms/a woman all alone

Buổi hừng đông/trò chuyện với đóa anh đào/người đàn bà cô đơn

Seifu Enomoto

Người phụ nữ những lúc cô đơn luôn mong có người bạn lòng bên cạnh. Tiếc thay chỉ có vầng trăng đang dõi theo nhà thơ trên chiếc cầu lạnh lẽo, cô quạnh:

The moonlight and I/left alone/cool on the bridge

Vầng trăng và tôi/cô đơn/trên chiếc cầu lạnh lẽo

Kikusha Tagami

Nhà thơ gặp tai nạn không thể thực hiện trách nhiệm của người con là chăm sóc mẹ già. Thôi đành nhờ những khúc haiku chăm sóc tinh thần cho mẹ trong những ngày hè nắng nôi:

Haiku poet/caring mother/this summer – I’m a wreck

Những khúc haiku/chăm sóc mẹ mùa hè năm nay/khi tôi gặp nạn

Hisajo Sugita

Hoàng hôn trên bãi biển là lúc mọi người đắm đuối thể hiện tình yêu. Và ánh tà dương dường như đang dừng lại để chiêm ngưỡng phút giây hạnh phúc của những đôi tình nhân hay đang ghen tỵ, nấn ná không muốn buông màn đêm xuống cho mọi người được tự do yêu nhau hơn?

On the seaside dunes/other people in love …/lingering daylight

Cồn cát trên bãi biển/mọi người đang yêu đương/ánh tà dương nấn ná

Masajo Suzuki

Người phụ nữ luôn luôn có trái tim nhậy cảm, sẵn sàng mở lòng mình với những người bạn gái yêu thương, như trên giàn hoa, những chùm hoa đậu biếc rung rinh trong gió đang khẽ chạm vào nhau:

Women’s hearts/touche one another – hanging/plumes of wisteria

Trái tim người phụ nữ/kề sát bên nhau/như chùm hoa đậu biếc

Nobuko Katsura

Người phụ nữ nào cũng vậy dù sống trong thế kỷ trước hay trong thế giới hiện đại hôm nay, đều âu yếm chăm sóc tấm thân ngọc ngà trời cho và luôn quan tâm đến cân nặng của mình:

On the scale/my bathed and steaming body/this night of snow

Trên chiếc cân/tấm thân tôi vừa tắm xông hơi/trong đêm tuyết rơi

Nobuko Katsura

Đôi tình nhân dạo chơi bên hồ cùng chơi trò chơi tuối ấu thơ, thi nhau lia hòn sỏi trên mặt hồ. Người nam chắc sẽ cố gắng lia thật xa, để thể hiện bản lĩnh đàn ông, nhưng người đàn bà yêu thương của anh ấy không thi thố tài năng với người mình yêu, chỉ quan tâm đến những vòng tròn đang từ từ lan tỏa trên mặt nước và hồi hộp chờ đợi giây phút sung sướng thấy chúng giao hòa với nhau như đôi trái tim của họ.

Rock throwing/our circles/about to meet

Lia hòn đá/những vòng tròn trên mặt nước/sắp giao hòa với nhau

Nobuko Katsura

Ngày xuân, dòng suối trong xanh, nhà thơ thấy những đám cỏ dưới đáy đang uốn lượn theo dòng nước như muốn vẫy gọi nhà thơ đắm mình trong thiên nhiên tươi mát:

Spring Day/from the bottom of the water/grasses call me

Ngày Xuân/từ dưới đáy nước/thảm cỏ gọi tôi

Niji Fuyuno

Trong Ngày của Mẹ, mọi người con, đặc biệt là những người con gái luôn dành những tình cảm biết ơn, trân trọng đối với Mẹ của mình, người đã sinh thành tấm thân ngọc ngà của người con gái. Nhưng người mẹ, trong Ngày của Mẹ không quan tâm đến bản thân mình. Bà mẹ bật khóc khi thấy con gái vừa trang điểm xong để che dấu những nét già nua bắt đầu xuất hiện trên gương mặt. Trong mắt mình, Mẹ luôn luôn muốn con gái minh giữ mãi vẻ thanh tân, trẻ mãi không già, mãi mãi là đứa con bé bỏng trong lúc mình không tránh được quy luật của tự nhiên, già nua theo ngày tháng.

Mother Day/I end up making/my mother cry

Ngày của Mẹ/tôi trang điểm xong/mẹ tôi bật khóc

Madoka Mayuzumi

Các haijin đã trích dẫn

[1] Sutejo DEN (1633 – 1698): nữ haijin thế kỷ XVII, cùng thời với Bashô

[2] Chigetsu KAWAI (1634 – 1718): nữ haijin thế kỷ XVII, người cùng thời và là một trong rất ít nữ haijin được Bashô công nhận trong nhóm những haijin bậc thầy (haiku master’s circle).

[3] Sonome SHIBA (1664 – 1726): nữ haijin xinh đẹp thế kỷ XVII, cùng thời với Bashô. Chồng chết năm 39 tuổi bà ở vậy suốt đời.

[4] CHIYO – NI (1703 – 1775): nữ haijin hiếm hoi được sánh ngang với Bashô. Góa chồng từ lúc 20 tuổi, bà đi tu và trở thành ni cô ở tuổi năm mươi. Bà kết bạn với một số nữ sĩ và dạy phụ nữ và các ni cô làm thơ.

[5] Kikusha TAGAMI (1753 – 1826): là một nghệ sỹ đa tài: nhà thơ, họa sỹ, nhà thư pháp và nhạc sỹ. Góa chồng lúc 24 tuổi, bà đã quyết định có một hành động dũng cảm vào thời đó: cạo trọc đầu và quyết định đi du lịch khắp nước Nhật.

[6] Hisajo SUGITA (1890 – 1946): suốt đời, bà luôn dằn vặt với ý nghĩ làm thế nào để kết hợp được thiên chức người vợ, người mẹ với sự nghiệp làm thơ. Có lúc, bà được coi như người vợ bị ly dị. Bà mất trong một nhà dưỡng lão.

[7] Masajo SUZUKI (1906 – 2003): bà đã làm một việc bị coi là cấm kỵ thời đó: rời bỏ chồng để sống với người yêu. Mối quan hệ kéo dài hơn 40 năm cho đến khi người yêu bà mất. Trong đời mình, bà đã viết nhiều khúc haiku ngợi ca tình yêu.

[8] Nobuko KATSURA (1913 – 2004): đã từng ở Osaka khi thành phố bị ném bom nguyên tử năm 1945.

[9] Niji FUYUNO (1943 – 2002): là một haijin đồng thời là họa sỹ vẽ tranh minh họa nổi tiếng với sự nhạy cảm cao. Bà mất năm 2002.

[10] Madoka MAYUZUMI (1965 - …): chủ trì một chương trình truyền hình về haiku ở Tokyo. Ảnh hưởng lớn của bà đến lớp trẻ được các nhà thơ thế hệ trước đánh giá cao.

Chùm Haiku Valentin Nocolitov

CHÙM HAIKU RÔMÂNIA

TRONG TẠP CHÍ WORLD HAIKU

Lê Văn Truyền chuyển ngữ

alt

VALENTIN NOCOLITOV (1945 - …) (WH No 13, 2017)

1.A murit tata

pendula bate de acum

clipe mele

The old clock ticking

now, my father’s passed away

counts my own minutes

Cha tôi đã qua đời

từ nay chiếc đồng hồ cổ

điểm thời khắc đời tôi.


2.Singur in casă

prin perete, vecinii

i-aud cum trag apa

Alone in the house

through the share wall

a toilet flushing from the next door

Một mình ở nhà

nghe được tiếng giật nước bồn cầu

sau bức tường hàng xóm.


3.Plajă de nudisti

nu-mi găsesc prietena

o stiam blondă …

Beach of nudists

I don’t find my girlfriend

I thought that she was fair

Bãi tắm khỏa thân

tôi không tìm thấy người yêu

dù biết tóc nàng vàng.


Chùm Haiku Magdalene Dale

alt

CHÙM HAIKU RÔMÂNIA

TRONG TẠP CHÍ WORLD HAIKU

Lê Văn Truyền chuyển ngữ

MAGDALENE DALE (1953 - …) (WH No 11, 2015)

1.O crăciunită

infloreste in balcon

flori de ghetă pe geam

A poinsettia

is blooming on the balcon

ice flowers on the window

Đóa trạng nguyên

nở ngoài lan can

hoa tuyết nở trên ô cửa sổ


2.Ploaie de vară

peste oameni si copaci

un curcubeu

Summer rain

over men and trees

a rainbow

Cơn mưa mùa hè

vắt lên mọi người và cây cối

một chiếc cầu vồng


(WH No 12 - 2016)

1.Flori de tei

plutesc in apa fiartă

zile de iarnă

Linden blossoms

floating on boiled water

winter days

Hoa cây đoan

trôi nổi trong chén nước sôi

những ngày đông giá


2.Oamenii grăbiti

pe alei cu băltoace

apare un melc

People in a hurry

in an alley with puddles

a snail appears

Thiên hạ chạy vội vàng

trên con đường lầy lội

xuất hiện một chú sên

Chùm Haiku Marius Chelaru

alt

CHÙM HAIKU RÔMÂNIA

TRONG TẠP CHÍ WORLD HAIKU

Lê Văn Truyền chuyển ngữ

MARIUS CHELARU (1961 -…) (WH No 11, 2015)

1.Dansez with roză

pe curcubeul dintre

iminile noastre

I’m dancing with a rose

on the rainbow

between our heart

Cùng với đóa hoa hồng

tôi khiêu vũ trên chiếc cầu vồng

nối đôi trái tim ta


2.Un an nou

un nou război

intr-o lume străină

A new year

a new war

in a foreign world

Một năm mới

lại một cuộc chiến tranh mới

trong một thế giới kỳ quặc


3.Peste pagini

de la o frază la alta

curcubeul

Over pages

from a phrase to other

the rainbow

Trên những trang sách

chiếc cầu vồng

bắc qua từng câu chữ


WH No. 12 (2016)

4.Ocean translucid

gunoiele – acoperă

glasul balenei

Translucent ocean

the garbage covers

the voice of a whale

Đại dương trong xanh

biển rác thải khỏa lấp

tiếng kêu con cá voi


5.Un ciob de sticlă

taie lună in două

in ochiul stiucii

Eyeglasses shiver

cut the moon in two pieces

In the eye of a pike*

Mảnh vỡ tròng kính mắt

cắt vầng trăng thành hai mảnh

trong mắt của chú cá chó

*pike: cá chó (cá nước ngọt phân bố ở Bắc Mỹ và Châu Âu)


6.Din norul de smog

culorile curg spre cer

natură moartă

From the cloud of smog

the colors floating up to the sky

still life

Từ đám mây mù sương

mầu sắc thăng hoa trên bầu trời

một bức tranh tĩnh vật


WH No 13 (2017)

7.Tăbără de refugiati

un copil cu un ochi si un picior

dăruieste zămbete

Refugee camp

a child with one led and one eye

offers smiles

Trong trại tị nạn

em bé cụt chân mù một mắt

nhoẻn miệng cười


8.Muzică de pe

vasul turistic ucide

umbrele refugiatilor inecati

Music from

a cruise boat kills

the shadow of drowned refugees

Tiếng nhạc trên du thuyền

khỏa lấp số phận

những người tỵ nạn chết đuối


9.Copil refugiat

si amintirile lui

sint pline de singe

refugee child

even his memories

are filled with blood

Những kỷ niệm

của các em bé tỵ nạn

cũng nhuốm đầy máu

Tham dự hội nghị thơ Haiku Quốc tế lần thứ 15 và liên hoan thơ Haiku tại tỉnh Hyogo

Trong hai ngày 17 và 18 tháng 2 năm 2018, Quỳnh Như đã đến dự Hội nghị thơ haiku quốc tế và Liên hoan thơ haiku do Hiệp hội thơ haiku truyền thống, Hiệp hội Giao lưu thơ haiku quốc tế tổ chức tại Hội quán văn học Takahama Kyoshi, tỉnh Hyogo. (Takahama Kyoshi là nhà thơ haiku thời hiện đại. Nếu Masaoka Shiki có công đặt tên haiku cho thể thơ haiku và cải cách mạnh mẽ thơ haiku, thì chính Kyoshi là người có công phát triển dòng thơ haiku). Hội nghị thơ haiku quốc tế được tổ chức hai năm một lần, được Bộ Giáo dục Khoa học Thể thao Nhật Bản công nhận và khuyến khích phát triển. Năm 2016, cũng tại Hội quán này, Quỳnh Như đã tham dự Hội nghị thơ haiku quốc tế lần thứ 14.

alt

Tại Hội nghị thơ haiku quốc tế, ngoài khoảng gần 100 chuyên gia thơ haiku Nhật Bản còn có sự tham gia diễn đàn của Giáo sư người Anh – chuyên nghiên cứu so sánh văn học Anh – Nhật và thơ haiku tại Đại học Waseda, Giáo sư nghiên cứu văn học, thơ haiku đến từ trường Đại học Hàn Quốc...và Quỳnh Như. Đến tham dự Hội nghị, người tham dự phải đóng phí 5000 Yên (tương đương một triệu VND). Các trao đổi diễn ra sôi nổi, đề tài chính của Hội nghị là về tính văn học, cách thể hiện ngôn ngữ trong thơ haiku của nhà thơ Takahama Kyoshi. Bên cạnh đó là những diễn thuyết về đặc trưng văn hóa...Nói chung là nhiều vấn đề được đặt ra trong bối cảnh thơ haiku đang phát triển rộng rãi tại nhiều nước.

Sau đó, vào ngày 18/2, cũng tại Hội quán văn học Takahama Kyoshi, đã tham dự sự kiện Liên hoan thơ haiku gồm Trao giải thưởng thi thơ haiku, diễn thuyết của Chủ tịch Hiệp hội Giao lưu quốc tế thơ haiku. Thú vị nhất là chương trình thi thơ haiku được tổ chức dành cho nhiều đối tượng khác nhau với nhiều hình thức trao giải khác nhau. Qua tham dự đã học được rất nhiều điều bổ ích trong việc cách thức tổ chức các sự kiện thơ haiku, về thi thơ, chấm giải, trao giải...vì tất cả được tổ chức rất theo tinh thần “haiku”. Tham dự sự kiện này ai cũng phải đóng 3000 Yên (khoảng 600,000 VND). Sinh hoạt thơ haiku tại Nhật không rẻ chút nào.

Sau trao giải cuộc thi thơ haiku, Chủ tịch Hiệp hội Giao lưu quốc tế thơ haiku đã có diễn thuyết về sự khác biệt giữa dòng thơ Đông và Tây trong thể hiện ngôn ngữ, tính văn học, tính văn hóa, sự thể hiện thiên nhiên trong thơ haiku...

Đặc biệt, khi trao đổi với một số chuyên gia thơ haiku, mới biết tại Nhật Bản, trong thơ haiku ít khi nói về wabi, sabi mang tính Thiền tông. Thay vào đó tính karumi (nhẹ nhàng, hay có thể nói là lịch thiệp) của Basho luôn được đánh giá cao và nhắc đến nhiều hơn. Quỳnh Như có thể sẽ cho đăng bài viết về tính karumi của thơ haiku của Basho nói riêng và của các nhà thơ khác nói chung trong một bài viết khác.

Tại Hội nghị, đã trao đổi kinh nghiệm với nhiều chuyên gia đã từng giao lưu, hỗ trợ phát triển và biên soạn tài liệu, giáo trình thơ haiku tại Châu Phi, Thụy Điển, Đức, Anh, Mỹ…

Cuối chương trình, đại diện người tham dự, Quỳnh Như đã có bài phát biểu về việc nghiên cứu thơ haiku tại Nhật Bản, về thơ haiku tại Việt Nam. Mọi người rất háo hức khi được biết thêm nhiều về thơ haiku Việt.

TS. Nguyễn Vũ Quỳnh Như, ĐHKHXH&NV-ĐHQGHCM,

Tại Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Quốc tế Nichibunken,

Kyoto, ngày 20/2/2018.

Sinh hoạt thơ Haiku tại Nhật Bản giữa những ngày giá rét

TS. Nguyễn Vũ Quỳnh Như

Sau hơn hai tháng tích cực tham gia nghiên cứu thơ haiku tại khu vực Kyoto, Osaka, vào đầu tháng 2 năm 2018, Quỳnh Như đã lên đường đến một số thành phố của Nhật Bản tiếp tục hành trình tìm hiểu thơ haiku.

Đã qua đầu tháng 2, nhưng tuyết vẫn rơi tại các tỉnh thành Nhật Bản. Đối với người phương Nam Việt Nam, quả thật là phải khó khăn lắm mới có thể vượt qua cái rét căm căm này. Không quản ngại khó khăn về cách biệt thời tiết, Quỳnh Như đã đặt chân đến tỉnh Yamaguchi (cách Kyoto nơi đang làm việc hơn 600km).

Tại khu Yuda-Onsen của tỉnh Yamaguchi – nơi có lịch sử Onsen (tắm nước nóng) hơn 600 năm, đã được đến thăm các di tích lịch sử và thơ ca của Nhật Bản. Nơi đây đang diễn ra các hoạt động kỷ niệm 150 năm Minh Trị Duy Tân, và cũng là 150 năm nhà thơ haiku Masaoka Shiki.

Trưa ngày 3 tháng 2 năm 2018, tại Phòng Thông tin triển lãm thành phố Yamaguchi, đã đến xem triển lãm và dự buổi nói chuyện về nhà thơ haiku Taneda Santoka (1882 - 1940).

alt
(Xem triển lãm về nhà thơ haiku Santoka)

Santoka là nhà thơ theo phong cách tự do, không quan trọng bắt buộc phải đủ 17 âm tiết và quý ngữ theo thơ haiku truyền thống. Cuộc đời lang bạt của ông sau thời kỳ haiku đổi mới đã tiếp sức cho haiku vươn mình vượt khỏi biên giới Nhật Bản. Thơ của ông cùng phong cách tự do đã được đón nhận tại Mỹ, Hawai...nơi có nhiều di dân Nhật Bản đang ở đó.

Ông được ví von là nhà thơ “Basho thời Showa” (thời Chiêu Hòa từ năm 1926 đến năm 1989). Thật ngạc nhiên vì phong cách thơ haiku của Matsuo Basho chú trọng thể thơ haiku 5-7-5 âm tiết có quý ngữ, còn Santoka lại không, trước sự ví con này. Qua tìm hiểu thông tin và trao đổi với người chuyên môn tại phòng triển lãm mới biết tuy phong cách thơ haiku của Santoka khác với phong cách truyền thống của nhà thơ Matsuo Basho, nhưng phong cách sống và cuộc đời làm thơ của Santoka lại khá giống với nhà thơ lừng danh Matsuo Basho với những chuyến du hành khắp đất nước Nhật Bản. Nếu các chuyến du hành của Basho lừng danh ở khu vực Đông Bắc thì Santoka có khởi nguồn du hành từ các tỉnh thành Tây Nam Nhật Bản. Từ những mảnh đất khác nhau, lối sống mỗi vùng miền khác nhau trong các thời đại lịch sử phát triển khác nhau đã làm nên các phong cách thơ haiku khác nhau.

Tại buổi nói chuyện, Quỳnh Như đã gặp một nhà thơ haiku chuyên phát triển dòng thơ haiku theo phong cách tự do mà sau này ông phải đặt tên cho dòng thơ này là “Thơ cú tự do” (Chứ không phải là “Thơ haiku tự do”. Theo ông, chữ “hai” (俳) trong “haiku” (俳句)có tính lịch sử rất lâu đời từ trước khi thơ haiku ra đời với những quy tắc khó di dời, do đó dòng thơ haiku mang phong cách tự do không chú trọng 5-7-5, nhất là không đặt nặng quý ngữ, đã được đổi tên gọi là “Thơ cú” chứ không phải thơ haiku. Tuy nhiên, ông đã đưa ra một số nhận định rằng dù thơ tự do theo trường phái tuy có thể cho rằng không có quý ngữ nhưng thật ra trong đó vẫn “ngầm” thể hiện được sự vận động của thiên nhiên, của mùa trong thơ. Để làm được điều này, đòi hỏi người làm thơ phải có kỹ năng cao.

alt

Trên đường tìm đến nhà tưởng niệm nhà thơ Santoka, có nhiều bảng chỉ đường, trên đó có hình và bài thơ của nhà thơ. Xin giới thiệu và tạm dịch một trong những bài thơ đó.

ふるさとのここにもそこにも家が建ち(種田 山頭火)
furusato no kokonimo sokonimo iega tachi (Taneda Santoka)
ở quê nhà
nơi này và nơi kia
nhà nhà mọc lên
(Quỳnh Như dịch)

Sau đó, vừa từ tỉnh Yamaguchi trở về Kyoto, nhận được lời mời của Hiệp hội Giao lưu thơ quốc tế (HIA), ngay ngày hôm sau (ngày 6/2/ 2018), lại lên đường đi Tokyo (cách Kyoto hơn 500km) để tham dự Buổi giao lưu với Đại sứ H.E. Mr Van Rompuy. Năm ngoái, Ngài đã được Bộ Ngoại giao Nhật Bản gia hạn tư cách Đại sứ – Đại sứ giao lưu thơ haiku EU – Nhật Bản (“Haiku Ambassador for Japan-EU Friendship”) thêm hai năm. Tại buổi giao lưu đã gặp gỡ với các nhà thơ, chuyên gia thơ haiku và trao đổi rất nhiều điều hữu ích về những vấn đề của sự lan truyền của thơ haiku tại Nhật Bản và trên thế giới.

alt

(Đại sứ H.E. Mr Van Rompuy – đứng giữa. Bên trái Đại sứ là người phụ trách thi thơ haiku trẻ em – 3 năm trước Quỳnh Như đã gặp tại văn phòng JAL Foundation trao đổi về thi thơ)

alt

Ngoài cùng bên trái: Chủ tịch Hiệp hội Giao lưu thơ quốc tế (HIA) – nơi đã mời Quỳnh Như sang Nhật Bản diễn thuyết về thơ haiku Việt vào tháng 12/2016 tại Tokyo.

Đặc biệt, tại buổi giao lưu, Hiệp hội Giao lưu thơ quốc tế (HIA) đã trao đổi riêng với Quỳnh Như về những vấn đề giáo dục thơ haiku trong thời đại ngày nay.

Những buổi gặp gỡ đã đem lại nhiều điểu hữu ích để hiểu thêm về vấn đề phát triển thơ haiku ngày nay. Dự kiến, sẽ có bài viết tổng hợp về những vấn đề này trong thời gian sắp tới.


TS. Nguyễn Vũ Quỳnh Như (ĐHKHXH&NV, ĐHQG TP.HCM)
15/2/2018, Thực hiện tại Viện Nghiên cứu Văn hóa Quốc tế Nichibunken, Kyoto

Tatjana Debeljacki (1967-) Serbia- Tủ sách dịch Haiku Thế giới

Bà Tatjana Debeljacki sinh ngày 23/4/1967.Làm thơ,viết truyện ngắn,truyện dài,tuyển Haiku.Thành viên Hiệp Hội nhà Văn Serbia từ 2004.Hội Haiku Serbia.Phó Biên tập Tạp chí Diogen.Chủ bút Tạp chí thơ Poeta.Đã xuất bản 4 tập thơ.Hội viên Hiệp Hội Haiku Thế Giới WHA .Bà rất quan tâm đến sự phát triển của Haiku Việt.Cùng tham dự Đại Hội Haiku Thế Giới lần thứ 8 TOKYO và có mối quan hệ văn chương từ đó.\

alt

1-The mountaintops / in the embrace of sky / the moon is a companion

Những đỉnh núi-

Trong vòng ôm của bầu trời,

vầng trăng là bầu bạn.


2-picking blackberries / red -haired speckled girl /winter sun

Hái quả dâu tây

cô gái tóc đỏ

rực nắng mùa đông.


3-the stars will go silent / out of reincarnatin / love and wine

Những vì sao chuyển động im lìm

ngoài sự đầu thai-

Tình yêu và rượu vang.


4-the sun in afternoon / on the top branches / a gloss of the cherry tree

Nắng chiều tỏa sáng

trên những cành cao -

Vẻ huy hoàng của cây anh đào.


5-morning knits the rays of the sun / picking me lilac / for my birthday

Ban mai dệt tia nắng

hái hoa tử đinh hương

tặng tôi ngày sinh nhật.


6-dandelion fields / at the edge of the hot sand / the moon is the beacon

Đồng hoa bồ công anh

bên bờ cát nóng

vầng trăng là đèn hiệu.


7-summer blinking / a view from the mountaintop / the face of the moon

Mùa hạ lung linh

nhìn từ đỉnh núi

dung nhan chị Hằng.


8-dancing shadows / in the sky broken / wheatears swinging

Những bóng hình ngả nghiêng

trong bầu trời vỡ vụn

sương trên lá lúa mì rung rinh.


9-white lily / on the sky altar / flying eagle

Hoa huệ trắng

trên bàn thờ Trời -

Cánh đại bàng bay.


10-snow from my chilhood / my hands are warmed / taking a shovel

Tuyết từ tuổi ấu thơ

đôi bàn tay ấm áp

cầm chiếc xẻng ngày xưa.


11-the ruins of / shattered dreams / at the crossroads

Những mảnh vụn

của bao giấc mơ

giữa các ngã ba đường.


12- the Danube / occupied by sweating / blue horses

Sông Đa núyp

bị đàn ngựa vã mồ hôi

chiếm lĩnh.


13-small drops of rain / closing their umbrellas / the extraterresterials

Những giọt mưa nho nhỏ

người ngoài hành tinh

đang cụp ô.


14-little blaze of the yellow lantern / the dress flits / in the wind

Dưới ánh đèn vàng mờ ảo

tà áo theo gió

phất phỏ bay

***

Lập xuân 2018

Đinh Nhật Hạnh

dịch thơ và giới thiệu

Basho (1644- 1694) 50 khúc Haiku Mùa Xuân- Tủ sách dịch Haiku thế giới

Đinh Nhật Hạnh

alt

Cụ Basho tên họ thật là Matsuo Kinsaku.Mãi đến năm 38 tuổi, nhân học trò trồng tặng thầy cây chuối cảnh cạnh am cỏ nơi cụ ở, nên dân làng quen gọi cụ là “Ông già Chuối”,tiếng Nhật là Basho. Cụ rất thích, nên từ đó lấy bút danh Basho thay tên khai sinh cũ Matsuo.Trước đó, đã có 2 bút danh ToseiSobo

Basho là một trong những nhân vật tiêu biểu của nền thi ca cổ điển Nhật Bản.Bởi thi lực của toàn bộ tác phẩm của mình,Cụ đã ấn định trong thể loại này nghệ thuật thơ Haiku.Chính Cụ đã định nghĩa cách thức,tinh thần nhẹ nhàng,tìm tòi cáí đơn giản và sự cách biệt đi đôi với sự quan tâm cao độ đến thiên nhiên.Haiku vốn sinh ra từ bờ Vô lượng,từ Trực cảm bắt chợt làm chói sáng,biểu lộ sự thuần khiết của bài thơ.Cuộc đời của chàng trai xuất thân từ một gia đình Võ sĩ đạo bậc thấp ,13 năm là môn thuộc của một gia đình Võ Sĩ Đạo thần thế, 10 tuổiđã theo học làm thơ haikai,rồi suốt đời cống hiến cho thơ.Cũng từ đó,cả cuộc đời chỉ là một chuỗi dài nghèo khó,nặng tình bằng hữu thi ca cùng những chuyến lữ hành dài thiếu thốn, vất vả.Osaka là nơi đến cuối đời. Sau khi tự thành lập một trường phái riêng có tiếng tăm ở Edo (tức Tokyo ngày nay) cụ từ bỏ lối sống thế thường,khoác áo thiền sư và ở trong căn lều cỏ ẩn sĩ từ năm 1681.

Năm 1694,lâm bệnh nặng trên đường về ,sau khi ứng khẩu bài Haiku từ thế cuối cùng cho môn sinh chép,cụ nhịn ăn,đốt trầm hương,đọc di chúc,dặn học trò làm thơ về mình và để cụ ở lại một mình.Cụ mất trên đường,không kịp quay về căn lều cỏ dựng lại lần thứ ba ,đã từng bị cháy,bị trưng dụng xây nhà Búp bê năm 1680 khi Cụ đang trên đường viễn du lên phương Bắc.

Cụ mất ngày 28 tháng 11 năm 1694,hưởng thọ 50 tuổi.Trên mộ,vẫn có bụi chuối xum xuê như tại Basho- an,lúc sinh thời…

MÙA XUÂN

1.

Không gian thơm ngát

một chim hồng tước

trên cành hoa umê


2.

Trên đồng cải dầu

vờ vĩnh ngắm hoa-

một đàn chim sẻ


3.

Cả một ngày dài

cũng không sao đủ-

tiếng hót sơn ca


4.

Trên đồng mênh mông

rảnh rang mọi việc

sơn ca véo von


5.

Cốc rượu sakê

không hề vẩn bụi

mẩu lông én rơi


6.

Mùa xuân qua đi-

Chim, cá khóc than,

lệ tràn khóe mắt


7.

Một con chim chích

làm rơi chiếc mũ

của đóa hoa trà


8.

Đêm tối mịt mùng

tìm không thấy tổ -

Choi choi khóc than


9.

Một con chim chích thả mấy hòn phân

vào chồng bánh gạo

trên đỉnh kèo cao


10.

Bộ lông chim hạc

y phục sẫm màu-

Mây hoa Anh đào


11.

Dưới tán anh đào

món canh , gỏi cá

rắc đầy cánh hoa


12.

Nhớ nhung mòn mỏi Mẹ,Cha

tiếng kêu chim trĩ*

khiến ta chạnh buồn


13.

Với hoa, ta hạnh phúc

nhưng buồn nỗi thế gian.

-Vẫn cơm gạo lứt với bình sakê


14.

Ngày đầu năm-

Mình lại nghĩ về

những đêm thu cô quạnh


15.

Xuân đến kia kìa!

trên dãy núi vô danh

sương mù dăng sớm


16.

Hoa cây gì vậy!

không thể biết tên

thơm lạ ,thơm lùng.


17.

Bóng dáng Mẹ,Cha

ta luôn luôn nhớ

-Chim trĩ vừa kêu*


18.

Nào bướm,dậy thôi!

-Dậy,dậy

đồng hành với tôi


19.

Mỗi lần gió ru

bướm bay chuyển chỗ

trên cành liễu buông


20.

Xuân đến cận kề-

Báo xuân đang đến

hoa mận và trăng


21.

Hương hoa mận ngát,

nâng mặt trời lên

dốc núi đường mòn


22.

Hồi chuông vừa tắt

đồng vọng hương hoa

Ôi,đêm diệu kỳ!


23.

Biết bao là chuyện

Ký ức tràn về

khi anh đào nở


24.

Một đêm xuân qua,

lại thêm ngày xuân nữa

trên rặng hoa anh đào


25.

Từng cánh hồng vàng

rụng

tiếng thác ì ầm


26.

Dưới làn mưa xuân

chân hạc kia

ngắn lại


27.

Mặt trời gay gắt

sóng biển nhấn chìm-

sông Môgami


28.

Dòng thác trong vắt

bao kim thông xanh

rụng rơi trên sóng


29.

Ôi ! chim từ quy

hót ,hót rồi bay

luôn luôn bận rộn


30.

Nào rận,nào rệp

lại thêm ngựa đái

ngay trên đầu giường


31.

Mưa xuân

nấn ná mãi trên giường-

Sờ tay, nàng thức ta dậy.


32.

Hoa mai đẹp đến thế này!

Ngay cả chú bò

cũng kêu tiếng bé


33.

Mấy người Hà Lan

đã ngắm hoa anh đào

lại ngồi trên ngựa


34.

Trong hai cuộc đời thi sĩ

dành một chỗ

cho anh đào


35.

Giữa mây hoa anh đào

tiếng chuông vang vọng

từ Uênô hay Asakusa?


36.

Trọ cùng hoa anh đào

hai mươi ngày gì đó,

lúc nở đến khi tàn


37.

Đêm xuân

tràn ngập anh đào

Thế là đã qua!


38.

Hai thôn miền núi

hoãn buổi diễn trò-

Hoa mai nở trắng


39.

Hoa Umô nở thơm lừng

đuổi xua

rét mướt lạnh lùng đêm xuân


40.

Chỉ mình bướm bay-

Nắng

tràn xuống đất


41.

Dây khoai lang giống

họ đem chợ bán

xếp chung hoa anh đào


42.

Sương xuân

phong cảnh tuyệt vời

Hoa mai dưới trăng


43.

Túp lều của ta -

Ai đã giỡ bỏ

xây Nhà búp bê


44.

Vui thú quá chừng

lại mùa xuân nữa !

Thêm chuyến đi xa


45.

Chim chích

như một linh hồn

hỏi thăm lệ liễu có còn ngủ say?


46.

Mưa xuân

xòe 2 lá kép

hạt cà giống nẩy mầm


47.

Ao xưa

ếch nhảy vào

tiếng nước

1686


48.

Ồ!nói chuyện về hoa

cười đến vỡ bụng

trong gió mùa xuân


49.

Trang phục mùa hè

nhung nhúc đầy rận

ai người bắt cho!


50.

Theo gió muôn chiều

cánh anh đào rụng

-Sóng hồ Niô.

Ngõ bằng lăng

Hà Nội xuân 2018

Đinh Nhật Hạnh

- *Trong văn học Nhật Bản ,chim Trĩ là biểu tượng lòng Mẹ thương con,quên mình vì con.Hễ nghe tiếng chim Trĩ kêu là chạnh lòng nhớ công ơn Mẹ,Cha khắc khoải.

-Năm 2018, Haiku Việt-Hà Nội nghiên cứu chuyên đề tác phẩm của 2 Đại sư Matsuo Basho và Buson .Chúng tôi sẽ lần lượt đăng trên Website HKV Haiku của hai vị theo 4 mùa Xuân,Hạ,Thu,Đông để bạn đọc dễ theo dõi.

Tham khảo: -The heart of Basho (Takafumi Saito &WR Nelson 2006)

-Basho-Cent onze Haiku (traduits du Japonais par Joan Titus - Carmel) Verdier 1998

Về một số vấn đề trong dịch thuật thơ Haiku- Hotta Kika

Đây là lần đầu tiên tôi được thăm Việt Nam. Cá nhân tôi khi đến bất cứ nước nào cũng rất thích tìm hiểu về ngôn ngữ nước đó. Ngôn ngữ phản ánh lịch sử, văn hóa, tư tưởng của một đất nước và vùng ngôn ngữ mà nó tồn tại. Ngữ pháp và cách viết của ngôn ngữ ở đó gắn bó trực tiếp trong khuôn khổ và khả năng biểu hiện của nó. Đương nhiên thơ ca là nghệ thuật của ngôn ngữ, đặc biệt Haiku lại là thể thơ rất ngắn nên đặc tính của ngôn ngữ sử dụng càng được thể hiện rõ. Nói cách khác, trong thơ Haiku, những khái niệm như lịch sử, văn hóa, tư tưởng được phản ánh rất rõ trong ngôn ngữ mà nó thể hiện. Haiku bị chi phối rất mạnh trong khuôn khổ và khả năng biểu hiện của ngôn ngữ đó.

alt

Tôi nghĩ rằng thơ là bài ca của cảm nhận. Haiku cũng là thơ cho nên nó cũng là một hình thức văn nghệ về “cảm nhận” của tác giả. Tuy vậy Haiku rất ngắn cho nên nó không thể hiện nhiều “cảm nhận”, nó chỉ truyền đạt khoảnh khắc đó cho người đọc có tính tiêu điểm, nó chỉ thể hiện một, hai cảm nhận mà thôi. “Cảm nhận”, nói một cách đơn giản là nhận thức sự việc xảy ra trong khoảnh khắc. Câu Haiku hay thì cũng làm cho người đọc nhận ra sự việc trong khoảnh khắc đó.

Sự việc xảy ra trong khoảnh khắc là gì? Theo tôi những cái mà con người nhìn thấy, nghe thấy, những điều ai cũng nói, ai cũng viết thì không phải sự việc xảy ra trong khoảnh khắc. Những sự việc trong khoảnh khắc phải là điều gì đó tươi mới.

Theo tôi những sự việc được cảm thấy tươi mới trong Haiku chủ yếu có 4 loại.

Thứ nhất là đề tài (daizai) phải tươi mới. Trong Haiku người ta gọi là “kuzai”. Những cái có thể trở thành kuzai tươi mới là những thứ mà Haiku ca lên hoặc đưa ra những khái niệm mà người khác chưa nói tới. Nhìn lại lịch sử Haiku thì thấy các haijin thường ca lên những điều tươi mới. Ở Nhật. những từ ngoại lai như bia, noel (christmas), robot, computer… khi vừa xuất hiện đã được các haijin cho vào Haiku bằng tiếng Nhật ngay. Nếu là người đưa đầu tiên các khái niệm đó vào làm đề tài của Haiku thì đương nhiên câu đó là rất tươi mới.

Thứ hai, là cách cảm nhận tươi mới của tác giả. Tác giả nhìn phong cảnh đẹp ở một góc độ nào đó, tác giả cảm nhận về chiến tranh như thế nào, tác giả nghĩ về bệnh tật và sinh mệnh của mình như thế nào, tác giả quan sát những sự vật, sự việc thường ngày và phát hiện ra những gì hay trong đó, tác giả nghĩ như thế nào về lịch sử và thế giới sau khi mất… tất cả những thứ đó hàng ngàn năm trước các thi nhân thế giới đã nói tới rồi do đó khó có thể trở thành đề tài tươi mới. Nhưng nếu tác giả có cái cảm giác độc đáo, chưa có tiền lệ thì đó là cách cảm nhận lần đầu tiên và câu Haiku đó là câu Haiku tươi mới.

Thứ ba, là sự can thiệp của ngôn từ, đưa ra những từ ngữ, cách nói tươi mới, tiếng Nhật gọi là “kotoba no assen”. Tức là cách nói, dù rằng không phải đề tài mới, không phải cảm nhận mới, tức là dù là đề tài bình thường, cách cảm bình thường nhưng tác giả đưa ra kỹ thuật sử dụng ngôn ngữ, lựa chọn cách dùng mới xưa nay chưa ai dùng và biết cách bố trí thì câu Haiku đó trở nên tươi mới.

Thứ tư, là sự can thiệp của âm thanh, đưa vào âm thanh mới. Cái này hơi giống loại thứ ba nhưng về âm thanh. Mặc dù đề tài, cảm nhận hay ngôn ngữ – tất cả đều bình thường nhưng nếu âm thanh, nhịp điệu và âm hưởng nghe mới lạ thì cũng trở thành câu Haiku tươi mới. Câu Haiku đó sẽ giàu nhạc tính, có sức cuốn hút.

Đối với tôi, câu Haiku hay là câu có ít nhất một hay hai thuộc tính nói trên. Câu Haiku không tươi mới thì dù được sáng tác với kỹ thuật điêu luyện đến đâu cũng là tác phẩm thất bại. Bởi vì nếu không mang tính tươi mới nào thì không lay động tâm hồn người đọc và nếu không có câu thơ đó cũng không gây tổn hại gì cho văn học cả.

Đối với những người sáng tác Haiku chúng ta, đặc biệt là đối với những haijin có tầm nhìn quốc tế thì điều đáng mừng là dù ngôn ngữ nào cũng có thể tạo ra những câu Haiku hay. Dù không sáng tác bằng tiếng Nhật, có thể sáng tác bằng tiếng Việt Nam, tiếng Pháp, tiếng Anh… đều có thể có những câu Haiku hay. Trên thế giới có những người khuyết tật về nghe nhìn, có những người phải dùng ngôn ngữ không có âm thanh nhưng họ vẫn có thể sáng tác được những câu Haiku hay. Bởi vì họ có khả năng sáng tác Haiku mang đề tài tươi mới, có cách cảm nhận tươi mới và cách nói tươi mới.

Xin lỗi, tôi đã mở đầu quá dài. Thực ra điều hôm nay tôi muốn thảo luận là những vấn đề trong dịch thuật Haiku. Những câu Haiku không đạt thì không có giá trị dịch thuật do đó tôi chỉ giới hạn trong việc dịch những câu Haiku hay. Hiệp hội Haiku thế giới hàng năm xuất bản những tuyển tập thơ Haiku nhiều ngôn ngữ gọi là tạp chí “Haiku thế giới”. Những câu Haiku tiếng Việt cũng bắt đầu được đăng trong tuyển tập thơ Haiku Thế giới số 9 (năm 2013) và tôi là người làm công tác biên dịch và hiệu đính các tác phẩm Haiku được đăng trong tạp chí “Haiku thế giới” này. Tất nhiên công việc này không chỉ có mình tôi mà còn các dịch giả khác cùng tiến hành. Tôi chỉ phụ trách một bộ phận trong đó, tuy vậy tôi cũng tham gia dịch nhiều ngôn ngữ. Trong dịch thuật tôi thấy cái vất vả nhất là phải giữ lại trong câu sự tươi mới nào đó của tác phẩm gốc. Đây là việc làm rất khó. Điều tôi muốn nói trước tiên là trong Haiku, đặc tính ngôn ngữ được thể hiện rất rõ vì vậy trong trường hợp dịch ra những ngôn ngữ có hệ ngôn ngữ lâu đời và bề dày lịch sử nhiều khi không giữ lại được sự tươi mới nào đó của câu gốc. Những câu Haiku hay mà không dịch được cái hay của câu đó ra thì mất hết ý nghĩa. Tóm lại, thử thách lớn nhất của việc dịch thuật Haiku là phải giữ được bốn loại tươi mới mà tôi nêu trên.

Bây giờ ta suy nghĩ một chút về việc dịch thuật bốn loại tươi mới nêu trên. Đầu tiên là đề tài. Nếu đề tài của câu Haiku mà không có cùng thể hiện trong hai ngôn ngữ thì sẽ rất khó dịch. Ví dụ ở Nhật Bản ngày 5 tháng 5 là ngày người ta hay trang trí “búp bê võ sỹ” nhưng trong tiếng Anh không có. Nếu cố ép dịch ra thì là “warrior doll” nhưng nếu không giải thích hoặc không có kiến thức thì độc giả tiếng Anh sẽ không hiểu. Hoặc trong Haiku Nhật Bản hay ca ngợi “hoa cẩm tú cầu” (ajisai), đây là loại hoa rất hiếm trong ngôn ngữ tiếng Anh vì vậy không có tên tiếng Anh có thể dùng tên la-tinh là “hydrangea” nhưng hầu hết người nói tiếng Anh không biết loài hoa này. Ngược lại, nếu trong hai ngôn ngữ đều có thì dễ dịch hơn. Những từ như “gương soi”, “điện thoại di động”… thì không có vấn đề gì trong dịch thuật. Tuy vậy dù có từ tương ứng nhưng vẫn nảy sinh vấn đề. Đó là trong ngôn ngữ của bản gốc phản ánh đậm nét lịch sử, văn hóa, tư tưởng của ngôn ngữ đó. Ví dụ từ “trăng” trong tiếng Nhật là “tsuki” đều có thể dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, nhưng trong Haiku, nếu dịch thẳng như vậy thì chưa chắc đã hay. Trong nguyên gốc tiếng Nhật nếu chỉ là “trăng” trong khái niệm vật lý của vũ trụ thì đơn giản nhưng khi từ “trăng” đó chỉ mùa thu, hay mang khái niệm chỉ tâm hồn yên tĩnh chẳng hạn thì sẽ khó dịch sang tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Bởi vì trong tiếng Anh, tiếng Pháp thì trăng và mùa thu không có quan hệ gì với nhau, trăng không để chỉ tâm hồn yên tĩnh mà lại chỉ sự bất an, điên loạn. Hay “điều 9” trong hiến pháp Nhật Bản thì chỉ có ai biết nội dung của điều này mới hiểu ý nghĩa của nó. Điều này ảnh hưởng đến vấn đề tươi mới của câu thơ.

Trong Haiku Nhật Bản nếu nói về các vị thần thánh của đạo Hồi thì đối với người Nhật là mới mẻ nhưng nếu dịch ra tiếng Ba Tư hay tiếng Ả Rập thì người đọc vùng Iran hay Ả Rập thấy không có gì mới. Nói tóm lại sự sai khác về lịch sử và văn hóa mỗi vùng ngôn ngữ có ảnh hưởng đến cảm giác tươi mới của độc giả. Yêu cầu duy nhất của chúng tôi là những đề tài mới trong thế kỷ XXI có nhiều vấn đề liên quan đến toàn cầu hóa như vấn đề thời gian và kỹ thuật mũi nhọn I.T. Nhưng những ngôn ngữ diễn tả lại các khái niệm này lại không phải những câu chữ phản ánh văn hóa, lịch sử và tư tưởng đặc thù của ngôn ngữ nào đó. Ví dụ “nhân bản vô tính” (clone) hay “tế bào gốc”, “tế bào iPS”… là những đề tài hiếm hoi nên dịch ra tiếng nước nào cũng cho cảm giác tươi mới cả.

Thứ hai là nội dung. Cái này thì dễ dịch, nếu không vướng những vấn đề liên quan đến đề tài như đã đề cập đến ở trên. Ví dụ câu của ông Ban’ya Natsuishi:

「未来より滝を吹き割る風来たる」

(mirai yori / taku wo hukiwaru / kazekitaru)

“Gió tương lai / thổi tới / chia dòng thác”

Hay câu của Kamakura Sayumi:

「水仙をとりまく青は歌ういろ」

(suisen wo / torimaku ao wa /utau iro)

“Màu xanh / vây quanh thủy tiên / màu ca hát”

Khi hai câu trên được công bố ở Nhật thì đã được coi là rất tươi mới về nội dung và dịch ra bất cứ tiếng nước nào cũng đều thấy tươi mới cả. Cả tác giả, cả người đọc, khi được dịch ra ai cũng đều có thể cảm nhận được điều đó.

Tuy vậy khi dịch thơ Haiku có hai vấn đề cần lưu ý. Thứ nhất là có những khái niệm mà dù dịch cẩn thận đến đâu người đọc cũng không hiểu, vấn đề phát sinh khi văn hóa và môi trường sống rất khác nhau. Cũng như nói với người mù về màu sắc. Ví dụ, đối với người Ainu sống ở cực Bắc nước Nhật thì hành vi sờ tay không vào nước biển là một khái niệm nguy hiểm, do vậy khi họ nói 「海に手を入れてしまう」(“cho tay vào nước biển mất rồi”) thì người sống ở dưới xích đạo lại không có cảm xúc gì đặc biệt. Điều này không phải là vấn đề ngôn ngữ cho nên người dịch dễ dàng quên, không để ý. Một vấn đề nữa là về văn phạm khi dịch những ngôn ngữ mà có cấu trúc câu, thứ tự sắp xếp từ trong câu khác nhau. Nếu người dịch chỉ lưu ý chuyển ngữ cho đúng nghĩa thì lại không ra câu thơ hay và ngược lại. Tiếng Nhật, tiếng Anh và tiếng Việt có cấu trúc câu rất khác nhau. Ví dụ câu của Nozawa Bonchou:

「ながながと川一筋や雪の原」

(naganagato / kawa issetsu ya / yuki no hara)

“Dài dằng dặc / một khúc sông / cánh đồng tuyết”

Trong câu này tuần tự ngôn ngữ là rất quan trọng, tôi cho rằng nếu thay đổi thứ tự câu đi sẽ làm mất ngay cái thi vị của câu thơ. Dịch ra tiếng Anh mà muốn giữ tuần tự từ ngữ đó thì rất khó dịch, nó trở thành câu thơ rất dở. Thực ra câu này đã có mấy bản dịch tiếng Anh được xuất bản nhưng thứ tự ngôn từ bị thay đổi, tiếng Anh dễ đọc nhưng mất đi thi vị của câu thơ.

Thứ ba là “cách nói mới” và thứ tư là “âm thanh mới” –những ngôn ngữ không gần giống nhau thì dịch khó đến mức tuyệt vọng. Ví dụ hai câu sau của Tsubouchi Toshinori:

「三月の甘納豆のうふふふふ」

(sanga tsu no / amanattou no / u hu hu hu hu)

“Tháng Ba / mứt đậu / ha ha ha”

「たんぽぽのぽぽのあたりが火事ですよ」

(tanpopo no / popo no atariga / kaji desu yo)

“Bồ công anh / xung quanh bồ / lửa cháy”

Hoặc câu của Ozwa Minoru sau đây thì tôi không thể dịch được:

「ふはふはのふくろふの子のふかれをり」

(huawa huwa no / hukurou no ko no / hukare ori)

“Xốp xốp mềm / cú con / xù lông”

Câu “tháng Ba” (sangatsu) có từ tượng thanh là “ha ha ha” (u hu hu hu hu) không có trong tiếng Anh, dù dùng tạm từ tượng thanh biểu hiện tiếng cười thì cũng không biểu hiện được âm thanh của câu gốc. Từ “tampopo” (bồ công anh) nếu dịch ra tiếng Anh là “dandelion”còn “popo” thì có thể dịch là “lion” nhưng không dịch được biểu hiện âm “p” hiếm hoi của Nhật. Câu “xốp xốp mềm” (huwa huwa) là câu nhắc đi nhắc lại chữ “hu” tạo âm “hu hu” liên tiếp có sức hút còn nội dung và đề tài của câu thì bình thường. Do đó tôi coi như câu này không thể tái hiện được âm “hu hu” liên tiếp này và tôi cũng coi như là câu không thể dịch được.

Cuối cùng chúng ta sẽ xem xét câu Haiku Việt của tác giả Lý Viễn Giao đăng trong tạp chí Haiku thế giới số 9 năm 2013 đã được dịch ra tiếng Anh và tiếng Nhật như thế nào.

Trăng lạnh / nghĩa trang / đồng đội xếp hàng

Cold moon / in the cemetery / a lineup of war comrades

冷たい月/霊園に/戦友の整列

(tsumetai tsuki / reien ni / senyuu no seiretsu)

Cũng như ông Ban’ya Natsuishi đã bình luận, việc dịch khá thành công. Điều hấp dẫn của câu Haiku này là ở cảm nhận – các chiến hữu (đồng đội) khi còn sống cũng như khi đã chết vẫn đang xếp hàng (trong trường hợp này là nội dung tươi mới), bên cạnh đó, tình cảm tác giả được thể hiện rất hay ở cụm từ “trăng lạnh”. Trước hết, có thể nói phần dịch tốt về nội dung. Về trường của câu Haiku này, tác giả nắm vững cấu trúc 3 dòng, riêng dòng thứ 3 (tương đương với 5 từ cuối trong tiếng Nhật) “đồng đội xếp hàng” (senyuu no seiretsu) của tác giả, người dịch đều dứt khoát muốn để cuối câu vì vậy dịch sang tiếng Anh hay tiếng Nhật đều đã thành công. Tiếng Anh hơi miễn cưỡng một chút nhưng 3 ngôn ngữ mà dịch được thành 3 dòng giữ nguyên cấu trúc của tác giả như vậy là rất hiếm. Về đề tài của câu thì cụm từ “trăng lạnh” có thể gây hiểu lầm cho một số độc giả Nhật Bản thành “hàn nguyệt” tức là câu thơ nói về mùa đông nhưng cho dù như vậy cũng không sao, cả 3 ngôn ngữ Việt, Anh và Nhật đều cho ấn tượng tương tự là ổn rồi. Ở đây nếu không dùng “trăng lạnh” mà chỉ dùng “trăng” không thôi thì cách giải thích của người Nhật và người Anh sẽ lại khác nhau. Câu này nội dung mang tính quyết định mà không gây nhiễu đến âm thanh và cách dùng từ là điều may mắn. Trong câu gốc có âm “-ang” tuy nhiên không tái hiện được trong tiếng Nhật và tiếng Anh nhưng sự tươi mới được chuyển ngữ một cách trung thực nên rất ổn. Mặt khác, vì số từ của câu ít nên khi dịch sang tiếng Nhật và tiếng Anh thì về âm luật cũng không bị gò ép mà tạo được nhịp điệu mang tính Haiku.

Trên đây tôi nói sơ qua về một số vấn đề trong dịch thuật thơ Haiku. Ngẫm ra thì thấy việc dịch thơ Haiku ngay từ đầu đã biết là khó nhọc, biết rằng nó vĩnh viễn là công việc không thể hoàn thành một cách toàn bích. Tôi vẫn mong chia sẻ với nhiều người hơn về những câu Haiku đầy cảm xúc, cũng mong chia sẻ với những ai không thể đọc bản gốc của những câu Haiku hay. Từ trước đến nay, tôi luôn phải đối mặt với những câu không thể dịch được và có lẽ từ nay về sau cũng vậy. Thế nhưng tôi nghĩ rằng thông qua phần dịch thuật của tôi, dù là một câu, hai câu mà có ai đó ở trên thế giới này chia sẻ với tôi sự rung cảm của câu Haiku là quý lắm. Các bạn Việt Nam thông qua sáng tác Haiku có thể giao lưu, tôi cũng muốn giới thiệu với các bạn những câu Haiku hay bằng tiếng Nhật, tiếng Anh và ngược lại giới thiệu với người Nhật Bản những câu Haiku hay của các bạn, đó là niềm vui sướng nhất của tôi. Và vì có niềm vui sướng đó tôi sẽ mãi nguyện dấn thân vì sự nghiệp dịch thuật Haiku không ngừng nghỉ giống như nhân vật vua Sisyphus trong thần thọai Hy Lạp bị kết án khổ sai phải lăn hòn đá to lên đỉnh núi dốc đứng, gần đến đỉnh thì đá lại lăn xuống chân núi và lại phải lăn lại từ đầu, một công việc khó nhọc mà không có hồi kết.

Lê Thị Bình dịch từ nguyên bản tiếng Nhật

Thơ Haiku thiếu nhi quốc tế

alt

1.
In the early morning/ a pumpkin in the field pretends/ to be the sun
Trên đồng sáng sớm/ quả bí ngô ra vẻ/ như là ông mặt trời
Doris Krklec (bạn nữ, 12 tuổi – Croatia) *

2. Alarm clock is ringing/ I knock it down from my bedside table/ but it’s still ringing
Đồng hồ báo thức kêu/ em đập rơi khỏi bàn đầu giường/ thế mà nó vẫn kêu
Denis Jereb (bạn trai, 15 tuổi – Slovenia) *


3. Winter morning/ I breathe out a puff/ like Godzilla
Sáng mùa đông/ tớ thở ra khói/ như Godzilla
Ikuto Tagashira (bạn trai, 9 tuổi – Nhật Bản) *

4. I wonder.../ In the morning sky/ Still the moon
Mình tự hỏi.../ trên bầu trời ban sáng/ sao vẫn còn trăng?
Hiyori Tokiwa (bạn gái, 7 tuổi – Nhật Bản) *

5. My elder brother is sleeping/ I’m quietly sitting on the bed/ Wearing a wolf mask
Anh trai đang nằm ngủ/ tôi ngồi trên giường lặng lẽ/ đeo chiếc mặt nạ sói

Galina Tarakanova (bạn gái, 13 tuổi – Nga) *

HKTG

Chùm haiku của Dejan Bogojevic- Serbia

Dejan Bogojevic là Haijin nổi tiếng của Serbia. Ông còn là nhà biên tập, tác giả nhiều tuyển tập công phu, tổ chức nhiều cuộc thi Haiku danh giá, rất quan tâm đến Haiku Việt. Xin trân trọng giới thiệu vài tác phẩm mới nhất gửi Website haikuviet.

alt

Gypsy music / an old man with a stick / rummaging through a container

Nhạc bô hê miêng- *

Một ông già cầm cây que

đang lục lọi trong thùng hàng


2-A funeral / flast lightened faces / of wet people

Đám tang -

Ánh đèn

chiếu sáng khuôn mặt của đám người ướt át


3-A tatoued butterfly / is shivering / on her buttocks

Một con bướm xăm

đang uốn éo

trên cặp mông nàng


4-The end of winter /a lazy fly / in the window

Cuối đông -

Một con ruồi

đậu biếng lười trên cửa sổ


5-Foggy morning / buds of poppy / in its shadow

Buổi sáng mù sương

những nụ hoa anh túc

trong bóng của chính mình


6-Moonlight- / fish sparkling / in the aquarium

Ánh trăng soi-

Đàn cá trong thủy cung

lung linh


7-Reeds grew / from / an old deserted boat

Lau sậy

um tùm

trên con thuyền vô chủ


8-Thunderstorm - hooting of an owl / late in the nigft

Bão-

Tiếng cú rúc

đêm khuya


9-A shad/ people and sparrows / under the shower

Trong nhà kho ,

người và đàn sẻ

lướt thướt trong mưa


10-Summer night/ a boy is running / after fireflies in the fields

Đêm hè ,

một cậu bé

đuổi bắt đom đóm trên đồng

***

* Bô hê miêng :một dân tộc du thực,phóng lãng rải rác ở Châu Âu

Hà Nội, ngày 18/1/2018

Hồ Vịnh Đức

Chùm Haiku của Tatjana Debeljacki

alt

vetar donese
miris garišta mog sela
sećanje vine


風匂う

村の火事なり

胸痛む記憶


bunar u sred
izgubljene oaze
cvrčak peva drevnu pesmu


消えたオアシス

深部の泉

蟋蟀吟ず 古の歌


sa mesečevim

senkama i venera

na putovanju


月とともに

影と女神

旅のなか


u pećini

izviđač crtao brodove

na mesečini


洞窟に

踏査入りぬ

月あかり


zrna peska

hladnoća prenosi jezu

veče se šunjalo


砂の粒

寒さ極まる

夜忍び込みたり


paluba skripa

od oluje pocepana

jedra duše


甲板きしみ

嵐に裂けぬ

魂の帆


vetroviti maj
usamljene senke grane
procvetaju


風薫る五月

小枝の影

寂しく咲きぬ


legende ledene
žene pale zvezde
na grudima


凍る伝説

女 乳房に

星を注ぎぬ


na iskrivljenom

ogledalu žrtve rata

u ožiljcima


歪む像

戦禍の犠牲の鏡なり

その傷なり


polja maslačka
na obodu vreli pesak
mesec svetionik


タンポポ畑

熱砂のへり

月は灯台


sutonske zvezde

golo lice u sjeni

procvalog maka


夕べ星

影に素顔が

芥子の花


zvezde od pene
mesečevom svilom pleo
toplim bedrima


泡から生まれた星

月の光の綾絹か

温い衣

...

"POETA" opens a competition named

"HAIKU" Serbian Heart of Johann’s "

The theme is set according to the novel

"Serbian Heart of Johannes" by Veselin Dželetović

An author can send two haiku poems or one haigu.

All haiku poems received are competing to be published in a book.Poems should be typed in the body of the message and the haiga (black and white) should be in JPG format, and sent to Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. with the name of the author and the name of the haiku.

Haiku should be sent in both Serbian or English, entries from abroad can be only in English with a full name and surname, and place of residence.

The competition lasts from 1 August 2017 to 28 February 2018.

All the authors will receive necessary information in due time.

Tatjana Debeljački

Nemanjina 111

31 000 Užice

Serbia

first name Tatjana

family name Debeljacki

sex: female

birth day /month/ year: 23.04.1967.

mine home address: Nemanjina 111 street

nationality: Serbia

tel number:+ 381313515634

email address: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

Tatjana Debeljacki She writes poetry, short stories, stories and haiku. She is a Member of Association of Writers of Serbia -UKS since 2004. She is Haiku Society of Serbia- Deputy editor of Diogen. She also is the editor of the magazine Poeta. She has four books of poetry published. Hammer & Anvil Books.

Thiền “Mùa xuân”- Tủ sách dịch Haiku Thế giới

alt

Lời người dịch: Thưa, không rõ bạn nghĩ gì khi viết tạm xong một khúc Haiku mà mình tâm đắc!Còn chúng tôi thì câu tự hỏi “Đã có chút dư vị Haiku chưa?Đã có tí chất THIỀN nào chưa?”luôn là hai nỗi ám ảnh chẳng dễ gì cởi bỏ.Từ nhiều năm nay chúng tôi đã cố tìm hiểu nội dung chữ THIỀN mơ hồ,bảng lảng mà các đại gia thường nhắc nhở.Song càng đọc càng thấy mông lung,càng u muội như lạc vào mê trận có lẽ còn mông lung hơn trước.Thế rồi may hơn khôn, được đọc rồi dịch cuốn ZEN POÈMES (Thơ Thiền)gồm 118 bài.Càng đọc càng sáng,càng ngẫm càng thấy sâu sắc hơn tính THIỀN thể hiện trên từng khúc Haiku của nhiều thế hệ,nhiều nước khác nhau.Và bỗng ngộ ra rằng “Thiền vẫn bảng lảng trong đạo Người”thế tục,cứ đâu chỉ riêng trong Đạo Phật,Thần Đạo ,cứ gì phải quẩn quanh lặp mãi “Sắc sắc… không không, cõi Ta bà…”xa vời vợi.Có thể bạn cũng như chúng tôi khi đọc xong sẽ thấy hay hay,ngồ ngộ-bực mình rồi thú vị,đầu ỉ eo rồi sau thán phục,đồng tình …Và từ chỗ “lơ mơ THIỀN”,ngại THIỀN”đeo đẳng bao năm sẽ thở phào,nhẹ nhõm :” À ra thế!Có thế chứ!Các tác giả bậc thầy Haiku, nào Nhật Bản nào Anh,Pháp, Mỹ đều viết như thế.Nhẹ nhàng mà sâu lắng,cứ lưng lửng mà ngẫm sâu.

Bạn sẽ thấy con đường mơ hồ ấy cứ rõ dần qua từng thi phẩm rồi sẽ ngộ ra rằng:Từ thuở Cụ Basho đến nay đã bao nhiêu nước chảy qua cầu,bao biến thiên động trời chuyển đất –ngay trên quê hương Haiku của Cụ đã xuất hiện bao trường phái,chủ trương mới khi mà ngay “Giọt sương xưa trong là thế ,nay hỏi liệu còn trong”giữa dòng đời mãi đục…”

Vậy liệu thơ bạn liệu đã “ Thiền “,đã” Haiku” chưa!Xin nhường quyền cho bạn đọc sáng suốt vô tư.Xin hãy tự tin.

Và người viết khó chịu này xin được tạm xong một buổi cày…trên giấy.

Ngõ bằng lăng

Đinh Nhật Hạnh

*********

Thiền- 25 khúc mùa xuân * Printemps

1- La glace et l’eau / leur différence abolie /sont à nouveau amis

Tảng băng và nước -

khác biệt không còn

lại là tri kỷ

YASHUHARA TEISHITSU


2- Un panier d’herbes / et personne ici / montagnes de printemps

Một rổ cỏ -

Không một bóng người

dãy núi mùa xuân

SHIKI


3- Première cigale / la vie est / cruelle ,cruelle,cruelle

Tiếng ve đầu tiên-

Đời sao

“ ác…ác…ác”

ISSA


4- Le papillon plane / au-dessus / de mon carnet ouvert

Con bướm

lượn vòng

trên cuốn sổ tay tôi mở sẵn

KEN JONES


5- La pluie est finie / la montagne du Sud / envoie des nuages de Printemps

Tạnh mưa -

Núi Nam Sơn gửi về

những dải mây xuân

NATSUMO SOSEKI


6- Le poisson / luttant vers l’amont / Rivière au Printemps

Con cá

cố lội ngược nguồn

dòng sông mùa xuân

NATSUMO SOSEKI


7- Abeilles bourdonnent / Pneus patinant / Boue de Printemps

Vo ve đàn ong

chiếc xe lún bánh

Bùn mùa xuân trơn

GARY SNEIDER


8- Printemps / une colline sans nom / voilée dans la brume matinale

Mùa Xuân

ngọn đồi không tên

mờ trong sương sớm

BASHO


9- Tandis que mes yeux scrutent la plaine / Je sens l’été dans le printemps

Rõi nhìn bình nguyên,trong tiết mùa xuân /tôi thấy mùa hè

đang đến

NGƯỜI ẤN ĐỘ CHIPPEWS


10- Dans notre discussion / hors de notre discussion / un papillon

Trong cuộc chuyện trò-

Ngoài cuộc chuyện trò

một con bướm dự

BRIAN TASKER


11- Monde / image sur l’eau / des vagues se brisent et c’est fini,pourtant. C’était

Thế gian

in hình mặt nước,rồi sóng vỡ òa và thế là hết,vậy mà…

Thế thôi!

KATHLEEN RAINE


12- Un camélia tombé /sur un rocher / dans les rapides

Một bông trà rụng

trên mỏm đá nhô

giữa lòng thác đổ

YUZURU MIURA


13-Dans la prairie / chante une alouette / libre de toute chose

Sơn ca hót vang

trên đồng cỏ rộng

rảnh rang mọi điều

BASHO


14-Un jour de printemps/ on ouvre les portes / du Grand Temple

Một ngày mùa xuân

ngôi Đại Tự

mở toang cửa xếp

GUSAI


15-Dormant,s’éveillant / puis faisant un grand baillement / le chat sort pour l’amour

Kềnh rồi, thức dậy-

Ngáp cái rõ dài

mèo đi o gái

ISSA


16-Je suis quelqu’un / qui prend son déjeuner/regardant les splendeurs du matin

Mình cũng như ai-

Ngồi dùng bữa sáng

ngắm ban mai huy hòang

BASHO


17-Le Pont de Londres s’écroule . Roma est brulée et Babylone la Grande n’est plus que poussière et pourtant,le Printemps doit revenir par le tir continuel du Temps sur la Terre

Cầu Luân-đôn đã sập.Thành phố Roma bị thiêu rụi và Đại Babilon chỉ còn là tro bụi.Nhưng mùa Xuân vẫn phải trở về, bởi làn đạn của Thời gian liên hồi nã vào Quả Đất!

DAVID GASCOGNE


18-Pluie de printemps / trempant sur la terrasse / une balle en chiffon

Mưa xuân

một quả bóng bằng giẻ

ướt sũng ngoài hiên

BUSON


19-Matin comme un joyau renversé / un homme murmurant avec quelqu’un à la porte / la fête des dieux

Ban mai như báu vật đổ kềnh

một quý ông đang thì thầm với ai ngoài cửa:

-Ngày Hội các thánh thần”

BUSON


20-Fuji seul / non enseveli / par les jeunes feuilles vertes

Chỉ núi Phú Sĩ

không bị phủ vùi

bởi lá non xanh

BUSON


21- Silence / et un silence plus profond / quand les grillons hésitent

Im lặng -

Và lắng sâu hơn

khi ngập ngừng tiếng dế

LEONARD COHEN


22- Premières bourrasques du Printemps / ma chemise de flanelle / Comme un cerf-volant

Những cơn giông đầu Xuân -

Như cánh diều phơ phất

chiếc áo mỏng của tôi

SHOKAN


23- Aussi fraiche que les pâles fleurs humides de muguet .Elle est étendue près de moi à l’aube

Mát tươi như cánh hoa chuông đẫm sương màu nhạt-

Nàng nằm bên tôi

đến tận bình minh

EZRA POUND


24- Herbe verte / entre ,entre les brins/ la couleur de l’eau

Cỏ xanh-

Giữa từng cọng cỏ

màu làn nước trong

CHIYO-NI


25- Rentrant chez moi / Fleur / par / fleur

Đi về nhà tôi-

Hoa

Từng bông hoa một

JANE REICHOLD

Kỳ sau

ZEN-ÉTÉ

THIỀN-38 khúc MÙA HẠ

Đ.N.H

North American Haiku- Một số lão nữ Haijin Bắc Mỹ

alt

Lê Văn Truyền dịch

Elizabeth Kusuda (1924 – 2009): Sinh ở Tokyo ngày 10 tháng 12 năm 1924, có cha là người Anh và mẹ người Nhật. Sau khi tốt nghiệp trường Đại học y khoa Tokyo (Tokyo’s Medical University) danh tiếng, bà phục vụ Ủy Ban Nạn Nhân Nguyên Tử ở Hiroshima để giúp đỡ những nạn nhân bom nguyên tử trong Thế Chiến II.

soft greens

and cherries full bloom

but peace?

cây cỏ mềm mại

anh đào mãn khai

đâu sự an bình?


in the winter snow

magnolia buds grow

spring is coming

băng tuyết mùa đông

mộc lan đâm chồi

mùa xuân đang tới


midnight before dawn

two coyotes hunting

without color

nửa đêm trước bình minh

hai con sói không màu

săn mồi


crisp blue sky

the fir tip

rests a crow

trời xanh mát lành

ngọn cây linh sam

như cây cột chống


an orange raindrop—

reflecting autumnal tints

in the sunshine

giọt mưa mầu cam

nhuốm màu thu vàng

trong ánh triêu dương


blue sky and sunshine -

a lull in the rainy season

everything revived

trời xanh và ánh nắng

khoảnh khắc yên bình mùa mưa

vạn vật hồi sinh


swaying oak—

a squirrel

looking for seeds

cây sồi già lung lay

một con sóc

tìm hạt rụng


drizzling—

rain drops take longer

to fall

mưa phùn

hạt mưa bay lòng vòng

mới rơi xuống đất


waiting, waiting—

my grandson’s promise

a letter

đợi chờ, chờ đợi

lá thư đã hứa

của đứa cháu yêu


Helen Russell (1901 – 2011):
Sinh ở Seattle năm 1901, bắt đầu sáng tác haiku ở tuổi 87. Bà mất năm 2011, sống trên 100 tuổi.

he tells me the word

I’m looking for

total eclipse

anh nói những lời

tôi mải đợi chờ

nhật thực toàn phần


mulling over the day

fancy his saying that—

season of smog

quay cuồng suốt ngày

lạ lùng hắn nói

đây mùa khói sương


head raised to howl

with the coyotes out there

but where is the moon

ngẩng đầu hú vang

những con sói hoang

trăng đâu không thấy


come fly with me

crooner sings to woman

with a walker

hãy bay cùng tôi

khúc hát ngâm nga

người đàn bà đi cùng lữ khách


winter morning

loneliness

tell me about it

buổi sớm mùa đông

nỗi cô đơn

thổ lộ cùng tôi điều ấy


canned peaches

stuck full of cloves

it must be her period

những quả đào đóng hộp

mình cắm đầy hoa đinh hương

chắc đến kỳ kinh nguyệt


a black man

in the white house

and by the front door

một người da đen

trong ngôi nhà trắng

ngồi ngay mặt tiền


I kiss my pillow

put my cheek upon the spot—

ready now to dream.

tôi hôn chiếc gối

áp má lên vết hôn

sắp lạc vào giấc mộng


Marilyn Sandall (1942 – 2015): Marilyn Sandall sinh ngày 9 tháng 7 năm 1942 và mất ngày 12 tháng 9 năm 2015. Bà lớn lên ở Oregon và sống nhiều năm ở Seattle. Haiku của bà xuất hiện trong nhiều tạp chí “Brussels Sprout”, “Woodnotes, Chiyo’s Corner” và tuyển tập “Haiku Northwest”.

nest hole

waiting a wren moment

before it reappears

tổ chim rỗng

chờ chú hồng tước

tìm đường bay về


morning mist -

wind shifts

the mountain peak

sương mai

gió thổi về

đỉnh núi


winter fog

the full moon

out of focus

sương mù mùa Đông

che khuất

trăng tròn


awakened

by the silence

first snowfall

tĩnh lặng

đánh thức

bông tuyết đầu mùa


bones beneath

hospital sheets

my father smaller

gầy giơ xương

trên tấm khăn trải giường

bố tôi bé lại


Doris H. Thurston (1924 – 2017): Sinh trưởng ở Woodland, tốt nghiệp Evergreen State College ở thành phố Olympia, Washington vào năm 1989. Bà xuất bản thơ trên hàng chục tạp chí và dạy sáng tác thơ haiku ở McCarthy, Alaska.

rain cloud

the day blows in

through sunshine

mây mưa

ngày bừng sáng

ánh nắng mặt trời


rain barrel

singing

its overflow song

trời mưa

vang lên hòa âm

chiếc thùng đầy nước


snowflakes

frozen to tree bark

morning silence

những bông hoa tuyết

đóng băng trên vỏ cây

tĩnh mịch ban mai


yellow leaf

you flutter down like a bird

but no song

những chiếc lá vàng

cánh chim bay liệng

không một tiếng hót


I listen again—a whisper

winter settles

into the grass

tôi lại lắng nghe

tiếng thì thầm mùa đông

đọng trong thảm cỏ


piano keyboard

black and white songs

in my fingers

phím đàn dương cầm

bài ca vui buồn vang vọng

dưới ngón tay tôi


why do I reach

for miracles in vision when one

small flower will do?

làm sao thấy được

những điều diệu kỳ

khi đóa hoa bừng nở


in a puddle

a leaf with a puddle

in the middle

trong vũng nước

trên chiếc lá rụng

đọng một giọt nước


spider web

floating in the wind

garden fragrance

mạng nhện

bơi trong gió

mùi hương khu vườn


wind in the trees

my dreams also fly

over the hill

gió trong vườn cây

những giấc mơ của tôi

bay qua núi đồi


things live and die

along the edge of consciousness

I reach out my hand

vạn vật sống chết

theo đường chỉ tay

tôi chìa tay ra


full moon—

from the cloud bank

a circle of light

trăng tròn

qua đám mây dày

chỉ còn quầng sáng


quiet so deep

you can hear the swan

crook its neck

không gian tĩnh lặng

nghe tiếng thiên nga

uốn cong chiếc cổ


morning frost

a compost seedling

sparkles

sương giá ban mai

cây non

lóng lánh

Jay Gelzer (1943 – 2012): Bà sống ở Seatle, Washington. Là một nhà tâm lý trị liệu nổi tiếng, một nhà văn, nhà thơ và bà mẹ tuyệt vời. Các haijin Bắc Mỹ coi bà là một bông hoa lạ sáng chói, nồng nhiệt, nhậy cảm và trí tuệ sâu sắc trong vườn hoa các nữ haijin. Bà sống trong một ngôi nhà nổi và mất ở tuổi 70.

Twilight

the crows outlast

the gardener

hoàng hôn

những con quạ đen

sống lâu hơn người làm vườn


sunny morning

even the scraps

beautiful in the bowl

buổi sáng nắng tươi

mẫu thức ăn thừa

trong bát vẫn đẹp


that ready smile—

her tale of finding

a marvelous morel

cô gái tươi cười

kể chuyện tìm ra

quả lu lu đực kỳ diệu


Michelle Schaefer: Michelle Schaefer chuyên làm thơ tự do và haiku. Haiku của bà đã xuất bản trên các tạp chí “Heron’s Nest”, “Acorn”,Modern Haiku, A Hundred Gourds” và “Daily Haiku”.

winter solitude

the elevator speaks

to me

mùa đông cô đơn

chỉ có thang máy

chuyện trò cùng tôi


summer passing

the yard flamingo’s

rusty legs

mùa hè đi qua

những đôi chân hồng hạc

như hàng rào đen


thin winter air

the hair left behind

in her brush

gió đông nhẹ thổi

cô gái chải đầu

tóc bay về phía sau.

LVT dịch

Buson Taganuchi & Yosa (1716- 1783)- Đại sư Haiku, Nhà Danh họa

Haikuviet.com: Ngày 25 tháng 12 hàng năm là kỷ niệm ngày mất của Đại sư Haiku- Nhà Danh họa BUSON. Chúng tôi xin cúi đầu tưởng niệm một tượng đài của nền thơ Haiku Nhật Bản và Thế giới và trân trọng giới thiệu tóm lược về Người.

alt

Vài dòng tiểu sử:

Buson sinh năm 1716 là con một gia đình nông dân ở Kema quận Higashinari Tỉnh Setsu (nay là quận Osaka) vào thời kỳ bình trị của thời đại TOKUGAWA.Cho đến năm 20 tuổi,ông ở với gia đình làm nghề vẽ tử hồi rất trẻ.Rồi ông đi Edo (nay là Tokyo) học vẽ và làm thơ.Lúc đầu học với thầy Uchida Senzan trước khi thụ giáo thầy Hayano (còn gọi là Soya) vốn là đồ đệ của Kikaku và Ransetsu-2 nhà thơ lớn, môn sinh của Cụ Basho.Khi thầy Hayano mất,ông ở lại phía Bắc Edo,làng Yuki từ đó” Lên miền Oku “ như Đại sư Basho khi trước, khoảng 10 năm vẫn vẽ và làm thơ..Năm 1751,cố định ở Kyoto ,học xong hội họa ở đó.Mùa xuân năm 1754 dời về Yosa bắc Kyoto trong 10 năm,lấy tên họ mới là YOSA khi 38 tuổi,mở xưởng vẽ bình phong,cùng với các môn sinh theo đuổi hội họa chuyên nghiệp.

Năm 45 tuổi ,lấy vợ là Tomo,có một con gái.Lập trường phái họa Nanga cùng Ikeno Taiga,lập Hội thơ Shankasa cùng Tan Taigi,Kuroyagani Shoha và các học trò của Hayano.Từ 1766 đến 1768 du ngoạn,đã đến Shikoku.Trở về,vẫn tiếp xúc với hội thơ Shankasha.Thời gian này sáng tác nhiều tác phẩm hay nhất.

Từ 1770- lấy tên mới là Yahantei để tôn vinh thầy là YAHANTEI.Phụ trách Nhóm nhà thơ trẻ ở Kyoto.Thời kỳ này vẽ nhiều.Nhiều tác phẩm lớn.Năm 1771,cùng Taiga đã minh họa các album của Lili Weng “ Les 10 avantages et 10 plaisirs de la vie à la campagne” 10 lợi ích và 10 điều thú vị ở nông thôn”Jubenzu Jugizu” .Thời kỳ này cũng là đỉnh cao sáng tạo của Nghệ thuật và Thi ca của ông.

-Năm 1773,bắt đầu xuất bản Haiku của mình,tiếp sau các tập in chung Sôno Yuki

Kage (Bóng của tuyết) và Kono hotori (Ở gần đây)

-Năm 1773,ra tập Ake garasu (Con quạ lúc bình minh)

-Năm 1776,ra tập Zoku ake garasu (Con quạ khác lúc bình minh) và Yahan raku (Mừng năm mới)

-Năm 1774 ông lấy tên mới là BUSON khi 58 tuổi,10 năm trước khi mất.

Tiếng tăm về hội họa của ông ngày càng lớn,tác phẩm bán rất chạy.Ông cũng tự nhận thức được chất lượng của chúng.Trong một bức thư gửi bạn,ông tự đánh giá “là vô địch so với các họa sĩ cùng thời

-Năm 1777,ông bỗng đưa ra một dự định độc đáo (cũng như HOKUSAI) khi về già là:

* Mỗi buổi sáng vẽ 1 con Shishi (Con vật thần thoại dưới lốt sư tử)

Kết quả : Đến cuối đời vẽ được 219 bức

*Ra tập SHIN HANATSUMI (Mùa hái hoa mới-Thơ Haiku)

Dự kiến : đạt 1.000 bài-mỗi ngày 10 bài / 100 ngày liền

Kết quả : Trong 17 ngày,đạt 17x10 = 170 bài.

Do sức khỏe không ổn định đành phải bỏ dở 2 dự định này.

-Năm 1782 : Vãn cảnh núi YOSHINO,tây-nam NARA nổi tiếng danh thắng về mùa hoa anh đào . Đó cũng là chuyến viễn du cuối cùng của ông.Sau này ông còn đi dạo chơi vùng YI gần Kyoto hái nấm rừng. Bị ngộ bệnh nặng,rất may qua khỏi.

-Tháng 10 năm 1783,tại JINIJU ông viết:

“Thế là phần dài nhất của Lộc trời cho ta đã qua.Và ta chờ đợi phút đi về phía bên kia của cuộc đời.Ta đã tự thấy mình kiệt sức rồi”.

Trước khi mất,ông viết 3 khúc từ thế :

1-Rossignol d’hiver

Comme autrefois sur la haie

Chez Wang Wei aussi

Ôi họa mi mùa đông*

hót trên bờ dậu-

Như xưa ở Hoàng Hoài

2-Ô rossignol!

Quel est ce bruit

Givre sur la haie

Ơi họa mi!*

Tiếng gì thế nhỉ?

Tiếng băng tan trên bờ dậu

3-Fleurs de prunier blanches

Et cette nuit qui devient

la lueur de l’aube

Hoa mận trắng xóa*

Và đêm nay bỗng hỏa

ánh bình minh

Buson mất ngày 25 tháng 12 năm 1783 ở tuổi 68.An táng tại Nghĩa trang phía trên đền KONPUKUZI,gần ngôi thảo am của Cụ Basho xưa kia mà chính ông và bà vợ (sau thành ni cô) đã từng sửa sang,tu bổ.

***

Cũng như xưa kia,Cụ Basho đã nâng thơ Haiku lên tuyệt đỉnh,vào hàng Văn chương thanh cao nhất-BUSON đến lượt mình,đã tiếp cho Haiku hơi thở mới,đúng vào thời kỳ thể thơ này đang bị bỏ rơi kể từ khi Cụ BASHO qua đời.Mãi 100 năm sau,MASAOKA SHIKI (1867-1902) nhà Phê bình và Đại thi sĩ đã trả lại công bằng cho BUSON khi đặt ông vào vị trí chuẩn xác trong lịch sử Văn học Nhật Bản : So sánh” BUSON ngang tầm với BASHO”lần đầu tiên ở nước này.

Phối hợp tài năng hội họa đỉnh cao và thi ca thượng thặng,BUSON đã rút biết bao kinh nghiệm khi tiếp xúc với thiên nhiên,đã đạt tự do biểu cảm và một độ cao trữ tình ít người sánh kịp trong thơ Haiku.

Chính ông đã đề xuất BUNJIN GA (Hội họa của văn nhân) và NANGA (lấy tứ trực tiếp từ hội họa Trung Hoa) Ông đã bảo vệ nguyên tắc Không chuyên nghiệp hóa trong Quy chế “ HỌA SỸ-THI SĨ”.Ông đã lập ra Trường phái học HAIGA : Phối hợp trong cùng một không gian HAIKU & HỘI HỌA,nhấn mạnh các hình ảnh chủ đạo,đẹp đẽ của bài thơ bằng tranh thủy mặc (lavis) để nhấn mạnh sức gợi cảm.

Về cuối đời,ông rời bỏ hoàn toàn hội họa ,chỉ dành thời gian làm thơ.Ông dạy học trò sự cần thiết VIỆC HỌC TẬP NGHIÊM CẨN mọi tác phẩm của Quá khứ để rút ra các lý tưởng của Tiền Nhân./.

Đinh Nhật Hạnh dịch thơ

***

PHỤ LỤC QUÝ HIẾM CẦN BIẾT VỂ ĐẠI SƯ BUSON

HỌ TÊN & BÚT DANH CỦA ĐẠI SƯ BUSON

Thật chưa có ai trên thi đàn Haiku Thế giới cổ kim lại có 2 họ và 25 tên và bút danh như Đại sư BUSON.Trong suốt cuộc đời mình,chưa hiểu lý do gì mà ông lại dùng nhiều bút danh đến thế.

Đặc biệt là ông có 2 họ:

Họ khai sinh : TANIGUCHI

Họ thứ hai: YOSA (năm 38 tuổi)

24 TÊN & BÚT DANH :

BUSON (từ năm 1774- khi đã 58 tuổi)

-Nobuaki –Shinsho –Busei- Choko- Chokyo- Choso-Gasendo - Hajin-

Hakundo -Heikyundo- Rakujitsuan- Saicho- Sanka- Sansodo - Sha Sunsei- Shain-Shikoan –Shimei-Shunsei-Tosei-Undo-Unsai-Yaha’no-Yahantai .

***

Tham khảo:

Buson-66 haiku

Dịch từ tiếng Nhật của Joan Titus-Carmen

Buson-1020 haiku

Dịch từ tiếng Nhật củaTakafumi Saito

KỲ SAU: BUSON “ Haiku mùa Xuân”

Chùm Haiku của Zlatka Timenova- Lisbonne, Portugal

alt

1-Nuit chaude / une luciole,encore une / la danse des étoiles

Đêm ấm nồng / kìa con đom đóm ! lại thêm con nữa / vũ điệu các vì sao

2-fatigués,derniers / reflets du soleil / sur le mur

Mệt nhoài / những tia nắng cuối cùng / trên bức tường lấp loáng

3-petit garcon à côté / de la mère gisant / personne ne pleure

Em bé trai / nằm cạnh mẹ gục bên đường / không ai khóc thương

4-espoir de chaleur / dans la nuit solitaire / l’été indien

Hi vọng được ấm áp / trong đêm cô đơn / mùa hè Ấn độ

5-après l’hôpital / sur le chemin de la maison / les étoiles font mal

Ra viện / trên đường về nhà / ánh sao đêm làm mình khó ở

6-lune d’automne / cette autre lumière / sur le vísage

Trăng thu / luồng ánh sáng khác ấy / soi khuôn mặt này

7-chambre d’hôtel / solitude pleine / de mots inconnus

Phòng khách sạn / nỗi cô đơn / đầy những từ xa lạ

8-station de métro / oranges peintes sur le mur / mal d’Afrique

Ga tàu điện ngầm / những quả cam vẽ trên tường / bỗng nhớ thế, châu Phi!

9-cette soumission / dans le regard du chien / crime insupportable

Nhìn vẻ phục tùng / trong đôi mắt con chó / tội ác không sao chịu nổi

10-les soupirs d’adieu / des feuilles jaunes / à bientôt!

Những tiếng thở than ly biệt / của lá vàng / mau gặp lại nhau thôi!

11-un nuage / dans nos yeux / jamais le même

Một đám mây vẩn / trong mắt ta / không bao giờ vẫn cùng một dạng

12-jour après jour / la même pierre / dans la chaussure

Ngày lại qua ngày / vẫn mảnh đá ấy / trong giày mình đi

13-créspuscule / la mouette sur le rocher /garde la baie

Hoàng hôn / con hải âu trên mỏm đá / canh giữ vịnh biển này

14-les yeux de la biche / une seconde avant / l’éternité

Đôi mắt hươu mẹ / chỉ một giây thôi / trước cõi vĩnh hằng

15-feuilles d’automne / couvrant les tombes / dormir ensemble

Lá mùa thu rơi,rơi / ôm ấp những nấm mồ / cùng chung giấc ngủ

16-nuit parfumée / plantes,bêtes et hommes / le même frisson

Đêm ngát hương / người,vật,cỏ cây / đều chung niềm rung động

Lisbonne 20-11-2017

TS Zlatka Timenova

Cộng tác viên nước ngoài của Haiku Việt

***

Hà Nội 18/12/2017

Đinh Nhật Hạnh

Version en vietnamien

===


Sinh hoạt thơ Haiku tại Kyoto- Nguyễn Vũ Quỳnh Như

Chiều ngày 16/12/2017, tại một phòng họp gần ga Kyoto, nhóm Net Haiku gần 40 thành viên đã tổ chức sinh hoạt thơ haiku. Thành viên nhóm gồm các Giáo sư thơ haikai trường Đại học Kansai, Doshisha, nhiều chuyên gia thơ haiku đến từ nhiều nơi của Nhật Bản như Kyoto, Osaka, Shizuoka, từ phương Bắc xa xôi Hokkaido, và từ phương nam Kumamoto nơi đã từng hứng chịu động đất liên hoàn năm 2016.

alt
(Hội thơ Haiku tại Kyoto; Ngồi bên cạnh Quỳnh Như là Giáo sư Đại học Kansai, chuyên gia về thơ haikai, về nhà thơ Buson)

Trước khi bắt đầu sinh hoạt hội thơ, Giáo sư thơ haikai của trường Đại học Kansai đã có bài nói chuyện về nhà thơ Masaoka Shiki – một nhà thơ tài năng vì không chỉ làm thơ haiku mà còn làm thơ tanka và viết tiểu thuyết. Masaoka Shiki không thích và ít có bài thơ về Hyakunin Isshu (Thơ Waka trăm nhà) vì nó giống thơ Senryu, thích chơi Karuta (một trò chơi bài lá), vì với trò này có nhiều Quý ngữ, và Shiki có nhiều bài thơ về tình yêu.

Tham dự hội thơ haiku, mỗi người đem theo hai bài thơ haiku theo chủ dề quý ngữ “Cây khô”, “Đậu hủ nóng (Yudofu)” là món ăn đặc sắc tiêu biểu của Kyoto vào mùa đông.

Quỳnh Như – một thành viên người nước ngoài, cùng dự Hội thơ được tổ chức theo kiểu hội thơ “Buson Kukai”. Trong gần 2 năm qua, Quỳnh Như đã từng tham dự các Hội thơ (Kukai)  theo hình thức truyền thống haikai thời nhà thơ Basho. Theo cách của hội thơ haikai của Basho là người bình chọn không biết tên người sáng tác (Các cuộc thi thơ haiku tại Nhật đa số đều được tổ chức theo hình thức này. Cuộc thi thơ haiku của Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tổ chức cũng vậy. Có thể hiểu nôm na là thi thơ có rọc phách, người bình chọn thơ không biết ai là tác giả. Nhà thơ Matsuo Basho khi tham gia hội thơ cũng theo thể lệ này).

Hôm nay lần đầu tiên được tham dự hội thơ theo hình thức của nhà thơ Buson, thật là thú vị. Nhà thơ Buson khi đến tham dự Hội thơ không cho mình là nhà thơ mà là một họa sĩ, tham gia bình đẳng như mọi người và ông đã đưa ra một hình thức sinh hoạt mới, được gọi là “Buson Kukai”. Không thể hiện quá chuyên nghiệp, hội thơ “Buson Kukai” dân dã, quần chúng hơn và mục đích của hội thơ là giúp tác giả biết bài thơ nào của mình được mọi người yêu thích nhất. Trong hai bài thơ của Quỳnh Như, bài thơ về “đậu hủ nóng” được mọi người chọn là bài thơ được yêu thích. Xin tạm dịch sang tiếng Việt: Không thể chờ / đậu hũ nóng vừa chín / ăn nhanh thôi

Sau khi tham gia bình chọn, mọi người rất háo hức khi biết Quỳnh Như đến từ Việt Nam, nơi có thơ haiku đang được phát triển. Thế là, ngoài dự kiến, Quỳnh Như đã có buổi nói chuyện về phong trào và đặc trưng thơ haiku Việt. Sau khi đọc thơ haiku Việt và chuyển nghĩa một số bài thơ haiku Việt, đã nhận được nhiều câu hỏi và ý kiến cho sự phát triển thơ haiku. Rằng thơ haiku Việt có 5-7-5 không, quý ngữ đặc trưng theo từng mùa của thơ haiku Việt là gì..Các chuyên gia thơ haiku Nhật cho biết hiện nay tại Nhật tuy những dòng thơ haiku hiện đại có thể không sử dụng quý ngữ, nhưng hơn 80% thơ haiku đều có quý ngữ. Có thể hiểu quý ngữ như là tài sản vô giá của thơ haiku và vẫn đang được dạy tại trường phổ thông trong các giờ dạy haiku, tại các hội thơ…

Quỳnh Như đã giới thiệu một số bài thơ haiku Việt có quý ngữ vào Ngày nhà giáo Việt Nam (Nhật Bản không có ngày này), một số bài thơ mùa thu…để minh chứng rằng thơ haiku Việt cũng có quý ngữ. Phía hội rất vui mừng về điều này và khuyến khích nên tiếp tục như thế, vì nhờ có quý ngữ, giúp cho nguồn sáng tác phong phú hơn. Vào thời điểm này, tại Nhật Bản đang tất bật chuẩn bị đón Noel và Năm mới, Hội thơ tin chắc chắn rằng Việt Nam cũng tưng bừng với sự kiện này rất háo hức được đón đọc những bài thơ haiku Việt về Noel, về Tết Tây và sau này là Tết ta nữa.

Một điều Hội lưu ý là có một số bài thơ haiku Việt tuy có quý ngữ, nhưng còn tình trạng có nhiều quý ngữ sử dụng trong cùng một bài thơ. Đây là một lỗi rất cơ bản trong sáng tác thơ haiku và luôn được nhắc nhở ngay từ lúc mới tập tành làm thơ (Xin tham khảo thêm bài viết “Tinh tế tính chắt lọc trong thơ Haiku”(http://haikuviet.com/ly-luan/462-2017-10-24-21-19-21.html…) .

Không tham vọng trở thành nhà thơ haiku, những chuyến đi Nhật Bản của Quỳnh Như là nhằm nâng cao kiến thức về thơ haiku, hiểu đúng hơn thế nào là thơ haiku. Trước sự mong mỏi đó, Giáo sư Đại học Kansai ngay lập tức sắp xếp cho Quỳnh Như tham dự những giờ học về thơ haiku tại Trường, các buổi hội nghị quốc tế về thơ haiku. Chắc rằng trong các hội nghị này, sẽ tiếp tục nói về thơ haiku Việt.

Đáp lại, cũng theo mong mỏi của phía Nhật, Quỳnh Như dự kiến sẽ tập hợp bộ sưu tập quý ngữ thơ haiku Việt để giới thiệu cho Nhật Bản. Phía Nhật Bản rất vui mừng và sẵn sàng giúp đỡ công việc này. Rất mong sự tham gia của các hội viên haiku Việt, nếu ai có quan tâm xin vui lòng liên hệ với Quỳnh Như để trao đổi cụ thể hơn.

Kyoto, 16/12/2017

NVQN

.

Chùm thơ Haiku của Chikubon- Nhật Bản

alt

CHIKUBON (1960- )

Hội viên WHA


1-Overtime work / warm -hearted dinner / with spring cabbage

Lao động ngoài giờ / mời bữa đêm thân mật/ đãi bắp cải đầu xuân

2-Mumbai full of good luck / at sunset / hawks whirling in the sky

Mumbai tràn hạnh phúc / hoàng hôn vừa buông xuống / diều hâu liệng kín trời

3-Fire burning off a field / painting a black face / on the Deccan plateau

Lửa thiêu trụi cánh đồng / ám đen khuôn mặt người / trên cao nguyên Deccan

4-Short spring dream / on the night bus of my past / toward home

Giấc mộng xuân ngắn ngủi / trên xe buýt về nhà / một đêm thời xưa xa

5-Even passers-by/want to be coquettish / under the cherry blossoms illuminated

Ngay cả khách qua đường / vẫn cứ thích làm dáng / dưới ánh hoa anh đào

6-On a muddy road / I’m chasing a cow / treading on the sun

Trên con lộ bùn lầy / đuổi theo con bò cái / tôi chạy dưới nắng thiêu

*****

Ngõ bằng lăng

Hà Nội 2017

Đinh Nhật Hạnh

Sưu tầm,dịch thơ và giới thiệu

Trích WHA Reviews (số 12,13/2015-2016)

Chùm Haiku của Kei Kinjo- Nhật Bản

alt

Kei KINJO (1945-) NHẬT BẢN


1- From cherry trees / with green leaves / the sky leaves rapidly

-Từ rặng anh đào / lá xanh mơn mởn / trời xanh vội rời


2- A knot / we can't find / in today's sky

-Trên trời hôm nay / không sao tìm được/ một vẩn mây nào


3- A white azelea / frightened at / a simple thing

- Có bông bạch- đỗ- quyên / hoảng sợ / vì một điều không đâu


4- It's spring / the delivery services / never arrive

-Cứ đến mùa xuân / các hãng giao hàng / không bao giờ đến


5- Labyrinths made / of my ten fingers / two mirrors against each other

-Những mê lộ / trên 10 ngón tay tôi / tạo thành 2 mặt gương đối chiếu


6- Summer butterflies / Joan of Arc rushes / headlong

-Những cánh bướm mùa hè / như nàng Jeanne d'Arc/ liều lĩnh xông lên


7- On the plain of silence / notes of a lamb / are drifting

-Trên cánh đồng lặng yên / tiếng cừu non / lạc lõng


8- On the lake / one drunken angel / the moon of the morning

-Trên hồ / một thiên thần say khướt / trong ánh trăng ban mai


9- Cracked dishes / spout out blood / in the grand setting sun

-Những chiếc đĩa nứt nẻ / phun vọt máu tươi / vào mặt trời chiều chạng vạng


10- Young grass sways / in amniotic fluid / - drowsiness

- Cỏ non ngả nghiêng / trong bầu nước ối / gật gà gật gù


11- Huge flowers field / spread at the back /of vision test

-Cánh đồng hoa mênh mông / trải dài tận mặt sau / của bảng đo thị lực


12- The history of my lìfe / begins to stray : / the year changing day

-Cuộc đời tôi / bắt đầu lạc lối / như năm tháng thay ngày


13- The sky / with its mouth wide open / fruits of taro

- Bầu trời / miệng mở rộng / những củ khoai môn


14- The total eclipse / of the moon: I find / depression of the universe

-Nguyệt thực toàn phần / tôi nhận thấy / nỗi muộn phiền của vũ trụ


15- The quick pulse / a fire on a boat to lure fish / into my chest

-Nhịp mạch đập nhanh / trong lồng ngực tôi / một đốm lửa trên thuyền nhử cá


16- I sleep like a newborn baby / glad in early summer

-Tôi ngủ say sưa / như trẻ sơ sinh / vui hồn nhiên một ngày hạ sớm


17- A bagworm is bedridden / sleeping on the swinging seat / of wind

-Một con sâu ốm nặng / nằm ngủ trên chiếc ghế vật vờ / của gió


18- The first spring storm / I'm horrified by / the prime color of dreams

- Cơn bão đầu xuân / tôi kinh hãi / màu sắc đầu tiên của những giấc mơ


19- Coral suffers / are you aware of / the moon's tears ?

-Những rạn san hô bị tổn thương / bạn hỡi thấu chăng / dòng lệ trăng buồn?


20- Parent's sea and on its back / rests a new moon

-Bố của biển cả / và sau lưng / nằm nghỉ vệt trăng non


21- Avenue of Peace / piggy backed by / heat haze

-Trên đại lộ Hòa Bình / bầy lợn con nằm ngả nghiêng / phơi sương ấm


22- Very fast / the rainy season of a wounded soldier / ís coming

-Mùa mưa / ập đến rất nhanh / với người thương binh ấy


23- A gourd wants to be / a wracked ship / only one whole day

- Có một quả bầu / ước thành con tàu đắm / chỉ vỏn vẹn một ngày thôi


24- Peach and plumb / the truth is covered / with a membrane

- Quả mận,quả đào / chân lý bị bao trùm / bằng một lớp vỏ mỏng


25- Souls / becoming a whirlpool / of debris

-Linh hồn / biến thành một vòng xoáy / của những mảnh đời


26- Deep within the eyes / left a winter firefly / donating my internal organs

-Thẳm sâu trong đôi mắt / nổ đom đóm mùa đông / tôi định hiến nội tạng


27- An angler / nowhere to go / sharpens its eyes

- Một chàng câu cá / chẳng biết đi đâu / ngồi mài sắc đôi mắt


28- Dragging depression / of daytime / moon on summer solstice

-Kéo lê nỗi chán chường / của ban ngày / mặt trăng tiết hạ chí


29- Surrounding / lost shadow of March / lively sound

-Bao quanh / chiếc bóng đã mất tháng Ba qua / tiếng cuộc đời


30- Seedless spring moon / buds / on the blue earth

- Trăng xuân không hạt giống / bao nụ mầm / trên trái đất xanh lơ


31- Grand sunset / the past undresses / slowly

-Buổi chiều tà bao la / quá khứ cởi áo quần / chậm rãi


32- Moles spread / on the moon's face- / depression on the earth

- Những nốt ruồi rộng lan / trên mặt trăng / nếp gồ ghề trên quả đất


33- Cirrocumulus clouds- / I shall lock / my age

-Những giải mây ti -tích - / tôi sẽ khóa chặt / tuổi xuân mình


34- Japan / neglecting the bottom of society / cherry blossoms in full bloom

-Nhật Bản / không quan tâm đến đáy sâu xã hội / hoa anh đào vẫn nở mãn khai


35- Spring morning sun / catching in íts both hands / pain and pleasure

- Mặt trời buổi sáng xuân / cầm trong hai tay / khổ đau và hoan lạc


36- Its looks like / the hips of my mother / spring moon

- Mặt trăng xuân / trông giống như / vòng eo số ba của mẹ


37- Yesterday and today / a cirrocumulus looks like / a pair of military shoes

-Hai hôm nay / có một giải mây ti -tích / giống hệt như đôi ủng nhà binh


38- I must hide something / in haste / a snake will appear soon

-Tôi phải vội cất giấu ngay / một vật gì đó / có con rắn sắp xông vào


39- my words / thickly dressed /all day long

-những từ ngữ của tôi / phục trang dày dặn / suốt cả ngày dài


40- A white fingertip / ís killing a man / smartphone

- Một đầu ngón tay trắng muốt/ đang giết chểt một người / bằng chiếc Smartphone

Trích nguồn WHA Reviews No 1>13

Đinh Nhật Hạnh

sưu tầm,dịch thơ và giới thiệu


Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay512
mod_vvisit_counterHôm qua581
mod_vvisit_counterTất cả151722
Hiện có 37 khách Trực tuyến