Hữu Duyên- Lý Viễn Giao

alt

Văn kỳ thanh từ cái thuở anh đoạt giải nhất trong cuộc thi thơ Haiku do lãnh sự quán Nhật Bản tại thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lần đầu. Bài thơ ấy có tiêu đề “Đứa trẻ” :

Xó chợ

Chiếc lon trống

Hạt mưa mồ côi

Cái cách anh nhìn đời với nỗi niềm đau đáu gửi vào khúc thơ ngắn cứ ám ảnh tôi hoài. Với sự hiếu kỳ bản năng, tôi tiếp tục theo anh thêm trên các trang viết. Và anh cũng nhích lại dần về phía chúng tôi, chìa thay ra.

Anh vốn dân gốc Quảng Ngãi, cùng gia đình lập nghiệp trên cao nguyên Trung phần. Tham gia hội đoàn và viết lách ở đó. Sống lãng tử và hết mình. Vì muốn thay đổi và thử sức khi còn có thể, anh tìm phương trời mới với bề rộng tầm cao hơn, anh đã về đây, Sài Gòn xưa ! Lại một lần nữa bản năng hiếu kỳ thôi thúc, tôi vượt qua chặng dài một giờ ba mươi phút xe không tắc đường đến gặp anh, Thủ Đức. Không khó nhận ra bởi cái nắng cái gió và hơi sống Cao nguyên dường như phảng phất trên con người anh mách giác quan tôi.

Cởi mở, thân tình là cảm nhận của cả hai ngay từ phút đầu. Trong quán cà phê góc phố, chúng tôi đã giãi bày to nhỏ. Chuyện đời, chuyện giời và chuyện thơ đan quyện. Có vẻ như những điều còn phân vân và cả những khoảng trống, khoảng lặng trong thơ Haiku mà ta đang tắm mình , tôi cùng anh ít có nhận thức trái chiều.

Giở một trang ngẫu nhiên, đọc một bài cũng ngẫu nhiên trong quyển thơ anh vừa tặng do nhà xuất bản Văn Học cấp phép :

Trên cành cây cháy sém

Giọt sương đen

Khóc rừng

Thì ra nỗi niềm đau đáu anh không chỉ gửi vào cảnh ngộ con người mà cả cho cỏ cây. Tôi đã biết và sẽ đọc tiếp để khảng định chất nhân văn, tính uyên thâm mang màu triết ngôn trong thơ anh. Khi đã kiến kỳ hình, tôi tự nhiên nhận ra thơ ấy là cái bóng chân thực của  người này cấm có sai.

Khi chia tay anh, Haijin Nguyễn Thánh Ngã, tôi không chào không chúc mà chỉ mượn cụ Nguyễn Du câu này nói với anh : “Còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau”!

LVG

Thầy- và những vị Thầy không lên lớp- Đinh Nhật Hạnh

- Không thầy,đố mầy làm nên

(Tục ngữ)

alt

Xin thành kính dâng tấm lòng biết ơn các Thầy đã từng lên lớp ,dắt dẫn chúng em từ buổi khai tâm -thuở còn để tóc trái đào.Nhớ sao những buổi đầu phóng học ,ngồi xổm màì son mòn cả mấy đầu ngón tay, viết bút tre trên lá chuối hoặc lên đồi hái quả mua chín về bóp nát làm mực màu tím thay vì ngòi bút hình lá trúc,lá tre bằng kim loại mạ những năm ngồi ghế gỗ lim bóng loáng trường Pháp –Việt Phủ Anh Sơn sau này.Người thầy khai tâm bọn tôi-những Đinh viết Tiệp, Nguyễn đình Ân, Nguyễn đình Huấn,Nguyễn Cảnh Công… là Cụ Đinh Trung Thành ,Cụ Lê văn Nuôi- những thầy giáo làng tự nguyện.Chính nhờ môi trường học gia đình sơ khai -nhưng chất lượng cao không ngờ đó- mà năm lên 10 tuổi chúng tôi đã ung dung đủ điểm xét tuyển vào thẳng lớp Hai (cours Préparatoire) đàng hoàng,không phải qua lớp I Đồng ấu (cours Enfantin) tại Trường Pháp-Việt duy nhất của Phủ Anh Sơn xưa rộng bát ngát mà sau CCRĐ chia thành 3 Huyện Đô Lương, Tân kỳ,Anh Sơn (mới).

Buổi ấy,nhà tôi ở Xóm Đá làng Vịnh Đức, chỉ cách Trường Phủ đúng 1.200m,dọc Quốc lộ số 7 lên tận Mường Xén, biên giới Việt-Lào.Đường rải đá xanh phẳng lỳ .Hàng tháng có định kỳ xe Hồ lô bánh sắt to đùng chạy bằng than đá của Nhà Lục lộ trên Phủ cần cù, lăn bánh chậm rãi tu sửa quốc lộ tinh tươm. Thuở ấy,nghỉ Chủ nhật, ngày hai buổi đến trường,chiều thứ bảy dành cho học trò làm vườn trồng rau chấm điểm môn học thủ công (travail manuel). Chẳng hiểu vì chương trình học hợp lý, nhẹ nhàng hay vì tài sư phạm của các thầy mà chúng tôi đứa nào cũng thoải mái,chơi ra chơi vẫn học đâu nhớ đấy.Những cuốn Livre unique de Francais,Hístoire d’Annam của Dương Quảng Hàm,Quốc văn giáo khoa thư và Luân lý giáo khoa thư của Trần Trọng Kim là 4 cuốn giáo trình của lớp Nhất (cours Supérieur) mãi đến nay tôi vẫn còn vanh vách thuộc lòng nhiều đoạn.Chỉ thế thôi,còn các môn Toán,thì các thầy dạy không có sách giáo khoa như các môn trên.Tất nhiên ,tiếng Pháp thường gọi là tiếng Tây, được dùng thường xuyên trong trường, từ ông planton (khán trường) đến học trò thay phiên làm “Service” điểm danh hàng ngày:Présent-có mặt,Absent-vắng mặt.Các bác bán hàng văn phòng phẩm trên phố Phủ bấy giờ như hiệu Ngọc Thành ,hàng mũ Đại An thường đùa gọi chúng tôi là:

”Lẹo lẹo me dông đô,bố cu đờ tét bớp”nhại tiếng bồi câu tiếng Pháp cũng bồi nốt “Elèves maison d’eau-beaucoup de têtes boeufs”tức là” Học trò nhà nước, thật lắm đầu bò”.

Không biết vì sao, mãi đến nay-ở tuổi U100 mà lòng kính trọng các Thầy cấp Tiểu học mãi chẳng đổi thay.Hình ánh Cụ Hiệu trưởng Tây học Nguyễn Văn Bình khả kính ,dòng dõi khoa bảng,con cả Cụ Nghè Làng Yên Phúc- Tiến sĩ Nguyễn Văn Giá- nghiêm nghị trên bục giảng ,hậu duệ một dòng họ hiếu học bậc nhất tỉnh đã cống hiến cho đất nước nhiều tài năng trước và sau Cách mạng tháng 8-tan nát sau Giảm tô và CCRĐ.Thời ấy, ông nổi tiếng nghiêm khắc, thường trừng trị những học trò biếng nhác,không thuộc bài nhiều lần,quậy phá ,hay nói chuyện trong lớp- bằng câu nói quen thuộc “ Donnez-lui zéro!” (Cho trò ấy quả trứng ) và ngay sau đó là 3 roi song quắn đít-chỉ 3, không hơn không kém.Bắt nằm sấp trên bục đàng hoàng trước học sinh toàn trường rồi tự tay ông phạt.Cả lớp len lét và các lớp khác cũng sợ uy, răm rắp.Thật ra thì cả mấy năm tôi học ở đây chỉ xảy ra đôi lần ,cũng đủ làm các tay cù lần sợ xanh mắt .Trật tự luôn đảm bảo,đi theo đó là chất lượng nổi tiếng ngoài đời sau này của học trò Trường Pháp-Việt phủ Anh Sơn (cáo chung ngay sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945).

Mãi đến nay,sau hơn 80 năm ,bao kỷ niêm đẹp về các vị Thầy khai tâm ở quê nhà vẫn thường trực trong tôi.Từ Cụ Đinh Trung Thành người Ông đầu họ,đến các Thầy trường Pháp –Việt đạo mạo,hiền từ như Chú Hoàng Văn Chinh,Chú Nguyễn Đình Thành đồng hương khăn đóng áo dài, các Thầy Nguyễn Văn Bình,Nguyễn Văn Sự …luôn chỉnh tề tây phục mà biền biệt mấy chục năm qua chưa bao giờ được một lần gặp lại, nghĩ đến vẫn bùi ngùi ..Từ lâu, qua bao biến thiên long trời lở đất,không biết các hậu duệ của các Thầy lưu lạc phương nào trước bão táp của thời cuộc.Cả hai bạn học gái hiếm hoi thuở ấy-như Nguyễn Thị Dung con thầy Sự dạy lớp Nhì (cours Moyen II) thường mặc áo dài đen, ngồi bàn đầu ngay trước bàn tôi.Dạo ấy ngây thơ, chỉ ngồi nhìn bạn từ phía sau lưng,quả thật 3 năm học với nhau vẫn chưa hề nhìn kỹ mặt,chưa trò chuyện một lần mà chỉ nhớ cái gáy trắng nhỏ dưới mái tóc cắt cực ngắn rất nam tính .Bạn học nữ thứ 2 là Nguyễn thị Biền bẽn lẽn hơn ,con gái thầy Hiệu trưởng Nguyễn Văn Bình dạy lớp Nhất (cours Supérieur).Nghe đâu cả hai sau CCRĐ đều khốn khó về hậu vận trớ trêu của thành phần xã hội.Hễ nghĩ đến,vẫn bâng khuâng tự trách mình sao vô tình đến vậy! Ít ra đôi bên cũng nên có chút duyên học trò lưu lại vài kỷ niệm thời mực tím ngây thơ! Đằng này…

Thấm thoắt đã nhiều năm xa các Thầy ,các bạn thời Trung học Thuận An ở Vinh,thành phố thủ phủ tỉnh Nghệ An và sau đó mấy năm ở Trường Lycéum Hồng Đức ở tận Huế, không nhớ hết tên .Chỉ còn mường tượng dáng nho nhã trí thức của Thầy Võ Thuần Nho ,Hiệu trưởng trường Thuận An, dạo ấy chưa ai biết là em ruột Đại tướng Võ Nguyên Giáp,sau này là Thứ trưởng Bộ Giáo dục một thời;Giáo sư môn Sử -cụ Hoàng Đức Thi và Thầy dạy Văn, Trần Hậu Toàn người Hà Tĩnh luôn nhai trầu.Từ năm 1944, tình hình biến động,anh em chúng tôi-anh cả Đinh Viết Nguyên buộc phải trở về quê rồi tham gia Việt Minh ngay sau đó…

****

Trên đây là những bậc Thầy đã đưa chúng tôi đi trên con đường học vấn –tuy chưa hoàn thiện- do thời cuộc lịch sử tiền cách mạng,trước chiến tranh giải phóng,vẫn tạo cho mình một vốn văn hóa nhất định giúp mình tự cải thiện không ngừng .Điều lạ lùng là cho đến nay,cái vốn tích lũy từ ngày xưa trứng nước ấy vẫn thường xuyên nảy nở;những kiến thức ban đầu ấy luôn phát triển tự thân để có cơ hội tiếp thu bao điều mới lạ từ cuộc sống vần vũ phi thường qua 2 thế kỷ.Vốn văn hóa nhỏ nhoi nhưng vững chắc ban đầu ấy cho phép thưởng thức trực tiếp nhiều kiệt tác văn học Pháp-không qua sách dịch thời ấy vốn chưa hề có ,có thể vì đam mê ngoại ngữ nên thăng hoa-lượng đổi thành chất,phong phú và chuẩn xác qua thời gian . Tuy nhiên lòng vẫn luôn tự hỏi nhờ đâu mà bao nhận thức ban đầu vẫn luôn hiện hữu?

Thì ra bên cạnh những Thầy từng dạy bảo nghiêm túc trên ,còn có những bậc Thầy vô hình đã dắt dẫn mình vô tư ,không một lần lên lớp có công lao không nhỏ.Đặc biệt là phần ngoại ngữ.

Trước tiên ,đó là Quyển Tự điển Pháp “Petit Larousse illustré” in năm 1940 tại Paris mà không biết vì sao Mẹ tôi nhờ ai mua được.Thời ấy cả hàng Phủ may gì có dăm quyển,phải ra tận Hà Nội hay Huế mới mong tìm được.Với cậu bé nhà quê đích thị,thích tìm hiểu, sẵn quyết tâm ,tôi đã say mê tự học ngay trong quyển sách dày hàng nghìn trang,nặng chình chịch ấy dưới ánh đèn dầu hạt bưới,dầu hạt sở leo lét,khét mù.Kể cũng thật may.Số là cuốn từ điển này đặc biệt là loại nhiều hình ảnh có chú thích nghĩa chu đáo -ví dụ chỉ cần tìm hình con hổ sẽ biết ngay đó là “le tigre”,hay như hình con sư tử là có sẵn chú thích “le lion” Nhờ đó mà chỉ trong vài năm mần mò ,vốn từ vững tiếng Pháp của tôi vượt xa,khá xa các bạn cùng trang lứa mà còn ngang ngửa với một số đàn anh các lớp trên.Kết quả càng khích lệ ngay khi học lớp Đệ Nhất bậc Trung học , tôi đã đọc vo được những cuốn tiểu thuyết Pháp nổi tiếng như “Les trois Mousquetaires(Ba người lính ngự lâm pháo thủ) ”Vingt Ans après”(20năm sau) của Alexandre Dumas,”Pêcheurs d’Islande”Những chàng ngư phủ của Băng Đảo” của Pierre Loti…

Quyển Tự điển ấy tôi vẫn giữ như Kỷ vật số một ,quý báu nhất đời,người Bạn lớn-Người Thầy suốt thời gian dải 2 cuộc chiến tranh-từ năm 1947 đến mãi năm 1972, nhờ Mẹ tôi dìn giữ tại quê nhà Đô Lương ,lên bờ xuống ruộng ,cứ tảng sáng cất sách quý của con xuống đáy chum chôn sẵn ngoài vườn,đêm đến lại cất vào đầu giường để phòng bom đạn địch luôn nhằm vào miền quê đầy trận địa pháo phòng không ,chưa có một ngày yên bom đạn.Vị Thầy không nói ấy của tôi trước đây dày hơn 1.700 trang,khi theo Mẹ tôi ra định cư với các con ở Hà Nội năm 1972 còn lại hầu như nguyên vẹn ; vần A chỉ mất 02 trang và nửa vần Z phía sau đã bị rách mòn không khôi phục được.Điều kỳ lạ nữa là qua ngần ấy năm tháng dãi dầu,chỉ mục rách mất bìa,còn các mối chỉ khâu máy và toàn bộ những trang còn lại giấy vẫn phẳng phiu,không ố vàng,mục nát .Năm 2009 ,sau khi bồi bìa mới lại tốt đến mức ,tận bây giờ tôi vẫn tiếp tục sử dụng,không nỡ và cũng không cần mua quyển mới…

KỶ VẬT QUÝ NHẤT ĐỜI

Quyển Tự Điển in năm 1940

Chưa ố vàng,rách nát

Mất vài trang vần A, vần Z

Thấm mồ hôi,nước mắt Mẹ

Từng trang

Nâng pho Sách “Bạn-Thầy”2 Thế kỷ

Lệ nhòa ký ức

Ơn Mẹ hiền trao Kim Ốc* cho con

Sách nhờ Mẹ trường tồn, hai Cuộc Chiến

Hơi hướng Người

vương vấn

ấm nhân gian.”

Ngõ bằng lăng

Ngày Giỗ Mẹ 23 Tết 2009

ĐNH

*Thư trung hữu hoàng kim ốc(Trong sách có nhà vàng)

Xin kể tiếp tuần tự những bậc Thầy lặng lẽ đã dạy mình gián tiếp để có vốn tối thiểu -luôn háo hức thường trực nỗi đam mê Văn chương đeo đẳng ngay từ tuổi 14, khởi nguồn từ một buổi dạy làm thơ tại Trường Tư thục Chung Anh (Đô Lương) của thầy giáo Nguyễn Trung Lục nhân kỳ nghỉ hè với 4 câu thơ đầu đời

VÔ ĐỀ

“Đã lỡ ra đi,chẳng trở về

Không về nhớ tiếc cảnh đồng quê

Sông Lam bát ngát đầy thơ mộng

Trống rỗng lòng ta,nhớ não nề”…

1942

Kể cũng lạ! Đến nay tôi vẫn không hiểu động cơ nào khiến tôi viết những vần thơ đầu đời “sái” đến vậy lúc còn trong vòng tay Mẹ và Bà ,khi hai anh em chúng tôi năm nào chẳng “đáp tầu hỏa” từ Tp Vinh,xuống Ga Ngã ba Diễn châu rồi cuốc bộ 30 km về quê nghỉ 3 tháng hè! Ấy thế mà nghiệm.Năm 1946, cả 2 anh em tình nguyện nhập Vệ Quốc Đoàn –Trung đoàn Đội Cung và rồi biền biệt xa quê Đô Lương từ dạo đó. Và cuối năm ấy, tôi đã vĩnh viễn mất Anh tôi tại chiến trường Nam Trung bộ ,đúng vào sáng 30 Tết năm Bính Tuất.

Nghiệp thơ bắt nguồn từ buổi mở đầu năm 1942 tại trường Chung Anh.Tiếp đó năm 1945,những bài thơ đầu đời của Tố Hữu trong tập “Từ Ấy” như những ngọn lửa cách mạng soi sáng mọi tâm hồn,cuốn hút kỳ diệu bằng những áng thơ bốc cháy:

“ Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim…”

Tiếp đó là những bài ca cực kỳ rung cảm vụt đến đúng tuổi hoa niên trong sáng,lời và nhạc đẹp như mộng,ám ảnh mãi không thôi.Đó là hai bản nhạc bất hủ Thiên Thai và Trương Chi của Văn Cao.Chính những ca từ cao sang âm vang,ma mị,ảo huyền của cả 2 tuyệt phẩm ấy suốt bao năm tháng cứ xâm chiếm tâm hồn,tác động thường xuyên và ảnh hưởng sâu đậm nỗi đam mê thơ phú vốn ươm sẵn trong tôi từ lời ru trên võng toàn ca dao,ví dặm của Mẹ và một miền quê văn vật suốt thời thơ ấu.

Theo gió tiếng đàn xao xuyến Tiếng ca lưu luyến mấy cung u huyền … Âm ba cánh đào rung…nao nao chèo khua nước Ngọc Tuyền…ai hát trên bờ Đào nguyên…Thiên Thai,chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian

“Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ…

Ôi! tiếng cầm ca,thu đến bao giờ…Trương Chi cất tiếng khoan…hò khoan…Giai nhân cười …nép trăng sáng lả lơi…lả lơi bên trời....

Rồi cứ thế,nghiệp văn chương vẫn thường trực trong tôi,âm ỉ như ngọn lửa thiêng, duyên nợ.Vài tập thơ ra đời.Rồi những tuyển tập.Rồi đến đầu Thế kỷ XXI, duyên may đã đưa chúng tôi nhập vào một trào lưu mới-trong sáng,tân kỳ xuất phát từ mấy trăm năm trước tại Xứ sở Mặt Trời Mọc-“Haiku”…

“ Nghề Y như giấc mơ hồng

Nghiệp Thơ- năm thức mây lồng

…hợp tan”

Và lại vào mơ, giấc mơ thơ- suốt đời:

“ Mơ…

Lung linh haiku

trên xanh trời Lục-Bát “

“Rộng cánh chim bằng -

Thơ

bay vào Cõi Nhớ”**

** Kính tặng Đại Hội Haiku Thế Giới lần thứ 8-Tokyo-2015

***

Ngõ bằng lăng

Hà Nội, tiết Lập xuân 2017

Đinh Nhật Hạnh


Lan man về tính Hài của Haiku Nhật Bản

Vốn dĩ Haikai (Haiku) bài cú- Bài hài- manh tính hóm hỉnh, hài hước. Người Nhật cho rằng tính Hài là bản chất vốn có của Haiku. Xuất phát là câu mở đầu của renga (Liên ca) gồm 3 dòng. Hakai (Bài hài) từ một thể thơ cấp thấp để mua vui trong văn học Nhật Bản đã được Basho vĩ đại thế kỷ 17 tách ra tành 1 thể thơ riêng, phái sinh và nâng cấp nó thành 1 thể thơ độc lập, ngắn gọn xúc tích có tính văn học cao, gọi là Haikai sau Shiki gọi nó là Haiku từ đầu thời Minh Trị và bây giờ ta gọi là Haiku (Bài Cú).

alt

Từ sau tác phẩm “Tập Haiku hài hước” của Hai jin nhà văn, nhà biên kịch nổi tiếng Nhật Bản Satou Koroku viết năm 1901, hơn 100 năm sau Hiệp hội Haiku Hài hước Nhật Bản chính thức ra đời năm 2008, trụ sở Hội đóng ở số 1173-4 khu Takoda phường Tobe Quận Iyo tỉnh Ehime. Trong Qui chế của Hiệp Hội ghi rõ mục đích ra đời của Hiệp Hội là đưa Haiku trở lại mang tính Hài hước đã mất và để lại cho hậu thế Haiku hài hước chất lượng cao. Chủ tịch Hiệp Hội là Yagi Takashi vốn là phát thanh viên của Đài truyền hình NHK Nhật Bản, cố vấn là các nhân vật nổi danh ông Honami Hideo và ông Komatsu Masayuki.

Ở Nhật Bản có 1 luận văn của nhóm nghiên cứu trên Đại học về “tính Hài trong thơ Haiku” dày hơn 100 trang (113 trang) trong đó có trích dẫn nhiều câu Haiku hóm hỉnh với những cái cười tinh tế… Tập luận văn nghiên cứu này cũng đề cập đến ranh giới mong manh giữa cái cười dễ dài, thông tục, thấp cấp với cái cười hóm hỉnh sâu sắc, chất lượng…Haiku dễ mà khó là ở đó.

Trong cuốn “Sổ tay Basho” (Basho handbook) người ta nêu rằng Basho từng nói rằng “bài hài” nghĩa là yếu tố “hài”, cái buồn cười (okashimi) là rất cơ bản cho nên phải suy nghĩ và nắm chắc yếu tố này khi sáng tác Haikai (nay gọi là Haiku).

Ví dụ bloger thấy chất hài trong câu Haiku sau của Buson (Tiếc mùa thu)

戸を叩く狸と秋を惜しみけり   与謝蕪村(よさ・ぶそん
(とをたたく たぬきとあきをおしみけり)
Con Lửng Chó/ gõ cửa/ tiếc mùa thu (Yosa Buson)

Nghe nói câu này Buson là khi nghe câu chuyện 1 người đàn ông vợ mất ở 1 mình, đêm xuân ông nghe tiềng gõ cửa ra không thấy ai, sau lại nghe tiếng gõ cửa nghĩ rằng con Lửng Chó trêu người ông rình và bắt được qủa tang con Lửng Chó gõ cửa nhà ông… câu Haiku Buson muốn nói lên nỗi buồn của người già cô đơn.

Và trong phòng đêm ông cũng bật ra 1 câu tiếc mùa thu như sau:

都会の夜虫一つだに鳴きもせず

Đêm thành phố/không một tiếng /côn trùng

五月雨に鳰の浮巣を見にゆかん

(さみだれに におのうきすを みにゆかん)

Mưa tháng 5 /không thể đi xem t chim Lê Hôi/ nổi lên mặt nước

Nghe nói câu này Basho làm để báo trước cho Rosen một người bạn quí tộc thân thiết biết mình sẽ đi xa thay lời chào từ biệt. Chim Lê Hôi cũng biểu hiện cho hồ Biwa vì đây là nơi chim này hay tụ về đông đúc. Khi nói hồ Biwa người ta nghĩ ngay đến loài chim Kaibutsuri này.

Nio no Ukisu cũng là món chè bột sắn của công ty Choukyudo nổi tiếng, dùng trong lễ cưới của người Nhật, pha bột sắn và khuấy đều một lúc thì cặp chim Lê Hôi nổi lên biểu hiện tình cảm lứa đôi sâu nặng… Nghe nói loài chim Nio (còn gọi là Kaibutsuri- Chim Lê Hôi, một loại chim lặn) sống cả đời chung thủy một vợ một chồng, có lẽ do vậy mà người ta uống chè này để chúc phúc cho vợ chồng mới cưới!

(Việt Nam và Trung Quốc thì hay lấy cặp Uyên Ương- một cặp chim Vịt làm biểu tượng tình vợ chồng chung thủy).

Kể ra cũng hài vì thực ra chim Uyên Ương con đực có hành vi bảo vệ con cái khi ấp trứng nhưng không chung thủy như người ta nghĩ!

Xin trích dịch mấy câu haiku do Hiệp hội Haiku hài hước NB mới tuyển chọn năm 2017 để mọi người tham khảo, có thể cái hài của Nhật cũng khác người Việt Nam ta chăng?!

年の瀬に酒で膨らむ噂かな

Tháng cuối năm/ thùng tôno cũng nở phình / vì rượu

どの人を刺すか迷った蚊が我に

Hoang mang/ không biết đốt ai/ muỗi xông vào tôi

時の日やいつも確かな腹時計

Ngày giờ/đồng hồ bụng/luôn chính xác

骨休めする暇もなし梅雨の傘

Không được nghỉ ngơi/ xương ô (dù)/ tháng mưa dầm

Người Nhật gắn bó với thiên nhiên nước Nhật và từ chỉ mùa “kigo” là một cái gì không thể thiếu trong đời sống và ngôn ngữ nhật. Câu mào đầu của 1 bức thư người Nhật bao giờ cũng nói về khí hậu và đương nhiên đó là “lời chào theo mùa” của người Nhật. Và đó cũng là cái thi vị của thơ Haiku Nhật Bản.

Nhà bình luận Yamamoto Kenichi (1907-1988) năm 1946 khi định nghĩa Haiku ông nói: Haiku có 3 yếu tố chính là chào hỏi, hài hước và tức thời.

Theo bà Udaki Koyo nguyên chủ tịch Hiệp hội Haiku hiện đại Nhật Bản cho rằng người nước ngoài muốn hiểu được tinh thần của thơ Haiku Basho khó khăn hơn và họ luôn thấy dễ đồng cảm với Haiku của Kobayashi Issa hơn vì nó có tính Hài hước và hỷ nộ ái ố gần gũi với con người khắp nơi trên Thế giới.

Hội Haiku hài hước và “Văn đàn Haiku” Nhật Bản cho biết đã xuất bản cuốn “tập Haiku hài hước” bao gồm 3213 câu Haiku trong các số ra từ tháng 7 năm 2002 đến tháng 3 năm 2015. Bản đầu có 308 mục, giá 3000 Yên (khoảng 60.000 đ Việt Nam) và tái bản cuốn “nghệ thuật Senryu của Yagi Takashi” (Ông chủ tịch) đăng khoảng 1000 bức tranh hài kèm Senryu của ông Yagi Takashi được giải thưởng trong 10 năm, giá 2500 Yên (khoảng 50.000 đ Việt Nam) vì muốn lấy lại tính trào phúng và tính thời sự của Senryu.

Lê Thị Bình

Sưu tầm và dịch

Hội nghị tập huấn qui định của pháp luật về trang thông tin điện tử

Ngày 10/11/2017 tại Sở Thông tin Truyền thông, số 62 Võ Thị Sáu, TP Hải Phòng; đã diễn ra hội nghị tập huấn qui định của pháp luật về trang thông tin điện tử; Diễn giả là ông Lê Quang Tự Do- Phó Cục trưởng Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin Điện tử.

alt

Hiện nay, hệ thống Cổng Thông tin điện tử của thành phố bao gồm 1 cổng chính và 33 cổng thành viên; 27 trang thông tin điện tử tổng hợp được cấp phép. Với các trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, của Hiệp hội chỉ đăng tải những thông tin nội bộ thì không phải xin cấp phép, tuy nhiên không được đăng lại những nội dung của các trang báo điện tử khi không được cho phép chính thức bằng văn bản. Ngoài ra các trang thông tin điện tử cá nhân, blogs, Fb… cũng hoạt động như một nhu cầu trong thông tin, truyền thông và giao tiếp.

alt

Bên cạnh những tích cực, hoạt động trang thông tin điện tử còn bộc lộ nhiều tồn tại hạn chế. Hội nghị tập huấn đã chỉ rõ những khiếm khuyết trong việc tổ chức hoạt động các trang thông tin điện tử, vấn đề hậu kiểm trong hoạt động các trang TTĐT. Các chế tài nghiêm khắc của nhà nước với các hoạt động vi phạm luật pháp của các trang TTĐT, Web, Blogs, Fb… Cuộc cách mạng 4.0 đã cận kề, một lần nữa việc quản lý các trang TTĐT, Web, Blogs, Fb… thực sự rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

Minh Trí

Hoạt động của CLB Haiku Việt TP Hồ Chí Minh trong chương trình giao lưu văn hóa và thương mại Việt Nam- Nhật Bản thành phố Cần thơ lần thứ 3

Đáp ứng lời mời của Ban Tổ chức Chương trình Giao lưu Văn hoá và Thương mại Việt Nam - Nhật Bản Thành phố Cần Thơ lần 3 từ tối ngày 3 đến 5/11/2017, CLB Haiku Việt TP.HCM cùng với các Chi hội Yosakoi, CLB Cựu Du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản - JUACH, Chi hội Couppi, Chi hội Trà đạo Sài Gòn, Chi hội Võ thuật Katori Shintoryu thuộc Hội Hữu nghị Việt - Nhật TP.HCM dưới sự hướng dẫn của Ông Nguyễn Công Tánh - Chủ tịch Hội, đã đến Công viên Lưu Hữu Phước, Thành phố Cần Thơ .

alt

Đến TP. Cần Thơ vào chiều ngày 3-11-2017, CLB Haiku Việt cùng các Chi hội khác đã tranh thủ trang hoàng gian triển lãm của Chi hội mình và tham dự Lễ Khai mạc Chương trình Giao lưu từ 17 h 30 .

Trong chương trình hoạt động, ở hai gian hàng triển lãm của mình, CLB Haiku đã thực hiện việc trưng bày các ấn phẩm là thành tưu của CLB trong 10 năm thành lập (2007-2017) và các bức thư pháp thơ Haiku của CLB Thư pháp Hoa Chữ Việt. Bên cạnh đó, CLB cũng đón tiếp, giao lưu với các khách thơ và viết thư pháp thơ Haiku theo yêu cầu của những người yêu thích trong hai ngày 4 và 5 tháng 11.

Sáng ngày 4-11-2017, tại gian Thơ Haiku Việt, ThS. Đặng Kim Thanh - Phó Chủ nhiệm CLB - đã giới thiệu CLB Thơ Haiku Việt TP.HCM và 2 ấn phẩm mới nhất của CLB: Tập thơ Hoa bốn mùa của Chủ nhiệm CLB Haiku Việt TP.HCM Lưu Đức Trung, NXB Thanh Niên, 2017 Tuyển tập thơ Haiku Việt (Tập 4) của nhiều tác giả, NXB Hội Nhà văn, 2017 với các khách mời là sinh viên lớp Cao học ĐHSP TP.HCM đặt tại Cần Thơ. Sau đó, ThS. Xuân Hảo đã bình bài thơ “Trên ấy có giao thừa không mẹ? / nhang tàn, nến tắt / cánh bướm chập chờn bay” của NSND – ĐD - Nhà thơ Haiku Đào Bá Sơn. Sau đó, TS. Hoàng Kim Oanh cũng trình bày cảm nhận về Thơ Haiku Việt và hai sinh viên cũng nêu cảm xúc về thơ Haiku.

Điểm nhấn trong hoạt động của CLB lần này là vào chiều tối cùng ngày, tại sân khấu của công viên Lưu Hữu Phước, các thành viên CLB Haiku đã có buổi giới thiệu về CLB Thơ Haiku Việt TP.HCM và thư pháp trước đông đảo khán giả Cần Thơ. Mở đầu, ThS. Đặng Kim Thanh, PCN. CLB, đã giới thiệu “Hoạt động CLB Haiku Việt TP.HCM – Hành trình 10 năm đi tìm bản sắc”. Kế tiếp, TS. Nguyễn Vũ Quỳnh Như đã trình bày về “Thơ Haiku Việt du ngoạn xứ sở Hoa Anh Đào”. Sau đó, hai Nhà thư pháp Dương Minh Hoàng và Lưu Thanh Hải đã song song trình diễn thư pháp hai bài thơ Haiku: “Tiếng ve/ cành tre kẽo kẹt/ vọng tiếng mẹ ru” của Lưu Đức Trung và bài “Tôi vỗ bàn tay/ dưới trăng mùa hạ/ tiếng dội về ban mai” của Matsuo Basho trong tiếng đàn tranh dìu dặt của Nghệ sĩ Ngọc Linh. Cuối cùng, ThS. Đinh Xuân Hảo đã bình bài thơ “Tiếng ve/ cành tre kẽo kẹt/ vọng tiếng mẹ ru” để giúp công chúng Cần Thơ cảm thụ sâu sắc hơn tính hàm súc, gợi suy tư, gợi cảm xúc của một bài thơ tiêu biểu do người sáng lập thể thơ Haiku Việt – GS. Lưu Đức Trung - sáng tác. Cuộc Giới thiệu thơ Haiku Việt này đã giúp cho gian triển lãm của CLB Haiku Việt TP. HCM được nhiều người quan tâm hơn.

alt

Sáng ngày 5-11, CLB cũng hân hạnh đón tiếp, giao lưu với 2 nhà văn Ngọc Thuý và Quốc Nam (Chi hội Nhà văn VN tỉnh Cần Thơ) và rất nhiều khách tham quan là học sinh, sinh viên, giáo viên, thi hữu và những người yêu thích thơ Haiku.

Cuối ngày 5/11/2017, CLB Thơ Haiku Việt TP.HCM đã hoàn thành nhiệm vụ, cùng với đại diện các Chi hội Yosakoi, CLB Cưu Du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản - JUACH, Chi hội Couppi, Chi hội Trà đạo Sài Gòn, Chi hội Võ thuật Katori Shintoryu thuộc Hội Hữu nghị Việt Nhật TP.HCM dưới sự hướng dẫn của Ông Nguyễn Công Tánh - Chủ tịch Hội đã chào tạm biệt Thành phố Cần Thơ thân thiện, hiếu khách trở về TP.HCM trong tâm trạng luyến lưu từ hai phía, hứa hẹn cuộc giao lưu, hợp tác cho năm sau.

Đinh Xuân Hảo

Trò chuyên với các em nhỏ qua những bài thơ haiku Việt- Khúc đồng dao

Với tôi, sáng tác Haiku Việt cho trẻ em là một niềm vui, tôi như được trở lại với những ngày thơ ấu của mình, trong vòng tay cha mẹ thuở xa xưa, với thiên nhiên bao la, muôn mầu của những vùng quê Bắc bộ, nơi tôi đã trải qua trong một giai đoạn khá dài của tuổi thơ mình. Những bài thơ Haiku Việt tôi sáng tác cho các em nhỏ nhắm tới mục tiêu kéo các em khỏi những căn phòng kín với màn hình TV, với những trò chơi , đồ chơi mang tính kỹ thuật khô cứng, thậm trí khỏi những trang sách học nặng nề. Để các em hòa mình vào thiên nhiên bốn mùa cỏ cây hoa lá, với gió mây, sông nước, với những loài côn trùng nhỏ bé, dễ thương và kỳ diệu. Cũng nhằm truyền cho các em tình yêu ngôn ngữ mẹ đẻ nhiều thanh âm, vần điệu cũng như tình yêu với thi ca…

alt

Dưới đây xin giới thiệu 8 bài trong tác phẩm Khúc Đồng Dao XB Kim Đồng phát hành vào mùa hè 2017.

Bầu trời trong xanh

bầy chim én liệng

cầu chúc an lành

Các cháu ơi ! Mùa xuân, bầu trời thường xanh dịu dàng, điểm thô vào đó là những bầy chim én bay liệng dập dìu như thoi đưa.

Chim én chỉ to hơn chim sẻ chút ít, màu lông xanh đen, đuôi và cánh khá dài nên én bay nhanh và khỏe lắm nhé ! Mùa xuân, én từ phương bắc bay về phương nam, tới và sinh sống ở nước. Khi trời chuyển nóng nực chúng lại rủ nhau trở về phương bắc. Én là loài chim có ích. Chúng ăn các loại côn trùng có hại, bảo vệ cây cối, mùa màng …. Chúng mình hãy yêu và bảo vệ chim én như yêu bầu trời xuân trong xanh và yên bình các cháu nhé !

Vườn ai bưởi nở

đêm xuân xóm nhỏ

ánh trăng cũng thơm

Các cháu biết không ? Cây bưởi nở hoa vào mùa xuân đấy, vào khỏang đầu tháng 2 âm lịch. Hoa bưởi trắng muốt có nhụy vàng tươi và rất thơm. Đặc biệt càng về đêm hương bưởi càng ngát . Ở cái xóm nhỏ trong bài thơ này, chẳng biết vườn nhà ai trồng bưởi nhỉ , nhưng hương thơm trong đêm xuân chia đều cho tất cả, cho mọi người, cho mọi nhà, cho mọi vật….Và các cháu ơi ! Tới cả ánh trăng kia cũng thơm lây đấy. Thích không nào!

Em bé lưng trâu

hát khúc đồng dao

cánh diều no gió

Khúc đồng dao là những câu hát dân gian của đồng quê, dành cho các trẻ nhỏ, tươi vui và ngộ nghĩnh lắm nhé .Ví dụ như bài : Chi chi chành chành, cái đanh thổi lửa….

Hình ảnh em bé ngồi vắt vẻo lưng trâu, hát đồng dao và thả con diều sáo vút bay lên bầu trời làng quê đã gắn bó với người Việt chúng ta hàng ngàn năm rồi, vì dân ta theo nghề nông, trồng lúa nước, cần con trâu để cầy bừa đồng ruộng. Ngày nay tuy đất nước phát triển, nhiều làng quê thành đô thị, trên đồng ruộng nhiều máy cày, máy bừa…, nhưng hình ảnh đồng lúa, con trâu và cánh diều lộng gió vẫn còn mãi trong tâm trí tất cả người dân nước Việt mình đó các em ơi !

Mặt trời mùa hè

khoe màu lóng lánh

trên cánh lũ ve

Mùa hè, ông mặt trời chói chang, rãi ánh nắng xuống mặt đất. Lũ ve sầu đậu trên các cành cây cao, để cho những cặp cánh mỏng như lụa của chúng hong nắng, lóng lánh giữa nắng ban trưa .

Vào hè, lũ ve sầu từ dưới đất chui lên. Khi mới lên mặt đất, ve sầu chưa có cánh và rất yếu , có tên là ấu trùng …Ấu trùng bò lên thân cây và lột xác thành ve sầu, kêu ra rả…suốt mùa hè. Thời kỳ này lũ ve sầu cưới nhau và các gia đình nhà ve đẻ trứng trong vỏ cây. Trứng ve nở thành ấu trùng rơi xuống và chui tọt vào đất. Ấu trùng ở trong đất suốt….15 năm mới chịu chui lên đấy nhé ! Chúng lột xác thành ve sầu đấy. Ngạc nhiên chưa ! ?...

Heo may mùa thu

tiếng mẹ hát ru

nghe thơm hương thị

Các em ơi ! Thiên nhiên có bốn mùa xuân hạ thu đông. Mỗi mùa có một thứ gió riêng của mình. Gió mùa xuân còn gọi là đông phong, vừa mát vừa ấm và rất ẩm ướt giúp hoa đào mùa xuân khoe sắc. Mùa hè có gió nồm nam, thổi từ phương nam tới, ẩm và nóng, thường mang theo mưa. Mùa thu nắng vàng có gió heo may. Mùa đông có gió bấc mưa phùn buốt giá.

Gió heo may trong và nhẹ lắm, se se lạnh, làm lan tỏa rất xa tiếng hát ru êm đềm của mẹ cùng với hương thơm của các loài quả chin.

Giọt nắng lóng lánh

đậu cánh chuồn chuồn

bay trốn cơn mưa

Các em biết không, vào mùa thu, thỉnh thoáng có những ngày trời mưa bóng mây. Trời vừa nắng vừa mưa và bầu trời vẫn xanh trong, lơ lửng vài đám mây trắng nõn. Con chuồn chuồn ngô vẫn nhởn nhơ bay liệng. Mưa một thoáng rồi ngưng, rồi một lát sau lại thấy mưa rơi lộp bộp. Nhưng nắng vẫn vàng, mây vẫn bay và chuồn chuồn vẫn nhởn nhơ chao liệng với vài đốm nắng long lánh đậu trên đôi cánh mỏng như lụa của chúng…

Cháu thăm vườn bà

gặp cây khế già

cho cháu quả ngọt

Bài thơ nhỏ này kể chuyện cháu vào thăm mảnh vườn của bà, thấy cây khế đã già rồi nhưng vẫn cho quả chín ngọt, cháu ăn ngon quá là ngon ! Cháu có biết không ? Cây khế này bà trồng từ khi bà còn trẻ đấy. Ngày tháng trôi qua, bà và cây cùng già cả rồi. Tuy có tuổi bà vẫn hay lam làm, vẫn hàng ngày trông nom cửa nhà và chăm bón cây cối trong vườn. Cũng giống như bà, tuy đã già nhưng cây khế nọ vẫn xanh tốt, tới mùa vẫn cho những chùm hoa tím và đậu những trái khế chin mọng ngọt ngào. Và cháu nào của bà cũng thích ăn khế chín.

Mặt trời mùa đông

con tắc kè bông

đổi màu rỡn nắng

Các em nhìn kìa, trong hốc đá dưới gốc cây trong vườn có một đôi tắc kè bông ( còn gọi là tắc kè hoa ). Tắc kè là loài bò sát, có hình dạng giống con thạch sùng , nhưng to hơn. Mùa đông, ngày không nắng, tắc kè nằm trong tổ ngủ vùi, nhịn ăn luôn. Nắng lên nó rời tổ ra ngoài trời sưởi ấm và kiếm ăn. Tắc kè có thể đổi màu thân mình cho gần giống với màu của mọi vật xung quanh, khi thì mầu xanh, lúc màu vàng , rồi nâu, rồi xám….Bởi vậy có tên là tắc kè bông đó. Tắc kè làm vậy để dễ ẩn mình, lẩn tránh những con vật khác muốn bắt ăn thịt nó đấy. Thiên nhiêu đã cho loài vật nhỏ bé và yếu sức này khả năng tự vệ thật tuyệt vời , có phải không các em !

Vũ Tam Huề

CLB Haiku Việt TP Hồ Chí Minh chuẩn bị tham gia triển lãm tại Cần Thơ

Sáng ngày 29/10/2017, tại Cà phê Dấu Xưa, các thành viên Câu lạc bộ Haiku Việt TP.HCM đã có phiên họp chuẩn bị về nhân sự, nội dung chương trình cho cuộc triển lãm của CLB Haiku trong Chương trình Giao lưu Văn hóa và Thương mại Việt Nam- Nhật Bản lần thứ III năm 2017 sẽ diễn ra từ ngày 3 đến 5/11 tại công viên Lưu Hữu Phước, TP Cần Thơ.

alt
Chương trình Giao lưu Văn hóa và Thương mại Việt Nam- Nhật Bản năm 2015- Ảnh minh họa

Trong thời gian diễn ra Chương trình Giao lưu Văn hóa và Thương mại Việt Nam- Nhật Bản lần thứ III- năm 2017 tại Cần Thơ sẽ có 120 gian hàng tham gia.

Riêng tại gian nhà Trung tâm trưng bày các sản phẩm công nghệ cao, các thiết bị kỹ thuật cao của Nhật Bản như: Robot tự động hóa, sản phẩm công nghệ thông minh, các sản phẩm truyền thống đậm nét văn hóa của hai nước.

Bên cạnh đó, Lễ hội Việt- Nhật còn có nhiều hoạt động: gian hàng giới thiệu công nghệ Nhật Bản, ca sĩ Nhật Bản trình diễn, triển lãm thơ Haiku, chiếu phim điện ảnh Nhật…

Quỳnh Như

Mấy khúc Haiku về chiếc điện thoại thông minh- Lê Văn Truyền

alt

1

Xe đâm lăn ra đường

cô gái cố ngóc đầu selfie

trước khi nhắm mắt

2

Cắm mặt vào smart-phone

cậu trai vập đầu vào cột điện

nhăn nhở cười selfie

3

Trên xe buýt

đám đông cô đơn

dán mắt vào màn hình điện thoại

4

Ôm chiếc smart phone

truy lùng Pokemon

không chơi với người, chơi với thú ảo

5

Bọn trẻ lục lọi ngôi nhà

reo hò bắt Pokemon

ông im lặng bên cửa sổ

Smart phone là một trong những sản phẩm công nghệ cao được nhân loại cuồng nhiệt chào đón trong thập niên đầu của thế kỷ XXI. Với những tính năng “vô tiền khoáng hậu”, smart phone đã đưa con người đến một thế giới kỳ ảo vô cùng thú vị mà trước đó chưa có một sản phẩm công nghệ nào có khả năng tạo ra. Hàng ngàn năm, ông cha ta đã khổ sở, trăn trở vì nỗi niềm “văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình” thì nay với công nghệ của smartphone ta vừa được nghe thấy tiếng vừa được trông thấy mặt. Nguyện vọng ấp ủ ngàn đời của loài người là có được đôi mắt “thiên lý nhãn” thì một thời gian ngắn nữa thôi smartphone sẽ giúp chúng ta ở trên mặt đất có thể nói chuyện và chiêm ngưỡng khuôn mặt của người đứng trên mặt trăng …

Từ thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, smart phone đã có mặt khắp nơi, từ những siêu đô thị (mega city) cho đến chốn hang cùng ngõ hẽm phủ sóng internet và lan truyền rất nhanh còn hơn tốc độ lan truyền của bệnh dịch hạch thời Trung Cổ.  Smart phone có mặt từ những thánh đường trang nghiêm của Đạo Hồi cho đến những lễ quốc tang u buồn, từ những sự kiện chính trị quốc tế quan trọng của các nguyên thủ quốc gia, mà mỗi cái bắt tay liên quan đến số phận của nhiều dân tộc, đến sự chết chóc của triệu triệu con người, cho đến từng khoảnh khắc riêng tư, say đắm của những đôi tình nhân trên giường ngủ. Smart phone đã tạo ra những cuộc gặp mặt, những bữa ăn tối, những cuộc hẹn hò … mà không ai nói chuyện với ai. Smart phone đã biến cả một xe bus, một chuyến tầu điện, một toa tầu hỏa, một chuyến máy bay, một phòng chờ ở phi trường… thành một chốn đông người im lặng và không ai thiết nhìn mặt ai. Tất cả đều cắm mặt vào màn hình tinh thể lỏng. Hàng ngàn người quay lưng lại trước những chính trị gia, những nhà lãnh đạo quốc gia tầm cỡ thế giới để “selfie”. Và ở nước ta mới đây, người ta đã vui vẻ “selfie” với các nghệ sỹ nổi tiếng khi viếng đám tang của một nghệ sỹ khác, cũng không kém nổi tiếng. Người ta sướng vui và đau khổ, bất hạnh và hạnh phúc … với smart phone. Người ta sẵn sàng ra tay hạ độc người thân trong gia đình vì không xin được tiền để “lên đời” chiếc smart phone. Người ta sẵn sàng trở thành tên giết người cướp của để thay chiếc “điện thoại cục gạch” của mình bằng một chiếc smart phone đời mới. Người ta quên “cuộc sống thực” tầm thường, nhạt nhẽo, khổ sở, tủi nhục, hèn hạ … hàng ngày để sống cuộc “sống ảo” với smart phone. Trong “thời đại smart phone” mọi chuẩn giá trị của con người gần như đã thay đổi. Đẳng cấp một cá nhân được khẳng định qua “đẳng cấp” của smat phone mà người đó sở hữu. Vì vậy, người ta gắn thêm “giá trị gia tăng” cho smart phone bằng kim cương đen, kim cương hồng, bằng vàng ròng và đá quý…

Cuộc sống hiện đại bận rộn làm cho chúng ta ít khi dành chút thời gian để tự đặt câu hỏi: Liệu smart phone có làm con người thông minh (smart) hơn như cái tên hoành tráng mà những công ty công nghệ khai sinh ra smart phone đã gán cho chúng để huyễn hoặc người dùng và thu về những khoản lợi nhuận khổng lồ? Hơn nửa thế kỷ trước, nhà bác học Einstein đã từng cảnh báo: “Tôi sợ cái ngày mà công nghệ sẽ lấn át sự giao tiếp giữa con người với con người. Thế giới lúc đó sẽ có một thế hệ hoàn toàn đần độn”. Tôi không cho rằng dự đoán bi quan của Einstein đã thành hiện thực nhưng chắc chắn trước cái ngày mà công nghệ hiện đại cho ra đời các “thế hệ đần độn” như Einstein tiên đoán, trên thực tế, chắc chắn smart phone đang từng giờ từng phút góp phần quyết định tạo ra những “thế hệ cúi đầu, cắm mặt” trên màn hình smart phone để quên đi cuộc sống thật, những “thế hệ quay lưng” để “selfie” khuôn mặt của mình trong những thời khắc bi thảm của nhân loại và những “thế hệ vô cảm”  trước nỗi đau của đồng loại trên toàn thế giới, bất kể ở quốc gia giầu hay nghèo, phát triển hay kém phát triển, từ Đông sang Tây, từ Bắc chí Nam, khi chủ nhân những chiếc smart phone vui vẻ, cười đùa “selfie” trong đám tang, lạnh lùng quay “video clip” nạn nhân một vụ tai nạn giao thông, một vụ tự tử để cố “post” lên mạng xã hội sớm nhất nhằm “câu like” mà chẳng mảy may quan tâm đến số phận của con người …

Đến đây, tự dưng tôi thầm ngưỡng mộ “mắt xanh” của Ban Tổ Chức cuộc thi Haiku lần thứ nhất của WHA năm 2015 khi đã quyết định trao tặng giải nhất cho khúc haiku sau đây của tác giả Kei Kinjo (Nhật Bản):


White fingertip

killing a man

a smartphone


Đầu ngón tay trắng muốt

đang giết chết một người

từ chiếc smartphone

Đinh Nhật Hạnh dịch

Lê Văn Truyền

Thư họa và thơ Haiku Lê Vũ

alt

LÊ VŨ

Nghệ sỹ- Nhà thư họa

Hội viên CLB Haiku Nha Trang

Hội viên CLB Haiku Việt

Ủy viên BBT HKV


HAIKU


1- Trầm nghiêng

phủi bụi

phù hoa


2- Thời gian

miễn phí

mà vô giá


3- Còn ước mơ

con người

không già

alt

4- Áp- xa- ra khắc đá

uyển chuyển

lòng người mềm say


5- Sóng mơn man

tòa thiên nhiên

lửa hồng


6- Nhả tâm huyết

tặng đời

yến bay


7- Đời

đúng sai không biết

luận người đúng sai

alt

8- Suối ngọc

thắm đời con

héo hon vú mẹ


9- Dáng mộng

em về

tỉnh giấc đêm đông


10- Đời người bóng nhạn

lướt sóng

mạn thuyền.

LV


Tranh thơ Haiku Thiện Niệm

alt

Bút danh THIENIEM

Doãn Thiện Niệm

ĐT: 01689262809

ngày sinh 05/02/1942 tại Hưng Yên

dạy học, buôn bán-

thường trú 54 Trần Mai Ninh, p12, quận Tân Bình, TP HCM

Tập viết TP từ 1999, học làm thơ haiku 2014.

Xin đc đính kèm tranh thơ của các hội viên và của bản thân:

alt

Đầu năm câu cá - mây thả trắng mặt hồ - xuân ( thieniem )

alt

Phao lặng lẽ - nước nằm nghe - trăng chiếu bờ kè ( thieniem )

(Chỉ có trăng biết đọc bảng cấm câu cá 2 bờ kênh Nhiêu Lộc)

alt

Gió lay bóng lá - tiếng vĩ cầm - lan toả thềm trăng ( Vũ Tam Huề )

alt

Ngày em đi - nâng ly - uống sóng ( Lý Viễn Giao )

alt

Tháng bảy ngày rằm - mâm cháo lá đa - vất vưởng ta bà ( thieniem )

alt

Tóc mẹ còn đây - tan trong lệ nóng - sương mùa thu bay (Nhật Chiêu dich thơ Basho)

Thieniem thủ bút


Triển lãm mỹ thuật về đề tài “Trăng” của họa sĩ Phan Vũ Khánh

Sáng ngày 26/8/2017 tại hội trường Hội Hữu nghị Việt Nhật thành phố Hà Nội đã diễn ra triển lãm mỹ thuật về đề tài “Trăng” của họa sĩ Phan Vũ Khánh.

alt

Tham dự có ông Nguyễn Hoàng Hải- Phó Chủ tịch Hội HN Việt Nhật TP Hà Nội cùng đông đảo các văn nghệ sĩ, bạn bè, gia đình họa sĩ Phan Vũ Khánh. Họa sĩ Phan Vũ Khánh hiện là hội viên HKV, Họa sĩ UNESCO, Ủy viên BBT Nội san HKV, anh thường xuyên có tranh minh họa trên báo Người Hà Nội. Với đề tài “Trăng”, họa sĩ Phan Vũ Khánh đã trưng bày hơn 30 tác phẩm mỹ thuật ở các chất liệu: Sơn dầu, bột màu, thuốc nước, mực nho, giấy gió, thư pháp,…

Đặc biệt ở thể loại tranh thư pháp, họa sĩ Phan Vũ Khánh đã khéo léo lồng ghép thơ haiku của các tác giả: Đinh Nhật Hạnh, Nguyễn Thánh Ngã, Cao Ngọc Thắng, Trần Trung, Minh Trí, Đinh Trần Phương, Nguyễn Thị Kim,… Tạo lên những hình ảnh ấn tượng, độc đáo, bất ngờ cho người thưởng thức. Dự kiến vào tháng 12/2017, họa sĩ Phan Vũ Khánh sẽ triển lãm những tác phẩm mỹ thuật về đề tài “Sen” tại thành phố Hải Phòng.

MT

Hội thơ Haiku Onisuga Nhật Bản

Chiều ngày 5.8.2017, Quỳnh Như đến dự Hội thơ của Hội thơ Haiku Onisuga tại Tp Itami tỉnh Hyogo (gần Osaka). Từ nhà ở Kyoto đến Hyogo cũng hơn 1 tiếng đồng hồ đi xe điện tốc hành. Cũng nhờ hệ thống phương tiện giao thông công cộng thuận tiện, nên mới có điều kiện tham dự các chương trình ở nhiều nơi ở xa như thế.
Đến dự có hơn 60 nhà thơ của các Hội thơ haiku cũng với hình thức sáng tác và bình chọn. Thành viên tham dự đa số là những bậc tiền bối, lớn tuổi có kinh nghiệm về thơ haiku.

alt

Quỳnh Như cũng tham dự 1 bài, nhưng bài hôm nay phạm quy về Quý ngữ. Vậy mới thấy thơ haiku có vẻ dễ làm, nhưng tất cả đều có luật nhất là luật về Quý ngữ. Dù đã học và hiểu luật nhưng để không vi phạm luật phải luôn trau dồi kiến thức phong phú về Quý ngữ. Thêm một kinh nghiệm quý về hiểu hiết thơ haiku. Nghĩa là vẫn phải tiếp tục trau dồi học hỏi hơn nữa về thơ haiku. May quá, hôm qua đã nhận được 1 thùng sách về thơ haiku do Hội nghiên cứu Sử thơ haiku gửi tặng để tham khảo. Hôm nay, Hội hứa sẽ gửi tặng tiếp 1 bộ sách về Quý ngữ để học hỏi. Thế mới thấy, thơ haiku là cứ phải học hoài, học mãi...Thơ haiku tuy ngắn thế, nhỏ bé thế, mà sao lại khó thế!

Tại Hội thơ này, đã hân hạnh được gặp vị Chủ tịch Hiệp hội thơ haiku truyền thống của Nhật đến từ Tokyo, tái gặp Chủ tịch Hiệp hội thơ haiku hiện đại, gặp Chủ tịch Hiệp hội nhà thơ haiku. Ở Nhật có nhiều Hiệp hội thơ haiku, Quỳnh Như đã hân hạnh được gặp và trò chuyện với nhiều vị Chủ tịch của các Hiệp hội thơ haiku này.

Quỳnh Như đã trao tặng các bài viết cùa mình bằng tiếng Nhật về thơ haiku Việt trong đó có Tập sách gần 50 trang viết về sự ra đời và thịnh hành thơ haiku Việt, về sự ra đời của các CLB thơ haiku Việt, sự khác biệt giữa thơ haiku Việt và thơ haiku Nhật. Trong tập sách đã giới thiệu các bài thơ haiku đã từng được giải qua 5 lần thi thơ haiku tại Việt Nam. Hy vọng kết quả cuộc thi thơ haiku Việt - Nhật lần 6 sắp tới nếu có điều kiện sẽ tiếp tục được giới thiệu cho Nhật.

Sắp tới sẽ còn có các hoạt động khác về thơ haiku diễn ra tại Nhật, nếu có thời gian sẽ tiếp tục tham gia.

À, tháng trước có gặp một vị GS Trường Đại học Osaka, vị này đã đọc các bài viết bằng tiếng Nhật của Quỳnh Như về thơ haiku Việt trên báo chí Nhật. Vị GS này cho biết đã đưa các bài viết của Quỳnh Như làm giáo trình trong giờ giảng về Việt Nam, về thơ ca cho sinh viên Nhật. Còn gì hân hạnh hơn!

TS. Nguyễn Vũ Quỳnh Như

(Nghiên cứu thơ haiku tại Nhật)

Sinh hoạt thơ Haiku tại Kobe Nhật Bản

Chiều 22/7/2017, Quỳnh Như đã tham gia sinh hoạt sáng tác- bình chọn- đánh giá thơ haiku với nhóm "Shin-Haiku" - Nhóm Thơ haiku Hiện đại, được tổ chức tại thành phố cảng Kobe, Nhật Bản. Đến sinh hoạt nhóm, thành viên đa số là các nhà thơ haiku thuộc Hội thơ haiku hiện đại, 1 người thuộc Hội Haiku theo Luật tự do, có người đã từng được giải Nhà thơ haiku mới thơ haiku hiên đại. Tuổi trung bình của thành viên là từ 40 - 60 tuổi.

alt

Tại Nhật Bản hiện đang có rất nhiều nhóm thơ haiku như thế này sinh hoạt hàng tuần, hàng tháng, tại khắp các địa phương Nhật Bản. Số lượng nhóm này được thúc đẩy ngày càng tăng nhằm dần nuôi dưỡng thế hệ trẻ, mang lại nhiều điểm tươi mới song song với lưu truyền tính truyền thống của thơ haiku và quan trọng hơn là chuẩn bị, đào tạo, bồi dưỡng lực lượng thế hệ trẻ nhằm tiếp nối các nhóm - hội thơ thế hệ đi trước đang bước vào giai đoạn "lão thành". Nhờ vậy, thơ haiku tại Nhật luôn được phát triển bền vững từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cho đến nay, Quỳnh Như đã tham gia sinh hoạt khá nhiều Hội thơ khác nhau về độ tuổi, về địa phương với nhiều tính chất khác nhau tại Nhật.

Mỗi người đến dự đem theo 5 bài thơ bằng tiếng Nhật. Điểm mới nhất của sinh hoạt Hội thơ lần này là sáng tác theo một chủ đề cho sẵn (không phải theo 1 quý ngữ). Sinh hoạt của các Hội thơ haiku tại Nhật là không biết người sáng tác là ai, nên hình thức tuyển chọn rất "dân chủ" - đây cũng là một hình thức Hội thơ haiku tại Nhật đã được ra đời từ thời nhà thơ Basho, nên tính truyền thống này vẫn được lưu giữ đến ngày nay. Với cách thức này, dù người đã từng là nhà thơ haiku nổi tiếng nhưng không có nghĩa là bài thơ của người đó sẽ được bình chọn hay khen hay.

Dù sáng tác thơ bằng tiếng Nhật rất khó, nhưng Quỳnh Như đã cố gắng tham dự 5 bài và tham gia bình chọn 50 bài thơ cùng mọi người. Kết quả, Quỳnh Như có 4 bài nằm trong danh sách 37/50 được thành viên Hội bình chọn.

Sau hơn 3 tiếng đồng hồ bình chọn, nhóm đã có buổi trao đổi về tình hình thơ haiku tại Nhật, tại thế giới, và Quỳnh Như nói về tình hình thơ haiku tại Việt Nam (Tiếng nói thơ haiku Việt đang ngày càng lan rộng tại Nhật với nhiều đối tượng khác nhau). Buổi nói chuyện rất sôi nổi kéo dài đến gần 10 giờ khuya, về đến nhà ở Kyoto gần 12 giờ khuya. Một ngày làm việc thật mệt, nhưng học hỏi được rất nhiều.

Quỳnh Như đã nhận được nhiều ý kiến về thơ haiku Việt Nam, về một số bài thơ haiku VN, về cuộc thi haiku đang diễn ra tại Việt Nam nhất là về cách thức bình chọn bài để trao giải.

Nguyễn Vũ Quỳnh Như

Thăm Am Basho- Thơ Minh Trí

alt

Minh Trí

THĂM AM BASHO


Lướt qua những con đường tráng lệ Tokyo

Tôi tìm về bên sông Sumida vắng lặng

Thăm Am Basho

Cùng bài thơ Haiku ẩn hiện chiều nắng

Đây cây chuối ngoài Ba Tiêu Am

Đây Hoa Triêu Nhan nở bên hàng dậu

Và tiếng ếch thở than

Ao xưa còn đó

Người đã đi xa

Từ Tokyo về Osaka

Vĩnh viễn không trở lại

Mộng lang bang trên những cánh đồng

Rót một âu nước mời ông

Rót một âu nước mời mình

Gió sông Sumida váng vất

Bài từ thế để lại sâu thẳm hồn Haiku.


Tokyo ngày 20/5/2017

MT

...

Địa chỉ nhà tưởng niệm và am Basho ở Tokyo Nhật Bản: 1 Chome 6-3 Tokiwa-Kotoku- Tokyo 135-0006 (cạnh sông Sumida, gần cầu shinobashi 新大橋). Fone: 03- 3631-1448; 135-000東京都 江東区、常盤1-6-3; 隅田川 と新大橋 に 近いところ。

Lễ hội Hoa Phượng Đỏ lần thứ 6- Hải Phòng 2017

Tối 13/5/2017 tại quảng trường Nhà hát lớn thành phố Hải Phòng, diễn ra Lễ hội Hoa phượng đỏ lần thứ 6 - Hải Phòng 2017 với chủ đề “Hải Phòng vươn ra biển lớn”.

alt

Tham dự lễ hội có Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc; Bí thư Thành ủy Hà Nội Hoàng Trung Hải; các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước; lãnh đạo nhiều địa phương; cùng gần 3.000 đại biểu là đại diện các doanh nghiệp, nhân dân Thành phố Hải phòng, các du khách trong và ngoài nước. Lễ hội năm nay có màn diễu hành nghệ thuật của các mô hình lớn như: Tàu chở hoa phượng, mô hình biểu tượng về thành phố công nghiệp, biểu tượng về giao thông đô thị, mô hình doanh nghiệp, nông thôn mới... thể hiện từng bước phát triển lớn mạnh về mọi mặt của thành phố Hải Phòng.

Bên cạnh lễ hội chính, có khoảng 60 sự kiện khác như: Chương trình Ngày hội du lịch Hải Phòng; Triển lãm “Ảnh nghệ thuật Việt Nam 2017”; Thi hát Quan họ Bắc Ninh trên Đất Cảng; Khai trương đường bay Hải Phòng- Đồng Hới; Lễ khánh thành Dự án cầu Tân Vũ- Lạch Huyện; Các hoạt động quảng bá, xúc tiến, giới thiệu sản phẩm văn hóa, du lịch; Các hoạt động văn hóa, thể thao tại trung tâm thành phố và các quận. Thông qua lễ hội, hình ảnh về thành phố và con người Hải Phòng được quảng bá rộng rãi tới bạn bè trong nước và quốc tế, nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư, xây dựng thương hiệu và phát triển du lịch; tạo không khí phấn khởi, nâng cao chất lượng đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân.

MT

Địa chỉ nhà tưởng niệm Basho ở Tokyo

Đến Tokyo- Nhật Bản; mời các bạn hãy dành thời gian đến thăm nhà tưởng niệm Basho- người sáng lập trường phái thơ Haiku. Matsuo Basho (1644-1694) là Thiền giả Thi sĩ lỗi lạc của thời Edo Nhật Bản, tên thật là Matsuo Munefusa, là con trai út thứ bảy của một Samurai cấp thấp phục vụ lãnh chúa thành Ueno.

alt

Basho được thừa nhận là người phát triển những câu đầu (phát cú) của thể renga (liên ca) có tính hài hước gọi là Renga no Haikai thành một thể thơ độc lập mang âm hưởng sâu thẳm của Thiền đạo là Haiku. Mùa xuân năm 1679, Matsuo Basho được phong tước hiệu Sosho- bậc thầy dạy thơ Haiku. Năm sau ông dời đến một túp lều bên sông Sumida và ở đây, có đệ tử mang tặng cây chuối- một giống cây đương thời chỉ có ở Trung Hoa. Ngay tức thì, nhà thơ say mê nó và đem trồng trong sân nhà. Khách đến thăm gọi nhà ông là "Ba Tiêu Am" (Basho-an).

Đến năm 1693, Basho quyết định đóng cửa sống cô tịch không tiếp khách, và người ta nói rằng cánh cửa nhà ông chỉ mở ra khi có một biến cố, như khi hoa triêu nhan nở bên hàng dậu. Thời gian này, cuộc đời và thơ ca của ông hướng đến một lý tưởng gọi là karumi, tức sự nhẹ nhàng thanh thoát tìm thấy ngay giữa cuộc đời ô trọc.

Mùa xuân 1694, Basho đi thăm phương Nam mà đích đến là Osaka ở đảo Kyushu theo lời mời thành khẩn của một đệ tử. Trên đường đi ông trở bệnh nặng tại một lữ quán ở Osaka. Đệ tử xin ông làm bài thơ từ thế, ông đáp: "thơ lúc bình sinh đã là bài từ thế rồi", và viết:Đau yếu giữa hành trình/ chỉ còn mộng tôi phiêu lãng/ trên những cánh đồng hoang”.

Basho mất vào ngày 12/10/1694 tại Osaka. Chừng ba trăm học trò đã đưa thầy đến nơi an nghỉ cuối cùng. Cho dù được chôn cất trong một ngôi chùa, Basho được phong thần trong nhiều ngôi đền thờ Thần đạo, thậm chí có đền còn lấy tên theo một câu thơ của ông.

Địa chỉ nhà tưởng niệm Basho ở Tokyo:
1 Chome 6-3 Tokiwa-Kotoku- Tokyo 135-0006
(cạnh sông Sumida, gần cầu shinobashi  新大橋).
Fone: 03- 3631-1448

135-0006 東京都 江東区、常盤 1-6-3 
隅田川 と新大橋 に 近いところ。

MT

Dấu tích của nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu tại Đền Tiên Nga thành phố Hải Phòng

Ngày 2/5/2017, phóng viên trang web haikuviet.com đã có lịch thăm và làm việc với BQL di tích lịch sử văn hóa Đền Tiên Nga tại số 53, phố Lê Lợi, TP Hải Phòng.

alt

Theo ông Đoàn Minh Hiệu- Phó Ban quản lý DTLSVH và ông Nguyễn Duy Thành- Thủ nhang Đền Tiên Nga: Đền Tiên Nga là nơi duy nhất ở miền Bắc nước ta ghi dấu phong trào Duy Tân- Đông Du. Một trào lưu tư tưởng yêu nước, cách mạng rộng lớn đầu thế kỷ XX, do chí sĩ Phan Bội Châu khởi xướng và lãnh đạo. Trong phong trào Duy Tân- Đông Du do Phan Bội Châu lãnh đạo. Có những lần xuất dương sang Nhật, cụ Phan Bội Châu và các chí sĩ, thanh niên đã được ông Lý Tuệ (Nguyễn Hữu Tuệ) người làng Gia Viên giúp đỡ bí mật nuôi giấu ở Đền Tiên Nga để xuống biển đi tầu. Vì vậy tại đền Tiên Nga hiện nay nhân dân lập ban phối thờ các vị tiên hiền trong phong trào Duy Tân- Đông Du để tri ân công lao vì dân, vì nước của các vị chí sĩ.

alt

Nhà yêu nước Phan Bội Châu (1867- 1940) đã sống những năm tháng ở Đền Tiên Nga cùng các thanh niên Việt Nam tiên tiến bấy giờ, do thủy thủ tầu viễn dương Nguyễn Hữu Tuệ tin cẩn nuôi dấu và đưa dần sang Hương Cảng, sang Nhật. Khi chính quyền thực dân bắt cụ Phan từ Nhật về Hải Phòng, nhân dân chí sĩ đã tổ chức chào đón cụ và đòi nhà cầm quyền Pháp ân xá. Sau phiên tòa ngày 25/11/1925, chính quyền thực dân đưa cụ Phan từ Hải Phòng về Huế giam lỏng đến khi cụ mất vào ngày 29/10/1940. Thời gian sống ở Đền Tiên Nga, TP Hải Phòng, cụ Phan Bội Châu đánh giá rất cao công lao của ông Nguyễn Hữu Tuệ, gia đình ông Tuệ có 1.040 m2 đất hiến cho nhân dân xây dựng Đền Tiên Nga.

alt

Hiện ở Hải Phòng có phố Nguyễn Hữu Tuệ ở phường Gia Viên, quận Ngô Quyền; và có phố Phan Bội Châu ở phường Phan Bội Châu, quận Hồng Bàng và trên phố Phan Bội Châu có trường THCS Phan Bội Châu. Hiện bức ảnh cụ Tuệ ở ban thờ còn lưu bút tích chí sĩ Phan Bội Châu bằng chữ Hán:

Quân chi chiến tướng/ Quân xu nghĩa nhược khát/ Cấp nạn vong tử/ Đầu quốc sự phàm thập niên/ Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Phan Chu Trinh, Cường Đế, Nguyễn Thượng Hiền dĩ cập Đông Du chi thiếu niên giai do quân mật tống, sự tiết bị tù, kỳ tử nhi bất cải;

Nghĩa là:

Bạn là chiến tướng/ Bạn theo việc nghĩa như khát nước/ Gặp nạn quên chết, theo việc nước đến chục năm/ Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Phan Chu Trinh, Cường Đế, Nguyễn Thượng Hiền cùng những thiếu niên tham gia Đông Du xuất dương đều do bạn bí mật đưa đi. Việc bại lộ, bị tù đầy, bị tra tấn đến chết không đổi chí”.

MT

Góc khuất hoa thầm- nhớ thầy Lưu Đức Trung

Hồi còn ngoài này, thầy Lưu Đức Trung ở khu tập thể Giảng Võ. Căn hộ trên tầng năm nhà A6, lưng quay ra hồ. Mặt tiền cũng chuồng cọp lồng sắt. Cũng cửa sắt hàn thêm, chặn từ đầu hành lang. Cũng khoét một lỗ vuông trên cửa pano để giấu khóa phòng trộm. Trong nhà, cũng phòng khách kiêm phòng sách.

alt

Thầy Lưu Đức Trung

Cũng phòng ngủ thông thống ra bếp với xó vệ sinh. Đồ đạc thì chưa hết một cái liếc nhanh đã điểm mặt được khắp. Cái gì cũng tầm tầm, cũ cũ, dù được sắp xếp gọn, lau chùi kĩ. Ấn tượng để lại chả có gì thật đặc biệt. Nhà trí thức Hà Nội thời bao cấp hình như đều thế. Học thầy từ hồi sinh viên, nhưng phải khi đã vào cao học, đến nghe ké chuyên đề văn học Ấn Độ tại nhà, tôi mới có dịp tận mắt thấy cuộc sống của thầy. Ông già tóc muối tiêu, dáng còm hom, lọ mọ đẩy cái xe đạp tàng ngược năm tầng nhà, chục khúc cầu thang, lọ mọ mở khóa, lọ mọ nấu ăn, lọ mọ làm việc, lọ mọ tắt đèn, lọ mọ buông màn… đến mấy chục năm trời, cứ một mình thế, trong cái chốn này đây. Về sau, khi đã thân tình, ngó nghiêng nhiều hơn, tôi hay bước ra sau nhà. Và thích nán lại ở đấy. Bởi phía sau là một ban công nhỏ, trông ra mặt hồ, rất mát. Nép bên trái ban công, có một khóm quỳnh quanh năm tươi tốt, lá già xanh rì, lá non xanh mỡ, lá nào cũng vươn về phía hồ. Cứ đứng trong góc khuất nở những hoa thầm. Từ xa trông về căn hộ này, thì nó là khóm xanh duy nhất, chìm giữa tấm lưng bê tông ken đặc những lồng sắt của tòa nhà. Mãi đến tận gần đây, mỗi lần đi qua hồ Giảng Võ, tôi vẫn cứ ngước lên tìm kiếm cái địa chỉ xanh ấy, nhưng không còn thấy nữa. Có lẽ, từ độ thầy chuyển vào Nam, căn nhà sang tay chủ mới, khóm quỳnh đó đã bị dẹp đi rồi.
*
Hồi đầu, mỗi khi đến chơi, tôi chưa mấy chú ý đến tập lịch tranh treo tường Nhật Bản đã cũ, do ai đó tặng thầy. Phần vì tâm trí một giảng viên trẻ của tôi luôn bị giá sách của các bậc thầy cuốn hút. Phần vì tôi hiếu kì hơn với cặp mặt nạ kịch nô treo trên tường, cùng những bát hoa tươi thường cắm theo lối hoa đạo trên bàn viết của thầy. Về sau mới để tâm, khi thấy tập lịch từ năm này sang năm khác vẫn treo ở đó. Và tuy nhiều tờ mà vẫn chỉ thấy có một tờ ấy lật ra treo mãi thôi. Đó là tờ có bức thư pháp, viết hai chữ “Thủy Nguyệt”, theo lối chân. Nhác trông, dễ lẫn vào đồ đạc khác. Thủy nguyệt dù hiểu là “trăng in bóng nước” hay “trăng trong đáy nước” thì cũng vẫn là một vẻ đẹp rất Thiền. Nó chứa đựng ý niệm sắc sắc không không thâm hậu của Phật lý. Một vẻ đẹp ẩn chìm. Treo lâu ở đó vì thầy trân trọng kỉ vật của một người đặc biệt nào, hay đơn giản là nó bị bỏ quên ? Tôi không rõ. Còn tôi, chả hiểu sao, cứ nhìn bức Thủy Nguyệt ấy, thì lại nhớ tới khóm quỳnh ngoài ban công sau nhà.
Có thể chỉ do cái thói quen liên tưởng vơ vẩn của tôi. Mà cũng có thể vì cái lần đầu tôi nhận ra nó. Ấy là hồi tôi còn ở núi Bò, cách hồ Giảng Võ của thầy không xa. Cuộc sống bấy giờ thật gieo neo vất vả. Chuyện áo cơm rát hơn chữ nghĩa. Ai ai cũng phải bươn chải. Thầy trò tuy gần, nhưng cũng thỉnh thoảng mới qua chơi được. Lần ấy, thầy nhắn : “Tối nay, khoảng 8 giờ, qua mình chơi nhé. Nhớ rủ cả Văn Giá và Mai Văn Hai nữa ! Mình sẽ tặng các cậu một đêm thú vị!”. Được tin, tôi vừa mừng vừa phân vân. Hỏi dò Văn Giá xem là sự kiện đặc biệt nào đấy, hắn cũng chả biết gì hơn. Nghĩ lắm giả thiết, đến cuối cùng thì chúng tôi đoán đại: chắc có khách xa đến, nên tiệc tùng lễ lạt gì đây.
Nhưng, khi leo hết mười lượt cầu thang, đẩy cửa hành lang, nhòm qua cửa sổ, thì cả ba chúng tôi đều ngẩn người. Trong nhà chả có khách khứa tiệc tùng gì. Chỉ có một mình thầy đang ngồi đợi bên mép tấm chiếu trải giữa sàn. Chính giữa chiếu là một tờ báo phẳng phiu, trên đó đã bày sẵn một bình rượu nhỏ, bốn chiếc li bé, bốn cái rĩa bạc, một đĩa trái cây cắt sẵn và một đĩa lạc rang. Tất cả đã được sắp đặt tươm tất. Lạ nữa, bên cạnh, có chiếc bình pha lê không hoa, chứa nước đến phân nửa. Chết rồi ! Sinh nhật thầy rồi. Chiếc bình kia chẳng phải đang chờ hoa sinh nhật sao ? Giờ làm sao còn kịp lui để tìm hoa được nữa, thầy đã thấy cả rồi. Ba chúng tôi nhìn nhau, tiến cũng dở, thoái càng dở. Thôi đành, chúng tôi cứ tay không bước vào, mặt rất sượng sùng. Nhưng, thầy chả để ý. Không mời chúng tôi ngồi, cứ thế thầy dẫn thẳng ra nhà sau. Vị khách bất ngờ nào đang nấp sau nhà chăng ? Vừa theo ra, tôi vừa đoán già đoán non. Tới ban công, thì đột nhiên thầy với tay tắt phụt ngọn điện, khiến cả bọn đều giật mình. Bóng tối bưng lấy mắt. Nhưng lập tức chúng tôi “Ồ” lên, vì vỡ ngay ra trước mắt một hồ trăng sóng sánh. À, ra thế ! Thầy muốn tặng chúng tôi một hồ trăng từ ban công này. Tôi đã nghĩ, chắc thầy muốn gửi một thông điệp: điện thấp che khuất trăng cao, nên muốn thưởng trăng thì cần dẹp điện đây. “Các cậu thấy rồi chứ ?”. “Vâng ! Trăng đẹp quá ! Hồ đẹp quá ! Hôm nay mười ba à thầy ?”. “Đúng. Mười ba. Nhưng, các cậu chưa thấy gì à ?”. Tôi chột dạ. Thì thấy trăng trời với trăng hồ rồi thôi. Chẳng phải đây chính là một quà tặng độc đáo sao ? Thầy còn muốn chúng tôi thấy gì nữa nhỉ ? Còn đương lúng túng chưa hiểu ra sao, thì thầy nhắc: “Bên trái này cơ”. Chúng tôi nhìn sang và cùng thốt lên: “Hoa quỳnh !”. Trong lùm tôi tối mờ mờ của khóm cây, đang rung rinh ba bông quỳnh, bông nào cũng hướng về phía trăng. Hai bông đã he hé. Một bông mới chỉ tách các tua râu hồng tía bao vỏ ngoài như tự bóc từng nan quạt. Bông nào cũng một dáng cong cong y như chiếc saxophone bé xíu được ngậm hờ trên môi lá. Không phải gió đang lay động, mà chính hoa đang cựa mình. Từng bông cứ run lên bởi một luồng sống mơ hồ mà mãnh liệt đang chuyển động trong hoa. Hẳn cái nguồn hương tích trong lòng mỗi bông hoa đã bức xúc lắm lắm, phút này đây đang đòi thoát ra ngoài. Lúc ấy, chợt đến trong tôi một hình dung ngộ nghĩnh: ba đóa quỳnh đang cử khúc tam tấu để chào trăng đây. Mà thế này thì, tôi biết, chỉ lát nữa thôi, mỗi chiếc saxophone hoa kia sẽ biến hình thành một vũ nữ trắng muốt, sẽ thầm khiêu vũ với trăng cho kì đến lả mình. Và, bấy giờ, tôi mới vỡ lẽ về món quà tặng ý vị của thầy.
Không thể bày rượu ở đây, vì ban công quá chật. Cũng không thể mang cả khóm vào nhà, bởi quỳnh trồng trong bồn. Thầy đành cắt vào nhà cả thân quỳnh có bông hoa sắp nở. Thì ra là như thế, chiếc bình trong kia đang đợi bông hoa này. Phải loay hoay rất lâu và phải dùng đến bàn chông với chiếc kim đan làm xương tựa nữa, thầy trò chúng tôi mới cắm xong nhành quỳnh nguyên lá vào chiếc bình pha lê. Đêm ấy, theo nhịp trăng lên, quỳnh cứ mở dần những lớp cánh trắng mê muốt. Hương cứ tỏa ra từng làn ngan ngát. Mật cứ ứa ra trên đài nhụy từng giọt tinh trong. Phấn vàng cứ từng hạt li ti thầm rắc xuống, vương cả vào li rượu gần. Không dừng, không nghỉ. Đến tàn canh thì kiệt sức, nó từ từ rũ xuống, kết thúc cái đời hoa quá ư bạc phận của loài quỳnh. Bọn vô tâm chúng tôi thì mải bình phẩm. Còn thầy thì nâng li rượu vui mà cứ phảng phất nụ cười buồn. Cho đến lúc ra về, tôi mới chợt nhận ra, ngay phía sau thầy là những nét tỏ mờ của hai chữ “Thủy Nguyệt”.
*
Trong khoa Văn, với lối nói chầm chậm, thủ thỉ, nghiêng về chia sẻ, không hoạt ngôn, không chém gió, không lên đồng, không hoa mĩ,… thầy Trung chưa hẳn là một “hot teacher” trên bục giảng. Ở tổ văn học nước ngoài, thuộc thế hệ thầy, những cái tên hot phải kể đến là Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Hoàng Tuyên, Nguyễn Khắc Phi, Phùng Văn Tửu, Đặng Anh Đào… Nhưng chắc chắn thầy là một “hot teacher” sau bục giảng. Không biết có phải do những nền văn học thầy mê mải nghiên cứu, do cái tạng bẩm sinh, hay do những hoàn cảnh riêng, mà thầy có một lối sống khá thiền. Nhiều lúc tôi cứ nghĩ thầy như một thiền giả trong đời thường. Bình thản với khốn khó. Bình thản với nhiễu nhương. Bình thản với cả nỗi buồn riêng. Lúc nào cũng một cung cách ân cần tinh tế. Với ai cũng một ứng xử chu đáo nho nhã. Nét hiền hậu thân thiện luôn tỏa ra từ mọi cử chỉ lời nói, mà bất cứ sinh viên nào từng học thầy, gần thầy đều được nhận và được hưởng. Căn phòng đơn sơ của thầy chả mấy khi vắng hoa tươi bên những trang sách mở, và chẳng khi nào vắng bóng những sinh viên gắn bó với thầy. Chủ nhân bao giờ cũng một nụ cười hiền có phần bẽn lẽn. Có lẽ thầy Trung là ông giáo được học trò lui tới nhiều nhất khoa. Nam sinh cũng được thầy giúp đỡ, cưu mang. Nhưng nữ sinh quấn quýt nhiều hơn. Chúng qua lại thăm nom, tụ bạ, có khi còn chợ búa giúp thày. Sự quấn quýt hồn nhiên ấy cũng phần nào giúp cho đời sống độc thân của thầy đỡ phần cô quạnh. Thế mà, nghe đâu có một cô giáo đang được đám học viên mai mối cho thầy, cũng kết thầy lắm, nhưng đến chơi cứ thấy vương vướng bởi đám nữ sinh tươi trẻ ríu rít. Một lần, lại chứng kiến một em nào đó đang gội đầu với chậu nước bồ kết được vò rất kĩ nữa, thế là cô giáo… bỏ đi luôn. Ôi, cái sự nghi kị lầm lẫn đã tự làm mất đi cơ hội của mình. Chắc về sau, nếu hiểu rằng thầy vốn coi lũ học trò như con cái trong nhà, hẳn cô ấy phải tiếc lắm. Còn thầy, dù bị hiểu oan, cũng vẫn bình thản thế. Và chẳng vì thế mà thầy đổi thay lối sống của mình. Mà giả có đổi, cũng chả đổi được. Đó là cái nết của thầy rồi.
Hình như đây cũng là cái cách đến với văn chương riêng của thầy Trung. Tôi không rành lắm về chuyên ngành của thầy. Nhưng đọc những gì thầy viết thì thấy, dù thầy đi vào nền văn học đầy binh đao của Tàu, nền văn học chuộng tâm linh của Ấn, hay nền văn học của Samurai và anh đào Nhật, dù Lỗ Tấn hay Tagore, dù Kawabata hay Basho, thì đều bằng một cốt cách ấy. Thầy mải mê giới thiệu từng nền văn học đó, từng tác giả đó bằng cái biết của một người chi chút, nâng niu, đồng cảm. Văn của thầy trong những công trình kia không phải thứ văn sắc sảo của những đột phá. Không phải thứ văn kiêu hùng của những tư tưởng muốn áp đặt. Cũng không phải thứ văn kiêu sang hoa mĩ của những phong cách muốn tỏ sự độc đáo. Trái lại, là thứ văn bình dị mà tinh, say mê mà ẩn của một ngòi bút trọng tình. Văn thủy nguyệt.
*
Các thế hệ sinh viên Văn khoa Sư Phạm và giới học thuật phần lớn chỉ biết về thầy Lưu Đức Trung là một chuyên gia Văn học châu Á. Thì tất nhiên, thầy là một giáo sư đa chuyên ngành hàng đầu của các nền văn học châu này mà lị. Mấy chục năm trên bục giảng đại học, thầy có nói gì khác ngoài văn học châu Á đâu. Hồi những năm 70 là chuyên gia văn học Tàu. Những năm 80, văn học Ấn. Những năm 90, văn học Nhật. Các giáo trình về những nền văn học kia một tay thầy dàn dựng và triển khai. Từ điển Văn học phần này một tay thầy soạn. Sách giáo khoa, sách tham khảo phần này cũng do thầy chủ trương. Học trò thầy trực tiếp đào tạo đều thành chuyên gia về các nền văn học này. Tuyển tập thầy tự tay gom lại tổng kết cuộc đời học thuật cần mẫn của mình, làm thành một quyển dày dặn bề thế, là “Đi vào vườn hoa văn học châu Á”… Thế nên, không ít người cứ đinh ninh thầy Trung chỉ là một giảng viên đại học, một nhà khoa học thôi.
Nhưng, ai gần thầy Trung đều thấy căn cốt thầy là một nghệ sĩ. Kiểu nghệ sĩ - thiền giả. Căn cốt ấy không chỉ quyết định sắc thái học thuật suốt đời thầy. Mà cái phần chìm khuất và bền vững này khi vào Sài Gòn còn mang lại cho thầy một cương vị mới mà đến nay hẵng còn chưa được người trong giới văn chương biết nhiều: thi sĩ thơ Haicu, hơn thế, thủ lĩnh thơ Haicu Việt.
Nhớ lần kỉ niệm 60 năm thành lập Đại học Sư phạm Hà Nội, nhà trường muốn có một tuyển tập sáng tác lí luận phê bình của những tác giả văn học trưởng thành từ cái nôi này để “show hàng”. Tập sách về sau có cái tên rất oách “Từ bục giảng đến văn đàn”. Tôi cũng được mời tham gia vào ban tuyển và phải viết lời giới thiệu. Họp hành, bàn thảo, thế mà cũng nát nước. Tiêu chí tuyển rất oái oăm. Với sáng tác thì mở. Cứ người nào có sáng tác được chú ý một chút, thì tuyển. Với nghiên cứu phê bình lí luận thì đóng. Chỉ ai là hội viên Hội nhà văn, mới được tuyển. Rất nhiều thầy cô nổi tiếng trong học thuật mà bị loại, chỉ vì chưa là hội viên. Khi điểm đến thầy Trung, tôi quyết định phải chiến đấu. Thầy dứt khoát phải được tuyển. Nếu tiêu chí cứng nhắc kia khiến thầy không được tuyển phần học thuật, thì phải tuyển mảng sáng tác. Nghe tôi đề xuất, có vị ngạo mạn đã cười nhạt : “Cụ Trung thì sáng tác gì ?”. Dù rất bất bình, nhưng tôi vẫn phải kiềm chế để thuyết phục. Tôi nói về thơ Haicu, về hoạt động sáng tác của thầy. Rằng, đến giờ, thầy đã cho in tập “Tươi mãi với thời gian” thứ ba trong mạch thơ Hacu của mình. Rằng, câu lạc bộ thơ Haicu do thầy sáng lập, tuy ở Sài Gòn nhưng đã thu hút người yêu thể loại này trên cả nước. Rằng, dưới sự điều hành của thầy, mươi năm nay tổ chức vẫn sinh hoạt đều kì, chuyên san Haicu ra đều đặn, lại từng phối hợp với Lãnh sự quán Nhật Bản tổ chức thành công cuộc thi thơ Haicu tại Việt Nam. Rằng, gắn bó với câu lạc bộ này có không ít tên tuổi như Nguyễn Bao, Nhật Chiêu, Quang Huy, Nguyễn Hoa hay Đoàn Thị Thu Vân, Lê Tự Hiển, Phùng Hoài Ngọc, Vũ Tam Huề, Đặng Kim Thanh, Trần Nguyên Thạch, Vũ Xuân Trường, Trúc Anh, Nguyễn Thị Bích Thúy, Mai Liên, Nguyễn Thị Kim … Rằng, từ sau thời của Ngô Văn Tao, Trịnh Công Sơn, Bùi Giáng, những người làm thơ Haicu rồi dịch ra lục bát đến nay, có lẽ, câu lạc bộ của thầy là có tính tổ chức cao nhất. Nó đang truyền bá, tiếp biến một trong những đặc sản của văn hóa Nhật Bản vào đời sống thi ca Việt. Và, cuối cùng, tôi quyết định phải lẩy ra một bài. Đúng, chỉ cần một bài đặc sắc thôi, người làm thơ cũng đã thành thi sĩ, đã có chỗ đứng rồi. Thơ Haicu vẫn được ví như những viên sỏi gieo xuống mặt nước. Nhưng nó không phải phép cộng thô sơ của những viên sỏi ngôn từ và những quầng sóng dư ba. Tinh vi hơn, thơ Haicu phải là cái khoảnh khắc những viên sỏi chạm vào mặt nước xô dậy những vòng sóng, làm loang xa những viền sóng. Cái khoảnh khắc chỉ những ai có tâm hồn nghệ sĩ thiền giả mới có thể đón nhận và thấu cảm. Nó là thủy nguyệt. Và, có ngẫu nhiên không, khi thầy viết đã mấy tập thơ, tôi yêu khá nhiều bài trong đó, thế mà cái bài tôi thuộc nằm lòng, cái bài bật ngay lên trong tôi lúc ấy, cũng là bài thầy viết về hoa quỳnh ? Có lẽ, thầy đã phải chắt ra từ cả một cuộc đời lặng lẽ sống với khóm hoa sau nhà, chứng kiến bao phận hoa. Cho nên, chỉ đôi lời thôi mà thơ đã ôm trọn số kiếp bạc mệnh của loài quỳnh :
Chiều hé nở
Khuya rạng rỡ
Sáng rã rời
Quỳnh ơi !
Người Việt làm thơ Haiku nhiều. Nhưng thơ Haiku nhập được vào mĩ cảm của người thơ Việt đến độ nhu nhuyễn thì chưa nhiều. Bài như thế này, chẳng phải là của hiếm sao.
Cuối cùng thì trong tuyển tập đã có bóng quỳnh ấy. Nó lẫn trong tập sách dày ngót nghét ngàn trang. Như trăng trong đáy nước.

Chu Văn Sơn

(Nguồn: Vanvn.net)

Chúng con như bầy chữ- Kính viếng Thầy Lưu Đức Trung

alt

Văn Giá

(Trưởng khoa Viết văn, Báo chí- Đại học Văn hóa Hà Nội)

CHÚNG CON NHƯ BẦY CHỮ
(Kính viếng Thầy Lưu Đức Trung)

Thầy đã rời bỏ mặt đất này rồi
thuốc thang rơi lăn lóc
rơi tuột những ánh mắt
lỏng tuột những bàn tay
Thầy đi...

Con vào trang facebook của thầy
còn nguyên đấy những bài thơ khẽ thở
còn nguyên đấy những bức hình động cựa
còn nguyên những suy tư

Còn nguyên "Ông già Haiku"
tóc trắng như mây
những lời rủ rỉ
nhẹ như hơi thở
nhẹ như hoa rơi

Đám học trò bên thầy
như bầy chữ trong trang bản thảo
ngoan hiền và bướng bỉnh
thầy ân cần từng con chữ li ti

Thầy đã đi rồi
hoa trên cây ngơ ngác
chữ trên bàn ngơ ngác
học trò như có lỗi ...

Thầy đã đi rồi
chỉ tuột những viên thuốc
không tuột những ánh mắt
không tuột những bàn tay
không tuột những con chữ
Thầy đi...

Hà Nội, nghe tin dữ: thầy đã đi xa, 2/5/2017

Học trò VG

(Nguồn: Fb Văn Giá)

Những dấu tích của nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu trên đất Cảng Hải Phòng

Phan Bội Châu sinh ngày 26/12/1867, tại Nam Ðàn, Nghệ An. Năm 2017 chúng ta đã tổ chức kỷ niệm 150 năm ngày sinh nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu. Thuở nhỏ, Phan Bội Châu theo học chữ nho, ông đậu giải Nguyên kỳ thi hương năm Canh Tý (1900). Ông là người đã gây dựng phong trào cách mạng theo xu hướng dân chủ tư sản ở đầu thế kỉ XX.

alt

Ðầu năm 1904, Phan Bội Châu và hơn 20 đồng chí lập ra tổ chức yêu nước gọi là Duy Tân hội. Ðầu năm 1905, Phan Bội Châu sang Nhật tổ chức phong trào Ðông Du. Tháng 3/1909 tổ chức Ðông Du bị giải tán, ông bị trục xuất khỏi Nhật, phải sang Trung Quốc. Ông đứng ra thành lập “Việt Nam quang phục hội”. Ngày 24/12/1913, ông bị bắt giam, đến năm 1917 mới được ra tù. Ông đã cải tổ “Việt Nam quang phục hội”, thành lập “Việt Nam quốc dân Ðảng”;

Phan Bội Châu bị bắt lại vào năm 1925; Chính quyền thực dân đưa ông từ nước ngoài về Cảng Hải Phòng. Người thân tín bố trí ông lưu trú ở Đền Tiên Nga trên phố Lê Lợi, TP Hải Phòng một thời gian. Đây là những ngày Phan Bội Châu sống ở đất Cảng Hải Phòng. Sau đó chính quyền thực dân bắt ông phải về sống ở Huế. Từ năm 1926, Phan Bội Châu sống trong cảnh “cá chậu chim lồng”. Thời gian này công việc duy nhất của ông là sáng tác. Nhiều tác phẩm được ra đời vào những năm cuối đời của Phan Bội Châu.

Ngày 28/4/2017, tôi đã có cuộc trao đổi với Nhà thơ Haijin Đinh Nhật Hạnh- Chủ tịch CLB Haiku Việt trực thuộc Hội Hữu nghị Việt Nam- Nhật Bản. Nhà thơ Đinh Nhật Hạnh sinh năm 1928 tại Nghệ An; Vào năm 1938, Đinh Nhật Hạnh 10 tuổi, ông đã tới Huế. Đứng bên Bến Ngự, mọi người đã chỉ cho ông thấy chiếc cổng và ngôi nhà mà cụ Phan Bội Châu lúc bấy giờ đang ở. Đầu năm 2017, Nhật Hoàng sang thăm Việt Nam đã tới thắp hương trước khu lưu niệm nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu. Phan Bội Châu mất ngày 20/10/1940.

Về sự nghiệp thơ văn: Trước khi ra nước ngoài, Phan Bội Châu có viết một số tác phẩm, trong số đó có những tác phẩm tiêu biểu : Hịch Bình Tây thu Bắc, Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư, Song Tuất lục. Thời gian hoạt động ở nước ngoài Phan Bội Châu sáng tác nhiều tác phẩm và gửi về nước, tiêu biểu như: Hải ngoại huyết thư, Việt Nam vong quốc sử, Tân Việt Nam, Khuyến quốc dân tu trợ du học văn. Thời kỳ ông bị giam lỏng ở Huế, số lượng tác phẩm ra đời trong giai đoạn này rất lớn. Tác phẩm “Phan Bội Châu niên biểu” được xem là có giá trị nhất. Bên cạnh đó phải kể đến Nam Nữ quốc dân tu tri, Thuốc chữa dân nghèo, Cao đẳng quốc dân, Lời hỏi thanh niên, Luân lý vấn đáp và hơn 800 bài thơ Nôm các loại, mấy chục bài phú, văn tế, tạp văn.

Những dấu ấn của nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu ở đất Cảng Hải Phòng hiện có: 1 là: Bến Cảng nơi chính quyền thực dân đưa cụ Phan Bội Châu từ nước ngoài về Hải Phòng; 2 là: Dấu tích cụ Phan Bội Châu trong Đền Tiên Nga trên phố Lê Lợi, TP Hải Phòng nơi cụ ở những ngày trước khi chính quyền thực dân đưa cụ về Huế; 3 là: Hải Phòng có một phường (và đây là phường duy nhất trên toàn quốc) mang tên cụ Phan Bội Châu; 4 là: Ngôi trường PTCS số 92 phố Phan Bội Châu, TP Hải Phòng được mang tên nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu; 5 là: Đề xuất nghiên cứu dựng tượng nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu trong khuôn viên kiến trúc trường THCS Phan Bội Châu trên phố Phan Bội Châu, phường Phan Bội Châu, quận Hồng Bàng, TP Hải Phòng để ghi nhớ công ơn và là di tích văn hóa để các thế hệ sau chiêm bái, học tập, trân trọng.

Minh Trí

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay161
mod_vvisit_counterHôm qua330
mod_vvisit_counterTất cả75250
Hiện có 45 khách Trực tuyến